Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn- danh nhân văn hóa, nhà thơ yêu nước của Hải Phòng

Lê Khắc Cẩn (có sách viết là Lê Khắc Cần) sinh năm Quý Tỵ (1833) tại làng Hạnh Thị, tổng Đại Phương Lang, huyện An Lão, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) trong một gia tộc lớn. Năm mất của ông được tác giả sách Quốc triều khoa bảng lục là Cao Xuân Dục – một đại thần triều Nguyễn ghi là năm 1874. Theo đó cụ Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (in năm 1962) và sách Các nhà khoa bảng Việt Nam do PGS. TS Ngô Đức Thọ chủ biên in năm 2006 đều ghi năm mất của Lê Khắc Cần là năm Giáp Tuất (1874).

alt
Đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn

Các tài liệu địa phương quê hương Lê Khắc Cần thì cho năm ông mất là 1869 (36 tuổi) nhưng theo tôi ông không thể mất sớm như thế vì dựa vào các sáng tác văn học của Lê Khắc Cẩn còn lưu ở Viện Hán Nôm thì thấy ít nhất ông phải thọ tới 60 tuổi. Bằng chứng như sau:

Năm 1882, sau khi Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu tự sát để bảo toàn khí tiết trước quân xâm lược Pháp, Lê Khắc Cẩn có bài thơ “Chế đài Hoàng tướng công mộ tiền khốc” (Khóc trước mộ Tổng đốc Hoàng tướng công) - (bài dịch số 23 trong Hải Hạnh thi tập của ông). Nghĩa là Lê Khắc Cần còn sống sau cả năm 1874 mà Quốc triều khoa bảng lục ghi

Ngoài ra, ông Ngô Đăng Lợi, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Hải Phòng căn cứ vào chính các bài Khai bútHậu bạt trong Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần còn lưu lại được tại Viện Hán Nôm, tin rằng năm mất của Lê Khắc Cẩn là 1889. Trong cuốn “Thơ văn Lê Khắc Cẩn” của Nxb Hải Phòng ấn hành năm 2003, ông Ngô Đăng Lợi và Lê Trọng Yêm (hậu duệ đời thứ 4 của dòng họ Lê ở Hạnh Thị), đồng tác giả cuốn sách đã khẳng định như sau: “Nay đối chiếu các tác phẩm do chính Lê Khắc Cẩn viết, ghi rõ hoạt động từng năm và năm nào cũng có bài thơ khai bút để lại. Chúng tôi tin rằng Lê Khắc Cẩn sinh năm 1833 và mất năm 1889 (?)” (Lời mở đầu sách).

Tôi đã xem lại Hải Hạnh thi tập mà tác giả viện dẫn và thấy như sau:

Tết năm Kỷ sửu 1889 Lê Khắc Cần có bài thơ “Kỷ sửu mạnh xuân tam nhật thí bút” (Khai bút đầu xuân ngày mồng ba năm Kỷ Sửu) - bài dịch số 99 trong Hải Hạnh thi tập:

Nguyên Đán đệ tam triêu

Lập xuân tiền nhất nhật…

(Tạm dịch: Hôm nay là sáng mồng 3 tháng giêng Tết nguyên Đán, cũng là sáng trước tiết lập xuân một ngày)

Và đến ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Sửu 1889 Lê Khắc Cần dù mệt nhưng vẫn gượng duyệt sách Du sơn ký cho ông Thái Viên và đề bài hậu bạt với 4 câu thơ dịch như sau:

“Nghìn đồi muôn hốc giấy ghi hình,

Một bức họa đồ thật phân minh.

Thái Viên vẽ được màu non nước.

Có cả nguồn đào cửa động xinh!”

Cuối thu năm 1889 ông ốm nặng ở Hà Nội. Theo Hải Hạnh thi tập thì những bài thơ Lê Khắc Cần viết cho Diên Sơn và Thái Viên ông là những bài kết thúc tác phẩm của ông trong thời gian ông sống tại Hà Thành.

Tuy nhiên trong Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần còn có một bài thơ đề là Lục thập tự thuật (tự thuật 60 tuổi) – bài dịch số 36, chép trong chùm thơ làm năm 1882. Nếu người sao chép không lầm lẫn thì hoặc là Lê Khắc Cẩn sinh năm Quý Mùi 1823 (chứ không phải năm 1833 như các tài liệu khẳng định) thì đến năm 1882 ông mới 60 tuổi (1823 – 1882), hoặc là ông sinh năm 1833, mất năm Quý Tỵ (1893) vì đến năm này ông mới 60 tuổi (1833 – 1893) ? Hai câu đầu của bài “tự thuật 60 tuổi” được dịch xuôi như sau:

“Tuổi tác cứ đi từ từ, thế mà đã bắt đầu tròn một “lục giáp” rồi đó,

Đời mình xông pha gió bụi đã trải bao nhiêu năm”…

Theo tôi, người dịch thơ Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần ít có khả năng ghi sai năm sáng tác các tác phẩm của ông. Nếu năm 1822 ông 60 tuổi thì năm sinh của Lê Khắc Cẩn phải là 1823. Và nếu lời khẳng định của ông Ngô Đăng Lợi và Lê Trọng Yêm nói trên về năm mất của Lê Khắc Cẩn là có cơ sở thì Song nguyên Hoàng Giáp họ Lê phải thọ tới 66 tuổi (1823-1889). Đây là một vấn đề cùng với các giả thuyết khác cũng cần làm rõ trong tiểu sử Lê Khắc Cẩn. Mong rằng các nhà nghiên cứu góp thêm tiếng nói cùng bàn luận.

Trong lịch sử Việt Nam thời nhà Nguyễn, Lê Khắc Cần là tiến sĩ Hán học duy nhất người Hải Phòng. Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp Lê Khắc Cẩn là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, thương dân, thanh liêm, chính trực. Ông còn nổi tiếng với tài văn chương mà sự nghiệp còn để lại với nhiều sáng tác: Văn chiếu biểu, văn sách, thơ, thư từ, câu đối.

Hiện viện Hán - Nôm còn lưu giữ nhiều tác phẩm của tiến sỹ Lê Khắc Cẩn như: Hải Hạnh văn phái, Hải Hạnh thi tập, Hải Hạnh thi tập văn và Miễn Trai văn tập…Ngoài ra ở thư viện Viện Hán-Nôm (Hà Nội) còn có cuốn “Song nguyên Lê phiên hầu thi văn” có lẽ cũng là các sáng tác của ông mà người đời sau sưu tầm biên soạn lại bởi tên sách phù hợp với học vụ, chức tước và họ của ông. Nội dung sách tập hợp các bài thơ, văn, đối trướng, thư từ, các bài biểu, tấu cần được giám định, biên khảo kỹ.

