Tiến sĩ Nhữ Văn Lan – ông ngoại của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm .

Tượng thờ thượng thư Nhữ Văn Lan tại từ đường họ Nhữ.

          Nhữ Văn Lan sinh ngày 5 tháng 8 năm Quý Hợi (1443) niên hiệu Thái Hoà, thời Lê Nhân Tông trong một gia đình nhà nho nghèo tại thôn An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, mất ngày 19 tháng 10 năm Quý Mùi (1523).
          Nhữ Văn quê quán xã An Tử Hạ, Tổng Hán Nam, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, Trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng). Từ khi còn nhỏ, ông đã được cho học chữ Thánh hiền, năm 17 tuổi lại cho đi tầm sư, học đạo, dùi mài kinh sử. Ông đã bộc lộ tư chất “thông minh xuất chúng, dĩnh ngộ dị thường, thiên kinh vạn quyển làu thông, ngũ điển tam phần quán triệt…”( Theo “Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả” của Nhữ Thượng Chân (tức Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, hay Nhữ Công Toản) bản dịch của GS sử học Hà Văn Cầu).
          Khoa thi năm Quý Mùi (1463), niên hiệu Quang Thuận thứ tư thời Lê Thánh Tông ông đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khi vừa tròn 20 tuổi. Khoa thi này nổi tiếng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam với ba vị Tam khôi là Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh và Thám hoa Quách Đình Bảo. Ngay sau khi thi đỗ Tiến sĩ, Nhữ Văn Lan ra làm quan dưới triều nhà Lê. Suốt 40 năm làm quan trong giai đoạn thịnh trị nhất của triều Lê sơ cũng như lịch sử phong kiến Việt Nam, ông thường giữ điều cương chính, làm quan thanh liêm, mẫn cán.  “lấy đức cương chính mà giữ mình, lấy đức trung cần mà tu dưỡng. Vua rất mực sủng ái ông”, “được phong Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu…, Văn chương được thiên hạ biết đến, đức trung chính được nể trọng trong triều đình” (Theo tài liệu “An Tử hạ xã, Hán Nam tổng,… thần sắc” lưu trữ tại thư viện Khoa học xã hội, Bản dịch của Viện khoa học xã hội).
          Làm quan dưới triều Lê Thánh Tông – thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nhà Lê sơ cũng như lịch sử phong kiến Việt Nam, Nhữ Văn Lan trải thăng nhiều chức, đến Lễ Khoa cấp sự trung rồi cuối cùng thăng tới chức Thượng thư bộ Hộ.
          Trong 40 năm làm quan dưới triều Lê ông đã đạt đến chức cao nhất này. Nối truyền thống, con cháu nội – ngoại ông sau này hầu hết là những người hiển đạt trong đường khoa cử dưới các triều đại phong kiến.
          Sau nhiều năm liền hưng thịnh, đến triều vua Lê Uy Mục (1505 – 1509) nhà Lê bắt đầu giai đoạn cực kỳ suy yếu và sụp đổ. Nhà Mạc lên thay, rồi những cuộc chiến tranh xảy ra giữa Bắc Triều (nhà Mạc) và Nam Triều (nhà Lê ở Thanh Hóa) do Nguyễn Kim, rồi Trịnh Kiểm phò trợ…Cuối cùng nhà Mạc bị diệt, nhà Lê trung hưng.
          Do lo sợ sự trả thù của các thế lực phong kiến Lê – Trịnh do có Trạng Trình là người tích cực phò tá nhà Mạc, con cháu trong gia đình họ Nhữ đi ẩn tích ở mãi huyện Đường An,phủ Thượng Hồng (sau đổi thành phủ Bình Giang, trấn Hải Dương) lập lên một chi họ nổi tiếng với nhiều người đỗ đạt sau này.
          Nhữ Văn Lan là vị khoa bảng đầu tiên của huyện Tiên Minh, ông tổ khai khoa họ Nhữ Việt Nam (dòng họ Nhữ ở Hoạch Trạch – nay thuộc xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương tôn Nhữ Văn Lan làm thủy tổ). Sau Nhữ Văn Lan đỗ tiến sĩ, có các vị họ Nhữ sau đây đỗ tiến sĩ: Nhữ Mậu tổ (1526), Nhữ Công Tung (1556), Nhữ Tiến Dụng (1664), Nhữ Đình Hiền (1680), Nhữ Trọng Thai (1733), Nhữ Đình Toản (1736), Nhữ Công Chấn (1772), Nhữ Công Vũ (trúng tiến triều). Tất cả 8 vị này đều quê tại huyện Đường An, tỉnh Hải Dương và theo gia phả họ Nhữ ở đây thì có 6 vị là hậu duệ trực tiếp của tiến sĩ Nhữ Văn Lan.
          Tiến sĩ Nhữ văn Lan có 3 người con (hai trai, một gái). Người con trai cả, theo lưu truyền thì mất sớm, 2 người con còn lại đều học hành chu đáo, thành danh ở đời. Con trai thứ hai Nhữ Huyền Minh làm tri huyện Lục Ngạn, sau di cư về xã Lôi Dương, huyện Đường An, trấn Hải Dương. Người con gái ba Nhữ Thị Thục, sau được vua Mạc phong Từ Thục Phu Nhân, là người có học vấn cao, đặc biệt rất giỏi thơ văn, lý số, là người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ khác thường, được đời sau phong cho danh hiệu “Người đàn bà kỳ tài và khả kính”. Bà lấy chồng là giám sinh Nguyễn Văn Định ở bên kia sông Hàn (huyện Vĩnh Bảo) và sinh ra Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), một nhà thơ, nhà chính trị, nhà giáo, nhà tiên tri số một của Việt Nam, danh nhân văn hóa lớn của đất nước.
