Quê gốc của cụ Trạng Trình ở đâu?

Tấm bia đá ghi công đức ông nội Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại núi Quèn Ma (Ninh Bình).

       Vừa qua, nhân tìm thấy bản chép tay của Tiến sỹ Ôn Quận công Vũ Khâm Lân viết về gia phả của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lại nhớ tới bức ảnh chụp tấm bia công đức tại Quèn Ma, xã Quang Hiển, Tam Điệp được treo tại nhà thờ họ Giang, xã Trường Yên, Hoa Lư Ninh Bình, chúng tôi quyết định vào tận nơi xem xét tấm bia đá 500 năm trước.

Ảnh tác giả và người dẫn đường đi tìm bia trên núi Quèn Ma (Ninh Bình).

       Đây là nội dung bản viết tay của cụ Vũ Khâm Lân cách đây gần  300 năm :
       白雲庵居士阮文達譜記.考祖蔭封少保郡公文靜.妣蔭封正夫人范氏貞惠.始卜陽宅山水面完昭合高王鉗記.考贈太保嚴郡公文       定,道號瞿川先生,有學行充太學生.母慈淑太夫人汝氏,先朝安子人,戶部尚書汝文蘭相公小女.
       “Bạch Vân Am cư sỹ Nguyễn Văn Đạt phả ký (trích):
       “…Khảo tổ ấm phong Thiếu Bảo Quận công,  Văn Tĩnh. Tỷ ấm phong Chính phu nhân, Phạm Thị Trinh Huệ.
Thủy bốc dương trạch, sơn thủy diện hoàn, chiêu hợp Cao Vương kiềm ký. Khảo tặng Thái Bảo Nghiêm quận công Văn Định, đạo hiệu Cù Xuyên tiên sinh, hữu học hành sung Thái học sinh. Mẫu Từ Thục Thái phu nhân Nhữ thị, tiên triều, An Tử nhân, hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lan tướng công tiểu nữ…..
       Dịch nghĩa:
       Gia phả Bạch Vân Am  tiên sinh Nguyễn Văn Đạt.
       Ông nội tiên sinh là Nguyễn Văn Tĩnh được ấm phong Thiếu Bảo Quận công, bà nội là Phạm Thị Trinh Huệ được ấm phong Chính phu nhân.
       Quê gốc của tiên sinh là nơi có sông có núi, sơn thủy bao quanh rất hợp với phong thủy đắc địa của học thuyết Cao Vương xưa (tức Cao Biền là nhà phong thủy nổi tiếng đời Đường) …”

Ảnh chụp bản phả ký Bạch Vân am tiên sinh Nguyễn Văn Đạt (Trạng Trình) lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
       

       Chúng tôi chú ý đến đoạn: “Ông nội tiên sinh là Nguyễn Văn Tĩnh được ấm phong Thiếu Bảo Quận công, bà nội là Phạm Thị Trinh Huệ được ấm phong Chính phu nhân.
       Quê gốc của tiên sinh là nơi có sông, có núi, sơn thủy bao quanh rất hợp với phong thủy đắc địa của học thuyết Cao Vương xưa”.
       Có phải chăng Tam Điệp, Ninh Bình xưa là quê gốc của Cụ Trạng không?. Chúng tôi liền tìm về núi Quèn Ma, phường Quang Hiển, thị xã Tam Điệp, Ninh Bình để trực tiếp quan sát.
       Sau nửa ngày đường trường vất vả chúng tôi mới tới được Quang Hiển, rất may nhờ có ông phó chủ tịch phường nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi bỏ xe ô tô, đi xe ôm, bỏ xe ôm dùng xuồng nhỏ qua kênh, vạch lá tìm đường tới Quèn Ma, cuối cùng cũng tới bên tấm bia mà chúng tôi mong thấy. Tôi chạnh lòng, ngày xưa khó khăn là vậy mà các cụ còn bỏ tiền ra làm đường bắc cầu, ngày nay con cháu nhiều kẻ giàu nứt đố đổ vách ra mà không tu sửa nổi con đường xưa của cụ. Ôi thế thái nhân tình!.
       Tấm bia đá được khắc thẳng vào một khối đá to, mặt sau vẫn nguyên hình khối đá, mặt trước được tạo phẳng, có đục  hoa văn đơn giản, mặt trời và tản vân, có hàng chữ Hán lớn:
       開關山造橋粱別市廛碑記
       Dịch Nôm: KHAI QUAN SƠN TẠO KIỀU LƯƠNG BIỆT THỊ TRIỀN BI KÝ
       Hiểu là: “lập bia ghi công mở núi làm đường, bắc cầu, lập chợ”.
       Các chữ trên bia đã mờ nhiều, bên phải còn đọc được:
       少保慈郡公及東山候開關山造橋粱別市廛碑記事
       Dịch Nôm: THIẾU BẢO TỪ QUẬN CÔNG CẬP ĐÔNG SƠN HẦU KHAI QUAN SƠN TẠO KIỀU LƯƠNG BIỆT THỊ TRIỀN LẬP BIA KÝ SỰ
       Dịch nghĩa: “Bia ghi chép về người làm công việc đại thiện này là Thiếu Bảo quận công Đông Sơn hầu” (tức là ông nội cụ Trạng Trình Nguyễn Văn Tĩnh). Nên nhớ rằng lúc này (năm 1554) cụ Tĩnh đã mất, cụ Trạng 63 tuổi, mới nghỉ hưu đã làm việc thiện và ghi danh ông nội để báo hiếu.
       Bên phải còn dòng chữ :
       順平七年三月二十六日
       Dịch Nôm: “THUẬN BÌNH THẤT NIÊN TAM NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT”
       Dịch nghĩa: “Ngày 26 tháng 3 năm Thuận Bình thứ 7” (26-3-1554). Nhớ rằng thời kỳ này là thời Nam Bắc triều, phía Nam ghi theo lịch triều Lê, phía Bắc ghi theo lịch triều Mạc, tương ứng với ngày 26 tháng 3 năm Quang Bảo thứ 2 (thời Mạc Tuyên Tông)
       Tiếp theo: 魯鄉春塢後學武春卿撰
       茂林佐光縣丞武功校訂
       Dịch Nôm: “LỖ HƯƠNG XUÂN Ổ HẬU HỌC VŨ XUÂN KHANH SOẠN
       MẬU LÂM TÁ QUAN HUYỆN THỪA VŨ CÔNG HIỆU ĐÍNH”
       Dịch nghĩa: Hậu học sinh là Vũ Xuân Khanh thôn Ổ Xuân, làng Lỗ soạn. Tả quan  Huyện thừa Vũ Công ở Mậu Lâm duyệt và  làm chứng .
       ….
       Như vậy khá rõ, quan sát địa thế vùng đất nơi này giống như lời tả của ông Vũ Khâm Lân, Quang Liệt (Quang Hiển), Yên Mô (nay thuộc thị xã Tam Điệp) chính là nơi quê gốc Cụ Trạng, sau đó tới đời ông nội mới dời về huyện Vĩnh Lại (Vĩnh Bảo), sinh ra cụ Định (bố cụ Trạng) và cụ Trạng. Câu chuyện sẽ còn nhiều thú vị chúng tôi sẽ trình bày tiếp vào dịp khác.
       Bản dịch nội dung bia đá ghi công đức tại núi Quèn Ma:
       “BIA MỞ NÚI LÀM ĐƯỜNG CÁI QUAN DỰNG CẦU GỖ, MỞ CHỢ”
       Tấm bia đá được khắc thẳng vào một khối đá to, mặt sau vẫn nguyên hình khối đá, mặt trước được tạo phẳng, có đục  hoa văn đơn giản, mặt trời và tản vân, có hàng chữ lớn: 開關山造橋粱別市廛碑記
       Dịch Nôm:“KHAI QUAN SƠN TẠO KIỀU LƯƠNG BIỆT THỊ TRIỀN BI KÝ”.
       Hiểu là: lập bia ghi công mở núi làm đường, bắc cầu, lập chợ.
       Các chữ trên bia đã mờ nhiều, bên phải còn đọc được:
       少保慈郡公及東山候開關山造橋粱別市廛碑記事
       “THIẾU BẢO TỪ QUẬN CÔNG CẬP ĐÔNG SƠN HẦU KHAI QUAN SƠN TẠO KIỀU LƯƠNG BIỆT THỊ TRIỀN LẬP BIA KÝ SỰ”