Với tài năng và đạo đức của Lê Khắc Cẩn, cùng những đóng góp cho nền văn học nước ta nửa sau thế kỷ 19, ngày 22-11-2003 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, một hội thảo khoa học về Lê Khắc Cẩn đã được tổ chức. Ông được suy tôn là danh nhân - nhà thơ yêu nước.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Lê Khắc Cần nổi tiếng thông minh, chăm học. Thân phụ ông là Lê Tường Vân, thân mẫu là Đoàn Thị Tường. Tương truyền cha ông phải làm nghề đóng cối xay để lấy tiền nuôi con ăn học.

Ở quê ông, dòng họ Lê còn nhưng là chi thứ nên không hiểu mấy về ông. Duy ở làng Nãi Sơn huyện Kiến Thụy - quê vợ ông, một số bậc cao niên còn nhớ một số truyền ngôn về Lê Khắc Cẩn.

Trong bài văn bia đặt tại đền thờ Lê Khắc Cẩn tại thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng có câu thuật lại tính cách của Lê Khắc Cẩn như sau “Tín nghĩa với bạn bè thì tha thiết chân thành; hiếu kính thờ tiên nhân thì rụt rè cẩn trọng”. Xem những bài thơ mừng, tiễn, từ biệt, họa thơ bạn của ông thì thấy nhận định về ông là đúng, Lê Khắc Cẩn đối với bạn bè thì tình nghĩa, chân thành, đối với người thế hệ trước thì khiêm tốn, trân trọng.

Lại nữa: “Đối với tôn sư, ông thường thư từ qua lại vấn an thầy, lại có khi bàn về thế vận, lòng yêu kính trước sau không đổi. Khi ông ra làm quan, lúc ở Kinh, khi ở phủ, giữ lòng liêm trực, dốc sức mẫn cán. Lúc làm quan ở phủ Xuân Trường ông thi hành nền chính trị huệ dân (ban ơn huệ cho dân), khuyến khích nông nghiệp, tương trợ những người đói nghèo, bệnh tật, khiến dân trong vùng thảy được nhuần ân đức. Cho nên vua yêu, dân mến, đồng liêu kính trọng. Rong ruổi trên đường làm quan, thi hành chính sự, ông dốc hết tâm sức lao khổ, làm rạng tỏ đạo sáng của kẻ bề tôi, là tấm gương lớn của nhà Nho vậy. Lại thêm giao du rộng với giới quan chức và trí thức, luôn giữ tín với bạn bè”.

Lê Khắc Cần là người học rộng, đọc nhiều sách Bách gia chư tử, lại theo học Tiến sĩ, Đốc học Lê Hữu Tạo, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Văn chương Lê Khắc Cần “Tứ thơ thì tinh thuần, lời văn thì cao nhã”. Thầy học từng khen ông “Trong giống chim có chim phượng, trong loài cá có cá côn” để ví chí khí học trò mình.

Ông thi hương khoa Ất Mão 1855 đậu giải nguyên trường thi Nam Định. Thi hội khoa nhâm tuất 1862 tại Huế ông đỗ Hoàng giáp. Trong cả hai kỳ thi này Lê Khắc Cần đều đỗ đầu nên còn được gọi là Song nguyên Hoàng Giáp.

Mới ba mươi tuổi đỗ Hội nguyên, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đã là người thành đạt. Trong kỳ thi Đình ông đỗ thứ nhì. Bài văn phúc hạnh (sau khi thi Đình) của ông được vua Tự Đức khen giản dị mà cứng, đầy đủ, linh hoạt, không kém gì bài của người đỗ đầu là Đình nguyên Nguyễn Hữu Lập. Ông được vua Tự Đức yêu mến đổi tên là Lê Khắc Nghị, lại giữ làm việc ở những cơ quan gần vua như Viện Tập hiền, Tòa Kinh diên, sau đó mới chuyển đi làm tri phủ Xuân Trường, án sát rồi bố chính tỉnh Nam Định.

Năm Tự Đức thứ 19 (1866) ông được điều về Kinh đô Huế thăng Thị độc học sĩ, Tham biện nội các sự vụ. Các bài thơ văn Tự Đức làm ra phần nhiều đều sai đem đến cho Lê Khắc Nghị đọc thể hiện sự tin tưởng của Vua đối với ông.

Ông nổi tiếng thanh liêm, cương trực. Khi làm án sát Nam Định, thấy thế lực khách trú chèn lấn các nhà buôn Việt Nam, ông đã kiên quyết chống lại. Bọn này căm tức đã âm mưu đầu độc ông nhưng không thành. Tuy làm quan coi về hình án đầu tỉnh mà nhà ông thanh bạch. Có người muốn lợi dụng mẹ ông để biếu xén đút lót nhưng ông kiên quyết chối từ và luôn khuyên mẹ đề phòng bọn xấu.

Lê Khắc Cẩn chứng kiến gần trọn nửa sau thế kỷ XIX, thời kỳ đất nước gặp nhiều gian truân bởi thực dân Pháp xâm lấn. Cảnh triều đình ươn hèn trước sự lấn lướt của thực dân Pháp, sĩ phu yêu nước nổi lên chống giặc tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ, thái độ Lê Khắc Cẩn và thử thách nhân cách kẻ sĩ của ông. Trong các sáng tác của ông thường có những bài thơ thể hiện nỗi đau trước cảnh loạn li, lòng thương dân khốn khó trong chiến tranh cướp nước của thực dân xâm lược, sự khinh bỉ lũ “Tây Dương”,“Cẩu quốc”

Ông luôn đứng về phe chủ chiến chống xâm lược. Khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, ông viết sớ xin tòng chinh, lời lẽ khẩn thiết thể hiện lòng yêu nước. Vua chấp nhận, ông vào mặt trận vùng Nam Ngãi tham gia chống giặc.

Tuy bận việc quan nhưng Lê Khắc Cẩn vẫn ham sáng tác văn thơ. Viện Hán Nôm hiện còn giữ được một số công trình văn học của ông là: Hải Hạnh văn phái (ký hiệu A.358), Hải Hạnh thi tập (ký hiệu A.466), Hải Hạnh văn tập (ký hiệu VHv.261), Hải Hạnh thi văn tập (ký hiệu VHv. 259) Miễn Trai văn tập. (Hải Hạnh và Miễn Trai là bút hiệu của Lê Khắc Cần)

Con trai của Lê Khắc Cẩn là Lê Mạnh Phổ kế thừa sự học và chí hướng của cha, thi đậu Hương tiến, được bổ làm Huấn đạo Đông Quan, làm dạng danh cho gia tộc.

Lê Khắc Cẩn qua đời không rõ là khi còn làm quan hay đã về hưu, nhưng khoảng những năm tám mươi của thế kỷ XIX ông sống ở vùng hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Có truyền ngôn cho rằng ông chết vì bị ngầm đánh thuốc độc.

