Di tích Phật giáo Xứ Đông. Phần II: Những ngôi chùa tiêu biểu ở Hải Dương hiện nay.

Chùa Nhẫm Dương – Di tích lịch sử-văn hóa đặc biệt cấp Quốc gia.

       Trong 4 phủ với 18 huyện của Xứ Đông thì tỉnh Hải Dương nay chiếm đa số đơn vị hành chính và nơi đây cũng từng có nhiều tổ đình-sơn môn đại diện cho các tông phái Phật giáo chủ yếu ở xứ Đông là dòng thiền Tào Động, Lâm Tế và Trúc Lâm.
       II – Các tổ đình, sơn môn Phật giáo điển hình trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
       1) Khu di tích Chùa Nhẫm Dương (Kinh Môn, Hải Dương).
       Quần thể Di tích chùa Nhẫm Dương tọa lạc tại phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Chùa Nhẫm Dương tên chữ là Thánh Quang tự. Chùa được gọi là “Thánh Quang” bởi gắn liền với sự tích “hóa thánh” kỳ lạ của Sư tổ Thủy Nguyệt – người đã mang pháp tu Tào Động du nhập từ Trung Hoa vào Việt Nam.
       Có thể coi chùa Nhẫm Dương là nơi khai sinh ra môn phái Tào Động trong Phật giáo thiền tông Việt Nam. Không chỉ vậy, chùa còn chứa trong mình nhiều nét văn hóa, tâm linh kỳ bí và là một trong những kỳ quan độc đáo nhất nước ta.
       Chùa Nhẫm Dương từng là ngôi chùa lớn, được xây dựng từ thời Trần, thờ Phật, đến thế kỷ XVII chùa là nơi tu hành của thủy tổ thiền phái Tào Động là nhà sư Thủy Nguyệt. Chùa còn mang tên thôn Nhẫm Dương, tên nôm là chùa Nhẫm. Đến khi nhà Trần sụp đổ, ngôi chùa cũng đổ nát theo.
       Vào thế kỷ 17 nơi đây là chốn Tổ của phái Tào Động Việt Nam. Có thể nói đây là khu di tích có lịch sử xuyên suốt từ thời tiền sử đến nay. Đặc biệt đây còn là nơi trụ trì của Thánh Tổ Đạo Nam Thông Giác Thuỷ Nguyệt ̣(1637-1704). Ngài là Đệ nhất tổ của Thiền phái Tào Động Việt Nam ở thế kỷ 17, 18. Sư tên là Đăng Giáp, quê làng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam (nay là thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
       Ngài vốn theo Nho học thi đậu Cống cử tứ trường rồi mới đi tu. Theo thầy học đạo 6 năm rồi đi vân du tham vấn khắp nơi. Năm 28 tuổi Ngài sang Trung Quốc tìm thầy học. Năm 1665, Ngài đến núi Phượng Hoàng, Hồ Châu (Trung Quốc) học đạo với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo đời thứ 35 phái Tào Động, đến năm 1667 trở về nước hoằng dương đạo pháp, trở thành tổ đời thứ 36 của phái Tào Động Trung Quốc và là Tổ đời thứ nhất của Tào Động Việt Nam. Hiện nay tại chùa vẫn còn tháp đá 5 tầng đặt xá lị của Thánh Tổ và bức tượng Thánh Tổ bằng đá xanh có niên đại thế kỷ 18 có khắc trên viền áo chéo trước ngực các chữ Hán: “Nam vô Viên Quang? Thủy Nguyệt hòa thượng Quốc sư” và ở chân bệ tượng có các chữ: “Tam nguyệt sơ lục nhật kị”.
       Người kế tục sự nghiệp của Thánh Tổ Thuỷ Nguyệt làm Đệ nhị Tổ là Hòa thượng Tông Diễn (hiệu Chân Dung), sinh năm 1640, mất năm 1711, quê ở làng Phú Quân, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Ngài là người đã khuyên ngăn vua Lê Hy Tông đuổi các tăng ni vào rừng núi, cấm không cho ở chùa làng quê, khiến cho nhà vua nghe ra, thu hồi lệnh trước. Ngôi tháp đá xanh 3 tầng chứa xá lị của Ngài hiện vẫn được bảo tồn nguyên vẹn phía sau nhà tổ chùa Nhẫm Dương. Năm 1952, chùa bị thực dân Pháp tàn phá nặng nề. Sau năm 1954, nhân dân dựng lại bằng tranh tre nứa lá làm nơi thờ Phật. Sau năm 1975, chùa được xây lại bằng gạch, quy mô nhỏ. Năm 1996 chùa được trùng tu với quy mô lớn, kiến trúc kiểu chữ Công (I), chất liệu bê tông cốt thép. Năm 2008 xây dựng thêm nhà tổ, nhà tăng, nhà khách và nhiều công trình phụ trợ tiếp tục được tôn tạo, mở rộng.
       Chùa Thánh Quang là một tổ đình lớn nổi tiếng của miền Đông Bắc duyên hải. Nơi đây là nơi tu hành của các bậc Thiền sư cao tăng hoằng pháp-lợi sinh, hộ quốc -an dân như Quốc sư Thánh tổ Thuỷ Nguyệt thời Trần cùng Sư Tổ chùa Muống (hay chùa Cáy) ở Hải Dương…Các vị từng tu tập tại động Thánh Hóa.
       Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương và các hang động tại khu vực núi đá vôi xã Duy Tân được hình thành do sự biến đổi của tự nhiên từ hàng triệu năm trước. Hệ thống núi đá vôi, các hang động và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ là những cảnh quan thiên nhiên đẹp hiếm có của Hải Dương và cả nước. Di tích Lịch sử – Văn hóa này có hai hang quan trọng: hang Thánh Hóa và hang Tối.
       Hang Thánh Hóa:
       Xuất xứ tên hang Thánh Hóa phía sau chùa: Thần tích kể rằng, một hôm Hòa thượng dặn môn đồ là có việc lên núi Nhẫm Dương. Nếu sau 7 ngày không thấy về, hãy tới nơi có mùi thơm mà tìm.
       Quả nhiên, các môn đồ lần theo mùi hương tìm tới hang đá phía sau chùa Nhẫm Dương thì thấy ngài ngồi trên một tảng đá, xung quanh ngạt ngào hương thơm thảo mộc, người vẫn còn ấm nhưng đã viên tịch. Bấy giờ là năm Chính Hòa 1704, niên hiệu Hy Tông, thời Lê Trung hưng, lúc ấy ngài 68 tuổi. Và cũng từ sau đó hang có tên hang “Thánh Hóa”. Điều đặc biệt là trên trần hang đá chỗ Ngài ngồi còn in vết lõm giống hình đầu người và dưới nền hang đá có vết bàn chân (giờ vẫn còn). Người ta cho rằng khi tu đắc đạo, ngài đã để lại dấu vết hóa thánh của mình.
       Ngày hóa của ngài sau đấy trở thành khởi nguyên Lễ hội chùa Nhẫm Dương, diễn ra hằng năm từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng Ba (âm lịch).
       Ngoài hang Thánh Hóa, sau chùa còn động Tĩnh Niệm. Ở đó Hòa thượng Thủy Nguyệt cùng các đệ tử thường ngồi thiền và đàm đạo Phật pháp. Sau này, thời kháng chiến chống Pháp, động còn là nơi trú ẩn của các nhà hoạt động cách mạng như Lê Thanh Nghị, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Công Hòa…. Thời chống Mỹ, đây cũng là nơi đóng quân của tiểu đội pháo cao xạ và quân y Viện 7 Quân khu 3 và nhiều chiến sĩ đã hy sinh tại đây khi hang đá bị bom Mỹ đánh sập. Các nhà khảo cổ từng tìm thấy nhiều hiện vật như rìu đồng có vai, thạp đồng, lưỡi xéo đồng thuộc nền văn hóa Đông Sơn, có niên đại thuộc thời hậu kỳ đá cũ.
       Hang Tối:
       Hang Tối nằm bên sườn núi phía Tây Bắc chùa Nhẫm Dương. Tại hang Tối phát hiện nhiều hiện vật thuộc văn hóa Hán, đồ đồng thuộc văn hóa Đông Sơn, các loại vò, lọ, vòng đá cuội, bàn nghiền, chày nghiền thời tiền sử, các loại tiền từ ngũ thù thời Hán đến tiền thời Nguyễn.
       2) Chùa Muống (hay chùa Cáy)
       Chùa Muống (tên chữ là Quang Khánh tự) tọa lạc tại địa phận xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Chùa ở tả ngạn sông Văn Úc. Trước Cách mạng tháng Tám, chùa thuộc xã Dưỡng Mông, tổng Phù Tải.
       Tương truyền, vào thời vua Lý Công Uẩn, dân đến khai khẩn vùng đất Dưỡng Mông, lúc đầu đất chua phèn, chỉ có rau muống là nguồn thức ăn chính. Sau cải tạo, đất trồng được hoa mầu và cây lương thực, cư dân đông đúc, lập thành làng. Để nhớ những ngày đầu gian khổ sống nhờ rau muống, những già làng đề nghị đặt tên là Dưỡng Mông, có nghĩa là nhờ cây rau muống mà tồn tại.
       Chùa Muống là một trong những ngôi chùa được xây dựng sớm ở đất Kim Thành, đến thời Trần do sư Tuệ Nhẫn, một môn đệ của thiền phái Trúc Lâm chủ trì xây dựng, mở rộng khang trang. Đến thời Nguyễn chùa có trên 120 gian, có tài liệu ghi là 124 gian, 32 tháp sư, hàng trăm pho tượng cổ và nhiều bia ký có giá trị.
       Chùa được xây dựng trên khuôn viên rộng 15.000m². Chùa Muống là ngôi chùa lớn và nổi tiếng của Hải Dương. Vua Lê Thánh Tông từng 2 lần viếng thăm nơi đây và đều có thơ khắc vào bia đá.
       Năm 1947, do chiến tranh, chùa bị phá huỷ hoàn toàn. Sau ngày miền Bắc giải phóng, chùa bắt đầu được khôi phục, đến nay cũng chỉ đạt một phần nhỏ của kiến trúc cũ. Riêng hệ thống tháp vẫn được bảo tồn như xưa.
       Lễ Hội chùa Muống bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của sư Tuệ Nhẫn, một cao tăng đồng thời còn là một lương y, người có công xây dựng nhiều chùa lớn như: Vĩnh Nghiêm (Chí Linh), Siêu Loại (Bắc Ninh), Đông Khê, Do Nha (Hải Phòng). Nhà sư viên tịch ngày 27 tháng giêng, năm Ất Sửu, Khai Thái thứ hai (1325). Sau khi mất, nhà sư được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng.
       Lễ Hội chùa Muống là lễ hội lớn của Hải Dương, được kéo dài trong 4 ngày, từ 24-26 tháng giêng âm lịch, thu hút hàng vạn người tham gia. Hiện nay, lễ hội chùa Muống vẫn được duy trì nhưng không được như xưa. Tuy nhiên, một số thuần phong mỹ tục vẫn tồn tại như: vào những ngày hội, các cụ bà phân công nhau đứng hàng dài trước cửa chùa, bưng cơi trầu, niềm nở mời khách thập phương, gây thiện cảm từ đầu cho khách đến dự hội. Trong lễ hội, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như đấu vật, chọi gà, đánh cờ người, bịt mắt bắt dê… từ năm 2009, tại đây đã xuất hiện những trò chơi mới không còn mang tính cổ truyền.
       Năm 1992, Chùa Muống đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp Quốc gia. Hiện nay, nhiều công trình của chùa đã được khôi phục như nhà tổ, tăng phòng, chùa chính và nhiều hạng mục khác. Lễ hội truyền thống cũng từ đó mà được phục hồi, phát triển và là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Hải Dương.
       3) Chùa Giám (hay Nghiêm Quang tự), thuộc xã Định Sơn, huyện Cẩm Giàng – là ngôi cổ tự gắn với thân thế đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh, là công trình kiến trúc nghệ thuật thời Lê được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia ngày 13/3/1974. Căn cứ vào tài liệu lịch sử và bộ dã sử của Ngô Vi Liễn thì chùa được xây dựng từ thời nhà Lý. Đến thế kỷ XIV, Thiền sư Tuệ Tĩnh hưng công trùng tu. Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, chùa dựng xây theo kiểu nội công ngoại quốc kiến trúc thời Lê. Đây là chốn danh lam cổ tích của vùng đất bên hữu ngạn sông Thái Bình.
       Cùng với các hiện vật kiến trúc còn lưu giữ, thì toà “Cửu Phẩm Liên Hoa” có vị trí đặc biệt của chùa Giám, là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo còn giữ nguyên nét tinh tế, phong cách riêng, là bước phát triển trong nghệ thuật điêu khắc gỗ thời kỳ đó. Toà Cửu Phẩm Liên Hoa được công nhận là bảo vật quốc gia. Năm 2017, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định công nhận chùa Giám là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
       4) Chùa Động Ngọ (còn có tên gọi là chùa Linh Ứng, chùa Cửu Phẩm)
       Chùa Động Ngọ thuộc thôn Cập Nhất, xã Tiên Tiến, huyện Thanh Hà. Ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ X (triều Đinh), rồi thời Tiền Lê, đến Lý triều, Trần triều – vùng đất thời đó đã là một trong những trung tâm Phật giáo của cả nước, nổi bật là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.
       Trải qua thời gian, chùa xuống cấp, phải tu sửa lớn vào triều Mạc. Đến thế kỷ XVIII, Hoà thượng Chân Nguyên – Tăng cương trụ trì đã cho xây chùa khang trang, quy mô lớn, có toà cửu phẩm liên hoa và nhiều công trình phục vụ tôn giáo tồn tại đến cuối Triều Nguyễn. Hòa thượng viện chủ Thích Thanh Đạt đã dành tâm huyết dựng xây ngôi chùa trở thành chốn già lam có tính văn hoá tâm linh và nghệ thuật cao. Tương lai, chùa Động Ngọ sẽ là nơi lưu giữ rất nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc của địa phương và của Phật giáo.
       5) Chùa Thanh Mai do Thiền Sư Pháp Loa – Đệ nhị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử sáng lập. Ngôi cổ tự này được xây dựng năm 1329 trên sườn núi Thanh Mai ở độ cao khoảng 200 mét (còn gọi là núi Tam Ban – ba cấp núi nối liền nhau của ba tỉnh Bắc Giang – Hải Dương – Quảng Ninh thuộc vòng cung Đông Triều). Chùa được xây dựng ở thời Trần, là một trong số ít đại danh lam thời đó.
       Thiền sư Pháp Loa (1284-1330) và người kế nhiệm là Thiền Sư Huyền Quang – Vị Tam Tổ Trúc lâm cũng đã mở mang hai khu chùa: Báo Ân (phủ Siêu Loại, nay là xã Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội) và chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh); Ngài còn dựng các am: Hồ Thiên, Chân Lạc, Yên Mã, Vĩnh Khiêm… trở thành một Trung tâm Thiền phái Trúc lâm ở xứ Đông và đồng bằng Bắc bộ.
       6) Chùa Côn Sơn: Chùa Côn Sơn còn có tên gọi khác là Thiên Tư Phúc tự, tọa lạc ở núi Côn Sơn thuộc huyện Chí Linh. Ngôi chùa nổi tiếng này là một trong ba trung tâm lớn thuộc thiền phái Trúc Lâm trước đây.
       Chùa đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 1994 và là một trong những di tích quan trọng thuộc cụm di tích núi Côn Sơn – Kiếp Bạc.
       Chùa do nhà sư Pháp Loa xây dựng từ năm Hưng Long thứ 12, tức năm 1304; đến năm Khai Hựu (1329) được mở rộng thành Côn Sơn Thiền Tự, do sư Huyền Quang làm trụ trì. Chùa được trùng tu mở rộng vào thời nhà Lê, có 83 gian, bao gồm nhiều công trình: Tam quan, lầu trống, điện, tả vu, hữu vu… Ngày nay chùa được tu bổ trang nghiêm, trong đó có tòa Liên Hoa phía sau đã được khôi phục trên nền cổ đã khai quật.
       7) Chùa Trăm Gian: tên tự là Vĩnh Khánh, còn được gọi là chùa An Ninh. Sở dĩ có nhiều tên là vì mỗi người gọi theo một cách nhìn nhận khác nhau, gọi chùa Trăm Gian là vì quy mô kiến trúc chùa có cả trăm gian, còn gọi Chùa An Ninh là tên thường gọi theo tên làng.
       Chùa tọa lạc tại thôn An Đông, xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đây là ngôi cổ tự linh thiêng ở xứ Đông. Năm 1691, chùa được vua Lê Huy Tông cấp tiền xây dựng với quy mô 100 gian, sau này vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chùa được trùng tu nhiều lần.
       Chùa đã được công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp Quốc gia năm 1990. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, hiện nay, chùa chỉ còn lại khoảng 85 gian với các hạn mục lớn như tam quan, 7 gian tiền đường, 3 gian Tam Bảo, nhà Tứ Ân, nhà Tổ, nhà Cung, vườn Tháp, lầu thuỷ đình. Trong thời gian tới đây, chùa sẽ tiếp tục được trùng tu để khôi phục nguyên trạng trước kia.

Phạm Văn Thi, Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học