Trạng Trình Nguyễn Bỉnh khiêm và sắc phong triều Nguyễn.

Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

       SẮC PHONG: Tìm hiểu các loại sắc phong.
       Sắc phong là văn bản của Vua ban, phong chức, tước cho quý tộc, quan lại, khen thưởng những người có công hoặc phong thần xếp hạng các vị thần thành hoàng được thờ trong các đền, đình làng xã.
       – Thường có hai loại sắc phong phổ biến.
       Sắc phong tước: là đạo sắc phong được nhà Vua ban cho các công thần , quý tộc hoặc người có công để phong chức tước. Đây là sản phẩm riêng của các dòng họ, nên thường được lưu giữ tại nhà thờ họ hoặc tại nhà trưởng dòng họ. (Tại nhờ thờ họ Vũ, người viết bài này hiện vẫn lưu giữ được hai sắc phong thời Lê Trung hưng).
       – Sắc phong thần: là đạo sắc phong được nhà Vua ban ra để phong tặng, xếp hạng, công nhận các vị thần linh, thành hoàng … được thờ tự tại các ngôi đình, đền, miếu. Đây là tài sản chung của cả làng, cả xã nên thường được lưu giữ tại đình, đền, miếu.
       Tại đình Cung Chúc, xã Trung Lập (Vĩnh Bảo) vẫn lưu giữ được 18 đạo sắc phong, có 4 đạo sắc phong của vua Khải Định nhân tứ tuần đại khánh gia phong. Tăng trật lên bậc thượng đẳng thần và trung đẳng thần cho 4 vị thành hoàng phụng thời tại bản xã (cùng ngày với sắc phong Trung đẳng thần cho đình xã Trung Am-Vĩnh Bảo thờ thành hoàng là cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Một đạo sắc phong thời Nguyễn.

       Sắc phong là vật phẩm trân quý, có giá trị tư liệu lịch sử, tư liệu văn hóa, phục vụ cho công tác nghiên cứu liên quan đến tên tuổi, quê quán, công trạng các nhân vật lịch sử mà  các vương triều tôn vinh, phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu văn hóa dân gian.
       Nguồn gốc phát tích của vương triều Nguyễn từ câu Sấm Trạng:
       Xin được kết nối và dẫn dắt ngược dòng lịch sử của vương triều nhà Nguyễn để độc giả thấy có sự liên quan thú vị về các sắc phong thành hoàng đình xã Trung Am huyện Vĩnh Bảo.
       Theo chính sử, sự nghiệp trung hưng nhà Lê do một tay Nguyễn Kim (thượng phụ, Thái Sư hưng Quốc công, chưởng nội ngoại sự) tạo dựng. Năm Ất Tỵ (1545) ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 78 tuổi. Quyền hành lúc đó rơi vào tay con rể ông là Trịnh Kiểm. Nguyễn Hoàng làm quan triều Lê từng đem quân đánh Mạc Phúc Hải, lập công lớn được vua Lê phong tước “Đoan Quận Công”. Trịnh Kiểm là anh rể của Nguyễn Hoàng, muốn thâu tóm quyền lực, ám hại và loại bỏ các con của Nguyễn Kim, trong đó có Nguyễn Hoàng.
       Đang lúc nguy nan không biết làm thế nào, Nguyễn Hoàng bèn sai người về Trung Am hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm kế sách. Nhìn lũ kiến đang bò trên hòn non bộ trước hiên nhà, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm phán rằng “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là một giải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời. Nguyễn Hoàng hiểu ra ngay cơ hội ngàn năm có một, bèn nhờ chị gái Ngọc Bảo nói với Trịnh Kiểm, xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn lưu ở Thuận Hóa. Kiểm đồng ý, dâng biểu tâu với vua trao quyền cho Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa, được toàn quyền xử lý mọi việc. Như chim sổ lồng, Nguyễn Hoàng đem người nhà và toàn bộ quân bản bộ cùng đồng hương thân tín và nghĩa dũng Thanh Hóa Nam tiến chinh phục bờ cõi phía Nam. Lúc đó Nguyễn Hoàng 34 tuổi vừa đủ độ chín.
       Đó là nguồn gốc sâu xa sự phân chia chúa Trịnh đằng ngoài, chúa Nguyễn  đàng trong. Dòng dõi các chúa Nguyễn từ năm 1600 đến năm 1802 hơn 200 năm với 10 đời chúa Nguyễn. Nguyễn Ánh thống nhất giang sơn, lên ngôi Hoàng Đế triều Nguyễn, trị vì đất nước từ năm 1802 -1945 và kết thúc ở triều vua Bảo Đại vào ngày 30/08/1945 (được 143 năm với tổng cộng 13 đời vua).
       Các sắc phong nhà Nguyễn cho Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại đình Trung Am Vĩnh Bảo.
       Khi lên ngôi báu năm Gia Long thứ 9 (1810) vua Gia Long đã phong tặng cụ Trạng Trình làm Thành Hoàng đình làng Trung Am với mỹ tự Hùng Văn Bác Hiệp Trình Quốc Công tiên sinh, Dực Bảo Trung Hưng bản cảnh Thành Hoàng. Đặc chuẩn cho bản xã được ghi vào điển lễ thờ phụng cụ mãi mãi về sau.
       Một sự việc đáng chú ý và lý thú nữa là năm Minh Mạng thứ 19 (1838): Minh Mạng (con trai thứ 4 của vua Gia Long) cho tách 5 tổng của huyện Tứ Kỳ là các tổng An Bồ, Bắc Tạ, Viên Lang, Đông Tạ, Can Trì và 3 tổng huyện Vĩnh Lại là Thượng Am, Đông Am, Ngãi Am đặt ra huyện Vĩnh Bảo bao gồm 8 tổng Vĩnh Bảo (có nghĩa được bảo vệ vĩnh viễn), âu cũng là sự đền ơn báo đáp của triều Nguyễn với mảnh đất quê hương của cụ.
       Tiếp theo, đến tháng 9 năm 1924 vua Khải Định tổ chức đại lễ tứ tuần đại khánh mừng thọ 40 tuổi, chi phí cực kỳ tốn kém, hầu hết các tỉnh đều gửi tặng phẩm về mừng vua. Theo các lệ của vua cha nhân đại lễ, Khải Định không quên ban sắc gia phong đăng trật cho Cụ mỹ từ Quang Ý Trung Đẳng Thần.
       Nội dung của sắc phong như sau:
       Dịch Hán – Việt:
       Hải Dương tỉnh, Vĩnh Bảo Huyện, Trung Am xã, Tòng Tiền phục sự Nguyên Tặng Hùng Văn Bác Hiệp Trình Quốc Công Bạch Vân tiên sinh Dực Bảo Trung Hưng bản cảnh Thành Hoàng chi thần. Hộ quốc Tí Dân Nhẫm trứ linh ứng tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự Tứ Kim chính trị.
       Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban báo chiếu đàm ân lễ long đăng trật, trứ gia tặng “Quang Ý Trung Đẳng Thần”. Đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điểm khâm tai.
       Khải Định Cửu Niên, Thất Nguyệt, Nhị Thập Ngũ Nhật.
       Dịch nghĩa tiếng Việt:
       Sắc cho xã Trung Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương từ trước tới nay vẫn thờ phụng thần Nguyên Tặng Hùng Văn Bác Hiệp Trình Quốc Công Bạch Vân tiên sinh Dực Bảo Trung Hưng, bản cảnh Thành Hoàng, cứu nước giúp dân linh ứng đã rõ. Nay nhân dịp Trẫm hưởng thọ 40 tuổi ban chiếu tỏ rõ ân sâu lễ nghi long trọng gia tặng mỹ tự Quang ý trung đẳng thần. Đặc chuẩn cho dân làng được thờ phụng như cũ, ghi nhớ ngày đại lễ mà mở rộng việc thờ cúng.
       Kính cẩn thay:
       Khải Định năm thứ 9 (1924, ngày 25 tháng 7).
       Ghi chú: Cũng dịp đại lễ này vua Khải Định gia phong hằng trật cho 4 vị Thành Hoàng làng thờ ở đình xã Cung Chúc huyện Vĩnh Bảo: thần Quí Minh, thần Thanh Tình Lê Thượng đẳng thần, Cư sỹ phu nhân chi thần, Hải khẩu Đài hàng lên bậc Trung đẳng thần. Các sắc phong này vẫn được bảo quản lưu giữ tại đình làng thôn Cung Chúc.
       Tài liệu tham khảo:
       – Cáo triều đại Việt Nam: Quỳnh Cư – Đỗ Đức Xiên
       – Việt Nam phung tục: Phan Kế Bính
       – Đại Việt Sử ký toàn thư: Nhà xuất bản KH – XH
       – Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cội nguồn khai sáng: Tô Ngọc Thạch
       – Từ điển quan chức Việt Nam: Nhà xuất bản KH – XH
       – Sắc phong triều Nguyễn
       – Từ điển Hán Việt: Trương Văn Giới – Lê Khắc Kiều Lực.

 Sưu tầm – biên soạn: Vũ Bá Xinh.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học