Mộ Lê Khắc Cẩn hiện táng ở Đồng Bún, Đỗ Xá, xã Nam Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Thể hiện sự tri ân của Thành phố và quê hương đối với ông, tháng 3-2008, UBND TP Hải Phòng đã có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng đền thờ tiến sỹ- nhà thơ Lê Khắc Cẩn ngay tại quê hương ông- thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng. Với sự đầu tư của chính quyền thành phố Hải Phòng và sự đóng góp to lớn từ nguồn xã hội hóa, ngày 3 tháng 10 năm 2010 nhà thờ tiến sĩ, nhà thơ yêu nước Nguyễn Khắc Cẩn đã khánh thành. Công trình hoàn thành to, đẹp với tổng kinh phí xây dựng 27,5 tỷ đồng, vượt gấp hơn hai lần dự toán ban đầu và được hoàn thành sớm hơn dự tính 1 năm.

Công trình gồm các hạng mục: đền thờ chính 174 m2, tả hữu giải vũ 173 m2, hai nhà bia 10 m2, tam quan 13,4 m2, hồ sen… trên tổng diện tích 11.514 m2. Đền thờ là công trình mô phỏng kiến trúc thời nhà Nguyễn, đền chính đặt trên bệ cao 1,35 m, khung nhà cột lim theo kết cấu giá chiêng - chồng rường - con bẩy - chồng đấu sen chạm hoa văn. Nền lát gạch bát, hệ mái hai tầng, cửa đi kiểu “thượng song hạ bản”, cửa sổ kiểu chữ “vạn”… đều bằng gỗ lim. Công trình này thể hiện tấm lòng của nhân dân và chính quyền thành phố Hải Phòng đối với người con đã làm vẻ vang cho quê hương và giờ đây đang trở thành một địa điểm du lịch văn hóa của Hải Phòng.

Phạm Văn Thi

Lê Triều tiến sĩ Phạm Đình Trọng- nhân vật lịch sử nổi tiếng Hải Phòng

Trong lịch sử nước ta có nhiều nhân vật nổi tiếng mà công trạng bị lãng quên hay đánh giá không đúng mức do nhận thức và quan điểm giai cấp từng thời kỳ. Phạm Đình Trọng là người nằm trong số đó. Sự đổi mới đã làm cho cách nhìn nhận khách quan hơn nên nhiều nhân vật lịch sử dần được đánh giá công bằng hơn.

alt

Ngày 24-1-2010, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng đã phối hợp tổ chức “Hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của tiến sĩ Phạm Đình Trọng”. Các tham luận trong hội thảo của nhiều giáo sư, tiến sĩ đầu ngành lịch sử Việt Nam đã phân tích, đánh giá công minh về những đóng góp của Phạm Đình Trọng, khôi phục và tôn vinh tên tuổi vị danh tướng.

Phạm Đình Trọng sinh năm Giáp Ngọ ngày 22-2-1714, quê ở làng Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương trước đây, nay thuộc thôn Khinh Dao (Khinh Giao, Kinh Dao), xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Phạm Đình Trọng sinh ra trong một gia tộc nổi tiếng nho học và thành danh nên đã kế thừa, phát huy truyền thống gia đình. Ông vốn dòng dõi danh sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần, Phạm Gia Mô đời Hậu Lê, cao tổ là Phạm Chất Lượng làm đến chức Tả thị lang bộ Hộ, tước Hồng Nguyên hầu, tằng tổ là Phạm Huy Ánh làm đến chức Đô ngự sử hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Yến Dực hầu; cha là Phạm Doãn Địch, Giám sinh Quốc tử giám làm đến chức Tri phủ phủ Thiệu Phong. Gia phả dòng họ Phạm ở Khinh Dao cho biết, Phạm Đình Trọng có 4 phu nhân: Chính thất họ Lưu hiệu là Trinh Tĩnh; thứ thất họ Đặng hiệu là Từ Dũ; thứ thất họ Lưu, hiệu là Từ Hoa; thứ thất họ Nguyễn, hiệu là Diệu Tín.

Tướng mạo khôi ngô, tư chất thông minh, lại được học sớm, từ bảy tuổi gia đình đã cho theo các thày nổi tiếng trong vùng, học võ, học văn nên  20 tuổi, ông thi đỗ Hương Cống. Khoa thi năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu (1739) ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ. Một năm sau, năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740) ông được triều đình bổ nhiệm làm Hiệu thảo viện Hàn lâm. Phạm Đình Trọng là người văn võ song toàn đã nhiều lần tham gia hay chỉ huy các cuộc dẹp loạn khởi nghĩa nông dân.

Với những người chống lại triều đình Lê - Trịnh ông là kẻ đối địch, đàn áp khởi nghĩa nông dân nhưng với vua Lê, chúa Trịnh ông là công thần bậc nhất. Tuy vậy sử sách vẫn phải thừa nhận ông là một người văn võ toàn tài, một bậc quân tử, sống cương trực và thẳng thắn đúng với bản tính người xứ Đông. Sử gia phong kiến Phan Huy Chú bình phẩm về con người ông bằng những lời khen ngợi: “Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngôi. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn...Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có”.

Trong nửa đầu thế kỷ 18, trước cảnh triều Lê suy vong, mục nát để họ Trịnh lấn át, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình đã nổ ra ở Đàng ngoài. Cuộc khởi nghĩa có quy mô và  tạo được thanh thế nhất là cuộc khởi nghĩa của anh em Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương. Quan quân triều đình đi đánh dẹp nhiều lần, nhưng đều thất bại. Biết Phạm Đình Trọng là người mưu lược, văn võ song toàn, triều đình phong ông giữ chức Hiệp thống kiêm Phòng ngự sử và phái đi đánh dẹp quân khởi nghĩa. Với tài năng quân sự, không bao lâu, Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Cừ. Ông được phong làm Hữu thị lang Bộ Công.

Nguyễn Tuyển mất, Nguyễn Hữu Cầu, con rể Nguyễn Tuyển, mang quân về mạn Đông Bắc, lấy vùng Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn... làm căn cứ, xưng là Đông Đạo thống quốc bảo dân Đại tương quân. Nguyễn Hữu Cầu là người nhanh nhẹn, quyền biến, có sức khỏe hơn người (dân gian ví ông như Hạng Võ của nước Nam). Có tài thao lược, Nguyễn Hữu Cầu đánh đâu thắng đó, uy thế lẫy lừng. Năm 1743 ông đánh bại quân Triều đình, giết chết Thủy đạo đốc binh Trịnh Bảng ở sông Cổ Trai ( Kiến Thụy bây giờ). Tiếp đó Nguyễn Hữu Cầu đánh lên Kinh Bắc. Trấn thủ và Đốc binh Kinh Bắc bấn loạn, bỏ cả ấn tin thoát thân. Nghĩa quân tiếp tục đánh tới Bắc Giang. Quân triều đình do Trương Khuông và Đinh Văn Giai phái tới thua to, chạy toán loạn... Trước thế lực của Nguyễn Hữu Cầu, chúa Trịnh lo sợ, liền phong Phạm Đình Trọng làm thống lĩnh Bình khẩu Đại tướng quân, chỉ huy quân Triều đình đi dẹp Nguyễn Hữu Cầu. Phạm Đình Trọng thật xứng là đối thủ của Nguyễn Hữu Cầu. Qua 6 năm chinh chiến cam go, cuối cùng cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu bị Phạm Đình Trọng dẹp tan. Sau chiến thắng này, Phạm Đình Trọng, lúc ấy mới 36 tuổi được thăng Thượng thư bộ Binh (tương tự chức Bộ trưởng bộ Quốc phòng ngày nay), hàm Thái bảo, tước Hải quận công, Dương võ Tuyên lực công thần, hưởng hoa lợi 12 xã và 150 mẫu lộc điền.

Những năm bọn phí quấy nhiễu vùng Đông Bắc, giáp giới giữa ta và Trung Quốc, trấn thủ xứ Quảng Yên của ta và quan quân Quảng Đông bên Tầu cũng bó tay, dẹp không nổi. Trước tình cảnh ấy, triều đình lại phái Phạm Đình Trọng đảm nhận tuần tiễu khu vực này. Không lâu sau, dưới sự chỉ huy của ông, đám phỉ bị xóa sổ, những tên cầm đầu bị bắt. Không chỉ dân Đông Bắc nước Nam được bình yên mà dân Quảng Đông của Tầu cũng không còn bị quấy nhiễu. Vua Minh mừng rỡ, liền sai người mang lụa, vàng bạc và mũ áo Thượng thư sang nước Nam ban cho Phạm Đình Trọng. Bởi vậy đời sau gọi ông là Lưỡng quốc Thượng thư.

Năm Tân Mùi (1751) Phạm Đình Trọng được phái đi trấn thủ Nghệ An, kiêm Đốc binh châu Bố Chính. Ông vừa trấn áp bọn đạo tặc trộm cướp, và tàn dư của Nguyễn Hữu Cầu, vừa thi hành chính sách đức trị, coi dân là gốc, thương quý dân như con nên vùng Nghệ An, Bố Chính dân an cư, lạc nghiệp, đời sống ấm no, an ninh, trật tự được giữ vững. Phạm Đình Trọng được nhân dân trong vùng kính trọng, quý mến.

Nhưng điều đó lại đẩy ông vào thảm họa. Do ghen ghét tài năng , đức độ của Phạm Đình Trọng và không thích những lời nói thẳng nói thật của ông, những kẻ bất tài, tiểu nhân, ghen ghét ông (đứng đầu là Đỗ Thế Giai) đã đem lời ghèm pha với chúa. Bọn này tâu với Trịnh Doanh rằng Phạm Đình Trọng gây thanh thế, uy đức lấn cả triều đình, âm mưu thoán nghịch. Chúa Trịnh mù quáng, lúc nào cũng nơm nớp lo mất quyền lực, mất quyền lợi liền ban rượu độc buộc ông phải tự tử. Trước đó nhiều bộ tướng từng khuyên ông chạy vào Nam với chúa Nguyễn, nhưng Phạm Đình Trọng không nghe, ông cả cười mà rằng, người quân tử không thờ hai Chúa. Sau đó ông vào thư phòng, quay mặt về phía Bắc, vái vọng vua Lê rồi uống rượu độc tự tử. Phạm Đình Trọng mất vào đêm trừ tịch năm Giáp Ngọ (1754) lúc mới 40 tuổi.

Âu đó cũng là bi kịch chung của những người tài thời xưa khi “thỏ hết thì chó săn bị giết”!

Ông mất, triều đình hối lỗi, vua Lê liền ban gấm vóc, tiền bạc và cho thuyền đưa linh cữu ông về quê, đồng thời cử nhiều quan, trong đó có quan thượng Nguyễn Nghiêm về Khinh Dao chọn đất an táng. Vua Lê ân hận viết mấy chữ viếng: “Dẹp loạn yên dân, giữ vững biên cảnh, yêu nước trung vua, danh tiết vẹn toàn”. Chúa Trịnh thì gửi ban câu đối: “Cái thế anh hùng kim cổ hiếm / Tài đức bền lâu cùng đất trời”. Người dân Quảng Bình, Nghệ An và làng Khinh Dao quê ông đều có đền, miếu thờ Phạm Đình Trọng tồn tại cho tới ngày nay.

Ở thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng quê hương Phạm Đình Trọng có đình Khinh Dao thờ Phạm Đình Trọng và 6 vị thần thời Hùng Vương làm thành hoàng là một trong hơn 100 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia của Thành phố. Đình là công trình tín ngưỡng mang đậm phong cách kiến trúc thế kỷ 18 với nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, được xếp hạng di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp quốc gia năm 2005. Tương truyền, khi chúa Trịnh dỡ cung thất cũ xây cung mới cho thiếp yêu chính Phạm Đình Trọng đã xin được mang các mảng kiến trúc, vật liệu bị tháo dỡ về quê hương Khinh Dao dựng lên ngôi đình làng.

Cùng với thời gian di tích này ngày càng xuốn cấp. Năm 2007, với tấm lòng tri ân tiền nhân, ngành Văn hóa-Thể thao-Du lịch Hải Phòng và nhân dân Khinh Dao được Nhà nước hỗ trợ hơn 11 tỷ đồng đã tiến hành trùng tu, tôn tạo khu di tích thờ phụng thành hoàng Phạm Đình Trọng và 6 vị thần thời Hùng Vương.

Giờ đây, đình Khinh Dao với phong cảnh đẹp, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc giá trị trở thành một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn khách tham quan.