       Dịch nghĩa: “Bia ghi chép về người làm công việc đại thiện này là Thiếu Bảo quận công Đông Sơn hầu” (tức là ông nội cụ Trạng Trình là Nguyễn Văn Tĩnh). Nên nhớ rằng lúc này (1554) cụ Tĩnh đã mất, Cụ Trạng 63 tuổi, mới nghỉ hưu đã làm việc thiện và ghi danh ông nội để báo hiếu.
       Bên trái còn dòng chữ: 順平七年三月二十六日
       Dịch Nôm: “THUẬN BÌNH THẤT NIÊN TAM NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT”
       Dịch nghĩa: “Ngày 26 tháng 3 năm Thuận Bình thứ 7” (26-3-1554). Lúc đó là  thời kỳ Nam Bắc triều, phía Nam ghi theo lịch triều Lê, phía Bắc ghi theo lịch triều Mạc tương ứng với 26 tháng 3 năm 1554 (thời Mạc Tuyên Tông)
       Tiếp theo: 魯鄉春塢後學武春卿撰
                        茂林佐光縣丞武功校訂
       Dịch Nôm: “LỖ HƯƠNG XUÂN Ổ HẬU HỌC VŨ XUÂN KHANH SOẠN
       MẬU LÂM TÁ QUAN HUYỆN THỪA VŨ CÔNG HIỆU ĐÍNH”
       Nghĩa là: Hậu học sinh là Vũ Xuân Khanh thôn Ổ Xuân, làng Lỗ soạn. Tả quan  Huyện thừa Vũ Công ở Mậu Lâm duyệt và  làm chứng .
       ….
       Dịch toàn văn nội dung bia đá ghi công đức tại Quèn Ma:
       BIA MỞ NÚI LÀM ĐƯỜNG CÁI QUAN DỰNG CẦU GỖ, MỞ CHỢ
       “Dựng bia ghi việc Thiếu Bảo quận công Đông Sơn hầu mở đường cái quan qua núi, dựng cầu gỗ, mở chợ.
       Vào năm thứ 7, đời vua Thuận Bình (1554).
       Đương khi tiết trời thanh minh, mây lành nhẹ bay, mưa xuân mát mẻ, hoa súng nở bừng, cỏ non xanh mơn mởn như chào đón duyên lành. Mừng sự việc quan Đề Lĩnh trưởng Thiếu Bảo Từ Quận công Đông sơn hầu đại sỹ mở lòng Bồ Tát khi thấy xã Quang Liệt huyện Yên Mô gặp cảnh đường lên núi gập ghềnh, lại bị sông sâu ngăn trở.
       Ngài đã bỏ tiền thuê thợ phá đá, mở đường đi bằng phẳng, rộng rãi, bắc cầu gỗ qua sông, dựng lều quán cho hành nhân nghỉ ngơi, lại mở chợ để dân quanh vùng giao lưu buôn bán. Việc làm ấy không chỉ làm lợi cho dân làng hôm nay mà còn có ích cho muôn đời sau.
       Ngày hoàn thành, dân chúng vui mừng khôn xiết, mở hội suốt ngày đêm, các quan viên trên dưới, lão ông lão bà, thiện nam, tín nữ cùng vui vẻ kéo nhau lên núi báu, cảm tạ công đức của đại quan Thiếu Bảo từ Quận công Đông sơn hầu.
       Sự việc quan trọng này thấy nên khắc vào bia đá để lưu truyền cho đời sau.
       Ngày 26 tháng  3 năm Thuận Bình thứ 7 (1554)
       Hậu hoc sinh là Vũ Xuân Khanh thôn Ổ Xuân, làng Lỗ soạn.
       Tả quan huyện thừa Vũ Công ở  Mậu Lâm duyệt và chứng nhận”.
       Bia đá tại Quèn Ma cho ta kết luận như sau:
       1- Đây là bia đá ghi công đức của cụ Nguyễn Văn Tĩnh, ông nội cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh  Khiêm (bia ghi rõ Thiếu bảo Từ Quận công Đông Sơn hầu)
       2- Bia này do cụ Trạng cho làm vì lúc này cụ Tĩnh đã mất vì nếu còn thì cụ phải trên 100 tuổi. Cháu làm lấy tên ông nội chính là để báo hiếu.
       3- Chứng minh rằng cụ Trạng Trình được phong tước Trình Quốc công trước năm 1553, vì thế cụ Tĩnh năm 1554 mới ghi tước ấm phong Thiếu Bảo Từ Quận công Đông Sơn hầu.
       4- Sự xuất hiện của tấm bia đá cùng với những thông tin mà ông Nguyễn Khâm Lân nói về quê gốc của cụ: “Thủy bốc dương trạch, sơn thủy diện hoàn, chiêu hợp Cao Vương kiềm ký”: “quê gốc của tiên sinh là nơi có sơn có thủy, có núi có sông bao bọc, hợp với thế đất thiêng của Cao Vương từng ghi” (Cao Vương là nhà phong thủy nổi tiếng đời Đường). Điều đó nói lên ông Vũ Khâm Lân cũng đã biết quê gốc của Cụ Trạng nhưng hoàn cảnh lúc đó không tiện nói ra cụ thể.

                                                                  Vũ Hoàng, nhà nhiên cứu Hán-Nôm.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.