          Góp phần đào tạo nên một nhân tài như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có công dạy dỗ lớn của ông ngoại Nhữ Đình Lan và bà mẹ Nhữ Thị Thục. Gia phả của họ Nguyễn hậu duệ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử hạ còn ghi lại: “phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng đạt nhi tam tuế ” (Cụm di tích Văn hóa – Lịch sử họ ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm tôn tạo xứng tầm giá trị / An Hương//Báo Hải Phòng ngày 29/7/2010) cho thấy Tiến sĩ Nhữ Văn Lan và con gái Nhữ Thị Thục là người có công nuôi dạy và hình thành nhân cách Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi còn nhỏ.
          Để báo hiếu tiên tổ đằng ngoại, sau này Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cử người con trai thứ 7 là Nguyễn Ngọc Liễn dẫn người cháu nội sang sinh cơ lập nghiệp ở làng An Tử hạ, để trông coi phần mộ và thờ phụng cụ ngoại, tạo nên một chi họ Nguyễn của Trạng Trình ở đây.
          Năm 1503, ở tuổi 60, Nhữ Đình Lan xin về an dưỡng tại quê nhà ở làng An Tử Hạ và được vua ban thưởng vàng bạc gấm vóc rất hậu. “Người về đến quê hương, đem lộc cửa vua ban chia cho bè bạn cố nhân, rồi xây dựng gia đường làm nơi phụng thờ tiên tổ cha mẹ. Người lại lập một ngôi sinh từ ở khu Đoài để làm nơi hưởng thần trăm năm của mình. Người còn để lại cho dân xã ba nén vàng làm của hương khói về sau. Từ đó người đi về nhàn du ở đất khu Đoài, khuyên bảo mọi người về việc nông trang, khuyên việc tiện lợi, trừ bỏ điều hại, rất là có công đối với dân” (Theo “Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả” của Nhữ Thượng Chân (tức Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, hay Nhữ Công Toản). Bản dịch của GS sử học Hà Văn Cầu).
          Về quê làng An Tử Hạ, Nhữ Văn Lan quay lại với nghề dạy học. Nhiều tài liệu chép ông có tài nhìn người biết khả năng, tâm tính nên những trò giỏi nhà nghèo thường được ông quan tâm tạo điều kiện cho ăn học như cho ăn ở trong nhà, cấp đất để làm ruộng, dạy nghề thủ công để độ nhật…
          Trong 20 năm cuối đời sống tại quê nhà, ngoài dạy học, ông có những đóng góp thiết thực đối với đời sống của nhân dân trong vùng như hướng dẫn người dân làm thủy lợi để lấy nước trồng lúa, hoa màu; lại vận động làng xã làm thêm cầu, đường để giao thông thuận lợi… Năm 1523 đời vua Lê Cung Hoàng Nhữ Văn lan qua đời ở tuổi 80. Nhớ công đức ông, nhân dân đã tự lập miếu thờ ông. 300 năm sau khi ông mất, vào triều Nguyễn năm 1848, vua Tự Đức đã sắc phong ông là Phúc đẳng thần với câu: “Cương chính bác đạt phúc thần, chuẩn hứa An Tử Hạ trang, Đoài khu phụng chỉ”. Từ đó, dân làng tôn ông là Thành hoàng và xây đình để thờ cúng.
     Tại cánh đồng phía Bắc thôn Nam Tử ngày nay vẫn lưu giữ khu mộ thiêng mà dân làng quen gọi là mả Nghè. Nơi đây có 3 ngôi mộ của vợ chồng Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan và con gái Nhữ Thị Thục (mẹ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Trải qua nửa thiên niên kỷ nhưng khu đất này gần như không thay đổi, toàn bộ khu mả Nghè vẫn là khu đất trống, rộng rãi. Do tương truyền đây là khu ngôi mộ thiêng nên hàng trăm năm qua không có người dân địa phương nào dám đặt mộ gần khu mả Nghè cũng như xâm phạm đến 3 ngôi mộ thiêng của gia đình họ Nhữ.
          Nhữ Văn Lan được người đời ghi nhớ qua nhiều thế hệ bởi công ơn sinh thành và nuôi dạy con, cháu thành tài. Ông có ba người con gồm hai con trai và một con gái. Người con trai đầu chưa kịp đặt tên đã mất. Người con trai thứ hai là Nhữ Huyền Minh sau làm Tri huyện Lục Ngạn rồi di cư về xã Lôi Dương, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng (sau đổi thành phủ Bình Giang, trấn Hải Dương). Đến đời thứ bảy là Nhữ Tiến Dụng chuyển về làng Hoạch Trạch, kể từ đó nhiều đời phát đường khoa bảng, trong đó có năm vị đại khoa (tiến sĩ). Người con gái duy nhất của Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan là bà Nhữ Thị Thục, kén chồng cho đến khi luống tuổi mới chịu lấy ông Nguyễn Văn Định là giám sinh ở huyện Vĩnh Lại (nay là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) kế bên (bên nội và bên ngoại nằm ở hai bờ con sông Hàn) rồi sinh hạ con trai lấy tên là Văn Đạt (tức Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này).
          Hiện nay ở thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng có Di tích Lịch sử-văn hóa đình Đông (còn gọi là đình hai giáp) thờ hai vị Thành hoàng là “Hộ bộ thượng thư Nhữ tướng công Vương trực Bác đạt Thượng đẳng phúc thần” (Nhữ Văn Lan) của giáp Đoài và “Thiên Quan Hoè Vương” của giáp Đông. Đình  được xây dựng ngay trên khuôn viên đất ở của tiến sĩ Nhữ Đình Lan.