Phạm Văn Thi

Nguyễn Sơn Hà - Một doanh nhân yêu nước

alt

NGUYỄN SƠN HÀ - MỘT DOANH NHÂN YÊU NƯỚC

Nguyễn Sơn Hà, quê gốc Sơn Tây, sinh ra ở Hà Nội (nên tên ông lưu luyến với hai địa danh ấy) và kinh doanh thành đạt trên đất Cảng Hải Phòng với Hãng sơn nổi tiếng Resistanco. Thưở nhỏ, Nguyễn Sơn Hà được học chữ nho và quốc ngữ, đến năm 15 tuổi thì mồ côi cha, ông phải gánh vác gia đình với 7 miệng ăn (Nguyễn Sơn Hà là anh cả trong gia đình). Mấy anh em ông đùm bọc nhau, vừa làm vừa học. Trước khi lập Hãng sơn riêng năm 1917, Nguyễn Sơn Hà từng làm thuê cho Hãng sơn Sauvage Cottu. Vốn có chí tự lập, ông nảy sinh ý định học nghề làm sơn dầu. Nhà chủ có một tủ sách quý về hoá học, về công nghệ sản xuất sơn, về nghề in...Những lúc chủ đi vắng, ông lục lọi tìm đọc những sách về nghề sơn. Để có trình độ tiếng Pháp khá hơn, ông mời thầy người Pháp về nhà dạy vào buổi tối. Vừa học kỹ thuật trong sách, ông vừa tranh thủ gần gũi anh em công nhân để hỏi han kinh nghiệm. Tuy chỉ làm thư ký cho hãng, nhưng mọi việc lớn nhỏ, từ kỹ thuật đến cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm...ông đều để tâm học hỏi. Cứ như vậy, với sự đắp đổi của thời gian, mỗi năm ông thêm một tuổi, thì vốn liếng và tri thức trong ông lớn dần lên cho tới khi ông quyết định tách khỏi ông chủ người Pháp mở xưởng sơn riêng của mình. Có lẽ, ông chủ người Pháp, không ngờ rằng cậu thanh niên bản xứ chăm chỉ công việc, siêng năng đọc sách này trở thành đối thủ cạnh tranh với mình trong tương lai.

Khi đã nắm được những bí quyết trong nghề làm sơn, kinh doanh sơn dầu, Nguyễn Sơn Hà xin thôi việc, bán chiếc xe đạp làm vốn, mở cửa hàng nhỏ nhận việc kẻ biển, quét vôi, sơn nhà cửa và bắt tay vào chế thử sơn dầu ở Hải Phòng. Lúc đầu, công cụ làm sơn chỉ có chiếc cối đá mua ở chợ về để nghiền bột, mấy anh em ông vừa là chủ, vừa là thợ chung lưng đấu cật quyết tâm lập nghiệp từ cái cửa hàng nhỏ nhoi ấy. Sau nhiều lần sản xuất thử bị thất bại, ông vẫn kiên trì vừa làm vừa rút kinh nghiệm và dồn tâm sức nghiên cứu cách dùng nguyên liệu trong nước như cây trẩu, cây thầu dầu, nhựa thông...Chẳng bao lâu những dòng sơn, xay từ cối đá được "đóng hộp" đem bán ra thị trường, với nhãn hiệu "Resistanco" (có nghĩa là bền chặt), giá thành hạ, chất lượng tốt, mau khô, bóng đẹp hơn sơn của Tây.

Buổi đầu ra nhập thị trường, ông cho anh em thợ cứ đi sơn thử cho khách hàng xem họ ưng ý mới lấy tiền. Hãng còn biếu hàng mẫu cho các cai thầu, dán quảng cáo khắp nơi. Dần dà người ta bảo nhau đến mua hàng ngày càng đông vì chất lượng tốt và giá cả lại hạ hơn sơn ngoại. Nguyễn Sơn Hà trực tiếp đến gặp chủ nhà hàng Gô-đa, cửa hàng lớn nhất lúc bấy giờ, đề nghị cho gửi 15kg sơn để bán thử. Tiền hàng chưa phải trả, lãi suất lại cao, chủ hãng buôn lớn liền nhận bán sơn cho Hãng Resistanco. Công việc làm ăn ngày một phát đạt. Nguyễn Sơn Hà đã mua được máy xay bằng sắt thay cho cối đá, nên chất lượng sơn ngày càng khá hơn. Ông mua được cửa hàng trên phố La-Côm, tức phố Hoàng Văn Thụ ngày nay. Lúc đầu, ông chỉ có khả năng dựng nhà tre vách đất cho thợ ở, khi khá giả, ông mua hẳn 41 căn hộ (mỗi căn hơn 120m2) ở ngõ Sơn Lâm bây giờ, để thưởng dần cho thợ thuyền.

Trong quá trình làm ăn, Nguyễn Sơn Hà luôn giữ gìn chữ tín với khách hàng, lắng nghe ý kiến của mọi người để xem xét, xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm. Một lần, Công sứ Quảng Yên phàn nàn phần sơn cửa 7 ngày vẫn chưa khô. Hay tin, ông trực tiếp sang nghiên cứu, nhờ có kỹ thuật và hiểu biết rộng, ông đã tìm ra nguyên nhân là do cửa làm bằng gỗ dầu, một loại gỗ có hàm lượng dầu cao, vì thế sơn lâu khô. Thế là uy tín của hãng vẫn giữ vững, tiếng lành lại bay xa. Lần khác, khách hàng Sài Gòn kêu "sơn Resistanco B lâu khô quá", Nguyễn Sơn Hà vội điện khẩn vào: "hoãn việc cung cấp loại sơn Resistanco B ra thị trường", rồi lập tức bay vào điều tra sự việc. Ông đã phát hiện nguyên nhân là do người thợ nấu phải mẻ sơn non, chưa đến độ đạt yêu cầu, nhưng sợ ảnh hưởng đến thời hạn giao hàng nên cứ cho đem pha chế thành sản phẩm để gửi đi, vì thấy đơn đặt hàng dồn dập gửi về. Lập tức mấy toa xe lửa sơn đang trên đường vào Sài Gòn được lệnh quay trở lại nhà máy ở Hải Phòng. Ai mua phải đợt sơn đó đều được hoàn lại tiền, kèm theo lời xin lỗi chân thành....

Thấy Nguyễn Sơn Hà làm ăn phát đạt, bọn thực dân và tư bản Pháp, tư bản Hoa kiều hùa với nhau mở chiến dịch đánh ngục ông. Lúc đầu chúng vu cáo ông là buôn lậu. Một lần có mẻ dầu không may bị bốc cháy, lấy cớ đó chúng ra lệnh cấm ông sản xuất, bắt ông dọn ra ngoại ô. Khi nhà máy mới được xây dựng xong, công việc làm ăn vừa vào nề nếp, viên Đốc lý Hải Phòng lại ra lệnh "đóng cửa ngay nhà máy, vì ô nhiễm môi trường" (địa điểm xây dựng nhà máy chính do viên Đốc lý này giới thiệu)...Nhờ có niềm tin sắt đá rằng ông đang kinh danh trên Tổ quốc mình, giàu tài nguyên, giàu vật liệu cho nghề sản xuất sơn, xung quanh đều là đồng bào mình, những người siêng năng, chịu thương chịu khó và khéo tay đã khiến Nguyễn Sơn Hà dấn thân. Ông lần lượt vượt qua mọi sự kiềm toả, o bế của chính quyền thực dân và các đối thủ cạnh tranh "chơi xấu" để tồn tại và phát triển.

Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trước hai đối thủ không cần sức: tư sản Pháp và tư sản Hoa kiều trên đất Cảng, cũng như doanh nhân Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà đã sử dụng thành công tinh thần dân tộc như một vũ khí tinh thần sắc bén để chiến thắng và vươn lên làm giàu cho gia đình, cho đất nước. Sau chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, Nguyễn Sơn Hà quyết định bỏ thêm vốn, mở rộng xưởng, tăng sản lượng sơn mà thị trường đang cần, đưa Resistanco trở thành Hãng sơn danh tiếng, cạnh tranh thắng lợi với các hãng sơn lâu đời của Pháp. Khi đã có tiếng về chất lượng sản phẩm, hãng sơn của Nguyễn Sơn Hà đã giành được phần lớn thị trường trên toàn cõi Đông Dương, bắt đầu thâm nhập sâu sang thị trường Thái Lan, Căm-phu-chia, Pháp...Mặt khác, Nguyễn Sơn Hà chủ động tìm nguồn nguyên liệu trong nước thay thế nguyên liệu nhập ngoại như: mua đồn điền 300 mẫu ở Đò Lèn (Thanh Hoá) để trồng chẩu lấy dầu; ký hợp đồng mua dầu thông dài hạn ở Quảng Yên; xin khai thác mỏ đá màu ở Đông Triều (Quảng Yên) và Thanh Hoá; khai thác mỏ sét xanh ở Sơn Tây, đất sét trắng, vàng, đỏ ở Hải Dương...Theo ông, sự chủ động về nguồn nguyên liệu trong nước không chỉ khơi dậy tiềm năng của Tổ quốc, đưa lại công ăn việc làm cho người dân, mà còn góp phần vượt lên trên sự kìm hãm và chèn ép của tư bản ngoại bang.

Làm kinh doanh, ông giàu có lên, nhưng không có những biểu hiện kiểu "làm giàu bằng mọi giá" thường gặp ở những doanh nhân vong bản. Ông làm giàu chính bằng lòng yêu nước, tài làm chủ kỹ nghệ, tính quảng giao và đạo đức kinh doanh của mình. Bên cạnh cái chí muốn vươn lên làm giàu cho gia đình, dòng tộc, Nguyễn Sơn Hà còn nhờ cái chí muốn lập đạo làm giàu có ích cho đất nước. Điều đó giải thích vì sao hăng say làm giàu, những Nguyễn Sơn Hà cũng không quên tham gia các hoạt động xã hội để gắn mình với quảng đại quần chúng đồng bào còn nghèo khổ của mình như: đứng đầu Hội Truyền bá quốc ngữ Hải Phòng; lập trường Dục Anh dạy dỗ trẻ mồ côi; chu cấp lương thực cứu đói người nghèo...

Sinh thời, nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng Phan Bội Châu đã viết tặng cụ Nguyễn Sơn Hà một đối câu đối: "Hoá học bác Âu trường, tô điểm sơn hà tâm hữu tất - Công khoa tôn Việt chủng, chuyển di thời thế thủ vi cơ". Nghĩa là: "Lấy hoá học của người Âu, tô điểm cho sơn hà bởi tấm lòng son sẵn có - Dùng công nghệ của đất Việt thay đổi thời thế làm nên bởi tự tay mình". Sau này, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhận xét chí lý rằng: "Con đường làm giàu từ một cậu bé mồ côi cha đi làm thuê để thành đạt, trở thành ông chủ một hãng sơn lớn đủ sức cạnh tranh với sơn ngoại, kể cả hàng của chính quốc, là con đường phấn đấu gian khổ trong thời mất nước. Chắc chắn rằng bên cạnh cái chí muốn vươn lên làm giàu cho gia đình, dòng tộc, cụ Nguyễn Sơn Hà thành đạt còn nhờ cái chí muốn lập đạo làm giàu có ích cho đất nước. Điều đó giải thích vì sao hăng say làm giàu, nhưng cụ Nguyễn Sơn Hà cũng không quên tham gia các hoạt động xã hội để gắn mình với quảng đại quần chúng, đồng bào còn nghèo khổ của mình...Và như một lẽ tự nhiên, sự giàu có về đời sống vật chất không hề ngăn cách cụ Nguyễn Sơn Hà đến với cách mạng, nhất là một cuộc cách mạng đã cởi ách nô lệ cho toàn dân tộc, một cuộc cách mạng do Bác Hồ lãnh đạo. Trước yêu cầu của đất nước, cụ Nguyễn Sơn Hà không chỉ đem của cải gia sản của mình hiến cho cách mạng, mà Cụ còn dâng hiến cả người con trai yêu quý của mình cho Tổ quốc; cụ tận tâm làm giàu cho sức mạnh của cuộc kháng chiến toàn quốc. Chỉ tiếc rằng cụ Nguyễn Sơn Hà không được sống đến ngày đất nước đổi mới để cái chí và cái tâm làm giàu có dịp thi thố hợp với lẽ "dân giàu nước mạnh...".

Phát biểu trong cuộc gặp mặt gia đình Nguyễn Sơn Hà nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cụ (16-8-1994), đồng chí Phạm Văn Đồng, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng nói: "Tôi vui lòng kể về một đôi kỷ niệm về một người bạn mà tôi luôn ghi nhớ trong lòng: Đó là nhà yêu nước, nhà doanh nghiệp Nguyễn Sơn Hà luôn có đầy nghị lực, năng động, sáng tạo. Tôi nghĩ Nguyễn Sơn Hà là một tấm gương sáng đối với các nhà doanh nghiệp cũng như đối với mọi người và nhất là đối với các nhà doanh nghiệp trẻ ngày nay về lòng yêu nước và ý chí kinh doanh...". Cũng nhân cuộc gặp mặt bà quả phụ Nguyễn Sơn Hà là Nguyễn Thị Ngọc Mùi cùng các con, cháu, chắt nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cụ Hà tại Hà Nội (13-9-1994), Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: "Tôi biết anh Nguyễn Sơn Hà từ trước Cách mạng Tháng Tám với hãng sơn Resistanco. Sau Cách mạng Tháng Tám, có ý kiến của Bác và anh Trường Chinh, tôi có mời một số các anh ở Hải Phòng lên gặp, anh Vũ Trọng Khánh và Nguyễn Sơn Hà. Biết anh Hà có kiến thức về kinh tế nên mời làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ, anh Vũ Trọng Khánh là Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Anh Vũ Trọng Khánh nhận lời. Anh Hà nói anh rất cảm ơn nhưng xin cho mấy ngày suy nghĩ. Mấy hôm sau anh trở lại và nói: "Tôi rất cảm ơn sự tín nhiệm của Bác Hồ và các anh, nhưng công việc lớn quá sợ khả năng có hạn chế nên xin được chỉ làm một số việc về kinh tế nước nhà". Tôi rất quý trọng sự trung thực của anh. Anh Sơn Hà là một người yêu nước. Có thể nói anh đã không từ bỏ bất cứ việc gì làm cho ích nước, lợi dân, phục vụ công cuộc kháng chiến. Như chế taoh vũ khí, chế vải dầu che mưa cho bộ đội tốt lắm, dầu lau súng...góp ý kiến cho những vấn đề kinh tế Chính phủ. Tôi nhớ, trong kháng chiến Quốc hội có tặng Đại đoàn Quân Tiên phong thanh kiếm "Mã đáo thành công". Quốc hội đã uỷ nhiệm cho anh Nguyễn Sơn Hà trao tặng cho Đại đoàn 308 (tức Quân Tiên phong)..."...

Tháng 9-1994, giới sử học Hải Phòng phối hợp với Hội KHLS Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học tưởng niệm tròn một trăm năm ngày sinh nhà doanh nghiệp yêu nước Nguyễn Sơn Hà. Ban Tổ chức hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến xác nhận về công lao, về những cống hiến to lớn của doanh nhân Nguyễn Sơn Hà và gia đình đối với cách mạng của các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư; Hoàng Quốc Việt, Nguyên chủ tịch MTTQ Việt Nam; Lê Quang Đạo, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Trung ương MTTQVN, Nguyên Bí thư Thành uỷ Hải Phòng; Hoàng Tùng, Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Nguyên Bí thư Hải Phòng, Nguyên Phó bí thư khu uỷ Liên khu III (1946-1948); Nguyễn Công Hoà, Nguyên bí thư Thành uỷ Hải Phòng (1936-1937), Nguyên Phó Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam...Mọi người đều thống nhất cho rằng tuy không phải là hoạt động cách mạng chuyên nghiệp hay một người anh hùng xuất chúng, nhưng trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Sơn Hà không thiếu những tư chất của người làm cách mạng, những hành vi thấm đẫm tính chất anh hùng.

TP

Bùi Viện- người khai mở thương cảng Hải Phòng

alt

Trần Phương

Hải Phòng có mạch nguồn tự nhiên từ một vài làng chài ven sông, nhờ có tầm nhìn xa của Bùi Viện mà cảng Hải Phòng ra đời và nhanh chóng trở thành thương cảng lớn nhất nhì nước ta. Vào những năm cuối thế kỷ XIX, vâng mệnh triều đình nhà Nguyễn, Bùi Viện thực hiện chuyến đi khảo sát vùng ven biển Hải Dương và đề xuất xây dựng một Trung tâm buôn bán nằm ở ngã ba sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm. Phan Trần Chúc - tác giả cuốn sách “Bùi Viện với chính phủ Mỹ lịch sử ngoại triều Tự Đức” cho rằng: Cử nhân Bùi Viện là người đầu tiên mở mang cảng Ninh Hải (tức cảng Hải Phòng ngày nay) làm cửa ngõ cho cả xứ Bắc Kỳ thông thương với bên ngoài.

TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ ĐÔ THỊ CẢNG BIỂN HẢI PHÒNG

Bùi Viện sinh ra ở làng Trình Phố, nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Sự nghiệp của nhà canh tân Bùi Viện gắn với biển khơi với những hoài bão và hành động phi thường. Vào năm Tự Đức thứ 17 (1864), Bùi Viện cùng em trai là Bùi Chủng thi đậu tú tài và lận đận mãi ở nơi trường ốc đến năm Tự Đức thứ 21 (1868) ông mới đỗ cử nhân, em ông là Bùi Chủng đã đỗ trước một năm. Liền hai khóa thi hội 1868-1869 hai anh em ông đều không đậu. Bùi Chủng đoạn tuyệt khoa danh về quê phụng dưỡng mẹ già. Mãi đến khi Bùi Viện qua đời, Bùi Chủng mới ra làm quan tri phủ Thái Ninh. Bùi Viện ở Huế tiếp tục luyện rèn kinh sử. Chí hướng, sở đắc của Bùi Viện đã lọt vào “mắt xanh” của quan đại thần Lê Tuấn đang giữ chức Thượng thư bộ Hình trong triều đình Huế. Khi Lê Tuấn được cử ra Bắc Kỳ sung chức Khâm sai phối hợp với Hoàng Tá Viêm đánh giặc thì Lê Tuấn cho Bùi Viện theo như một gia nhân chứ chưa có tước vị chính thống gì. Sau mấy tháng giặc đã tam yên, cuối năm 1871 Lê Tuấn được triệu về Huế, Bùi Viện theo về cùng. Liền ngay đó, Bùi Viện được quan Doanh Điền sứ Doãn Khuê mời ra Bắc giúp việc dưới trướng ông. Công việc của Bùi Viện là giúp Doãn Khuê thiết lập doanh điền, chiêu mộ dân lưu tán về khai hoang lấn biển, trong đó có việc nạo vét mở rộng bến Ninh Hải. Doãn Khuê đã giao phó việc cho Bùi Viện tổ chức một cuộc thị sát bến Ninh Hải. Bùi Viện bèn cho lập hai đồn binh, lập nha Hải Phòng, trạm thuế quan ở ngã ba sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm. Những công việc này của Bùi Viện đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của đô thị và cảng biển Hải Phòng sau này.

Lịch sử đánh giá Bùi Viện như một “tổng công trình sư” của cảng biển Hải Phòng hiện nay. Sau khi đã lên kế hoạch, thiết kế bản vẽ, chọn vị trí... đích thân Bùi Viện đã chỉ huy các công đoạn xây dựng lẫn thi công công trình lớn lao nhất mà triều đình nhà Nguyễn đã giao phó. Cũng theo nhà sử học Lê Văn Lan, Chiêu thương Cục của Nhà nước phong kiến nhà Nguyễn được thành lập, làm nhiệm vụ chuyên trách việc buôn bán với nước ngoài là theo đề nghị của Bùi Viện. Ông cho mở một chi điểm ở Ninh Hải, chi điểm này về sau trở thành phố Chiêu Thương nổi tiếng, được các nhà buôn Tây phương khen ngợi là có tầm nhìn. Những năm tiếp theo, Chiêu Thương quán ở Ninh Hải đã thu hút một số đông các nhà buôn người Việt và người Hoa đến sinh cơ lập nghiệp, mở cửa hàng buôn bán. Một trong những mặt hàng buôn bán chủ yếu lúc này là thóc gạo, lâm - thổ - thủy - hải sản. Từ đó, bộ mặt phố xá ở khu vực ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm dần thay đổi. Đó là những cơ sở khởi thuỷ cho việc hình thành nên đô thị cảng biển Hải Phòng sầm uất.

GẶP TỔNG THỐNG HOA KỲ BÀN CHUYỆN LIÊN MINH, HỢP TÁC

Tình hình Việt Nam vào đầu những năm 80 của thế kỷ XIX đang cực kỳ bế tắc. Thực dân Pháp ngày càng lấn tới ép triều đình Huế phải lần lượt ký các hàng ước. Triều đình ngày một phân hóa, không chỉ còn là sự phân hóa giữa phái chủ hòa với phái chủ chiến mà còn lai sự phân hóa giữa những người muốn canh tân đất nước, trong đó có một bộ phận muốn dựa vào một nước ngoài không phải là Trung Quốc để liên minh nhằm làm giảm bớt áp lực của người Pháp. Biết Bùi Viện là người có chí lớn, giàu nghị lực, có khả năng vượt trùng dương, Thượng thư bộ Hộ Lê Tuấn đã tiến cử ông với vua Tự Đức để Bùi Viện đi tìm đối tác ngoại giao. Tự Đức chấp thuận và lạ lùng thay sứ thần Bùi Viện lên đường vẫn chắng có tước vị chính thống gì.

Từ cửa Thuận An, Bùi Viện dong buồm vượt biển lên phía Bắc. Sau mấy tháng một mình vượt biển khơi, Bùi Viện đặt chân lên Hương Cảng (Trung Quốc) và lân la kết giao được với một lãnh sự Hoa Kỳ tại Hương Cảng. Ông ta có mẹ là người Trung Quốc lại có vốn Hán học kha khá nên thuận lợi cho việc giao thiệp với Bùi Viện. Qua người bạn mới này, Bùi Viện mới biết về nước Mỹ và ông bày tỏ nguyện vọng muốn sang Mỹ để mưu cầu việc đánh Pháp. Vị lãnh sự này đã viết thư giới thiệu Bùi Viện đến gặp người bạn đang làm việc trong Phủ tổng thống Hoa Kỳ. Bùi Viện hăm hở xuống tàu qua Nhật Bản rồi từ đó đi Cựu Kim Sơn và đáp tàu đến Oa – sinh – tơn. Sau gần một năm rưỡi nơi đất khách quê người, không rõ Bùi Viện đã sống và hoạt động như thế nào để rồi đã tiếp kiến Tổng thống Grăng (Grant). Nghe Bùi Viện trinh bày về chủ trương cầu viện, tổng thống Grăng muốn nhân cơ hội này thế chân Pháp để cắm chân trên trên vùng biển châu Á, vốn nằm trong ý đồ chiến lược của Hoa Kỳ từ lâu mà chưa thực hiện được. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ tam cho biết vào năm 1831 phái đoàn Roberto đã trình thư của Quốc trưởng nước Nhã Di Lý – tức tổng thống Hoa Kỳ xin thông thương nhưng bị từ chối. Tưởng chừng như cuộc ngoại giao phi thường này của Bùi Viện đã thành nhưng khi hỏi ra thì ông không mang theo quốc thư nên không có cơ sở để ký kết. Bùi Viện không nản chí lại tìm đường xuống tàu trở về xin quốc thư rồi trở lại Hoa Kỳ lần thứ hai vào năm 1875 với hy vọng mọi việc sẽ thành công như ý nguyện của mình. Nào ngờ, sau khi tìm hiểu kỹ, người Mỹ thấy người Pháp đã củng cố được vị thế khá vững chắc ở Đông Nam Á nên Mỹ đã điều chỉnh chính sách ngoại giao, từ chối việc liên minh với Việt Nam kháng Pháp. Lại một lần nữa, Bùi Viện chán nản, lênh đênh vượt đại dương về nước.

Thuyền vừa cấp bến Hải Vân thì Bùi Viện nghe tin mẹ mất, ông tâu trình xin về quê chịu tang. Vua Tự Đức đã châu phê vào tờ đơn của ông: “Ta với người tuy chưa có ân nghĩa gì sâu mà đã có việc nước như việc nhà không quản xa xôi lo lắng, quỷ thần tất cũng biết cho vậy”. Chuyến công du của Bùi Viện không thành nhưng ý chí lớn lao và năng lực phi thường của ông đã được Tự Đức ghi nhận. Mặc cho trong triều đình có kẻ gièm pha nhưng sau ba tháng chịu tang mẹ, Bùi Viện đã được Tự Đức triệu vào Kinh bổ nhiệm chức Tham biện công chính. Chức quan tuy không lớn nhưng cũng là cơ hội để Bùi Viện thực hiện hoài bão chinh phục và khai thác biển khơi phụ vụ quốc kế dân sinh. Ông tâu trình với triều đình nhiều kế sách tiễu trừ giặc biển, thành lập Nha tuần hải, Tuần dương quân bảo vệ miền duyên hải và tàu buôn trên biển. Đại bản doanh của Tuần dương quân đặt tại Nam Định, còn các đồn quan phòng kiểm tra tàu thuyền qua lại được đặt ở nhiều điểm từ Ninh Hải (Hải Phòng) đến Quảng Nam – Đà Nẵng. Khi tổ chức Tuần dương quân, Bùi Viện đã đề xuất với thượng cấp cho ông sử dụng những tên cướp biển. Với mức lương cao lại hưởng nhiều bổng lộc nên những tên cướp biển được xung vào Tuần dương quân rất mực trung thành. Trong suốt thời gian Bùi Viện chỉ huy đội quân này, vùng biển gần như không có nạn cướp bóc. Tiền kho tải vào kinh thành Huế cũng không mảy may sơ sảy. Với cương vị là Chánh quản đốc Nha Tuần hải, Bùi Viện đã tự soạn thảo quy chế hoạt động, đặt chế độ thưởng phạt nghiêm minh. Công việc chinh phục biển khơi đang tiến triển thuận lợi thì Bùi Viện ốm nặng rồi đột ngột qua đời tại Huế vào ngày mồng 2 tháng 11 năm Mậu Dần (1878) khi tuổi đời chưa kịp bước sang tuổi 40.

Bùi Viện là người sớm hình thành những hiểu biết về biển và có ý chí vươn ra chiếm lĩnh và làm chủ biển khơi: Mở cảng Hải Phòng, sang Hương Cảng, vượt đại dương sang Mỹ, canh tân kinh tế, củng cố quốc phòng.. là cả một sự nghiệp đồ sộ, lớn lao. Tới đây, cùng với việc xây dựng cầu Hoàng Văn Thụ kết nối đô thị cũ Hải Phòng với đô thị mới Bắc sông Cấm, Hải Phòng sẽ mở con đường hiện đại ven sông Cấm. Con đường này xứng đáng được Bùi Viện - người công đầu khai mở cảng thị Hải Phòng.

TP

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay73
mod_vvisit_counterHôm qua126
mod_vvisit_counterTất cả22595
Hiện có 7 khách Trực tuyến