          Đình Đông thờ 2 vị thành hoàng làng: Thượng thư Nhữ Văn Lan và Thiên quan Hòe Vương.

         Tượng thờ tiến sĩ Nhữ Văn Lan và Thiên quan Hòe Vương tại đình Đông.

          Ngoài ra, từ đường họ Nguyễn – Nhữ đã được Thành phố Hải Phòng, con cháu nội ngoại và khách thập phương đóng góp xây dựng lại với quy mô bề thế, theo phong cách kiến trúc cổ đồng bằng Bắc Bộ, là nơi thờ Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan, Bà Nhữ Thị Thục, Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vào ngày 6/1/2014 Ban quản lý di tích Tiến sĩ Nhữ Văn Lan và dòng họ Nguyễn Nhữ đã tổ chức lễ cắt băng khánh thành công trình tâm linh tu tạo lăng mộ Thành hoàng – Tiến sĩ – Thượng thư Nhữ Văn Lan… Đây là công trình đầu tiên được đầu tư nằm trong dự án khôi phục, trùng tu cụm các di tích Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan tại làng An Tử Hạ đã được Thành phố Hải Phòng cấp bằng công nhận là di tích Lịch sử – Văn hóa từ năm 2005 và các quyết định cho phép đầu tư khôi phục, trung tu khác, đó là: Di tích khu mả Nghè, Từ Đường Nguyễn – Nhữ, Đình Đông, Nhà thờ họ Nhữ, Đình Vồng Si
          P.V thi biên soạn, có tham khảo tài liệu:
          – Việt Nam các nhân vật Lịch sử – Văn hóa – Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quỳnh.
          – Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả – Nhữ Đình Toản (bản dịch của GS sử học Hà Văn Cầu).
          – Bách khoa Toàn thư mở Vi.Wikipedia, từ khóa “Nhữ Đình Lan”
          – Website: honhuvietnam.com
          – Báo Hải Phòng online.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *