Sự tương quan giữa nghi lễ Phật giáo với nhạc lễ dân tộc (một trong các chủ đề của hội thảo KH “Nghi lễ Phật giáo Việt Nam” tổ chức tại Hải Phòng ngày 01-02/7/2022).

       Tìm hiểu sự tương quan giữa nghi lễ Phật giáo với nhạc lễ dân tộc theo tôi là tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa nghi thức và âm nhạc Phật giáo với thể loại nhạc lễ dân gian Việt Nam, trong đó chủ yếu là mối tương quan giữa thể loại âm nhạc Phật giáo với nhạc nghi lễ dân gian.
Trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm nghi lễ là gì: Nghi lễ (gốc tiếng la tinh rite) gồm nhiều nghi thức (rituals) hành lễ hợp lại. Nghi có nghĩa là uy nghi, trang trọng, nghi cũng được hiểu là chuẩn mực, là tiêu chuẩn.
Lễ là việc thực hiện các phép tắc, quy định trong đời sống xã hội và tôn giáo, tâm linh. Như vậy, nghi lễ được hiểu là những nghi thức chuẩn mực khi tiến hành một hoạt động xã hội hay tâm linh, tín ngưỡng trang trọng.
       Đối tượng của nghi lễ Phật giáo (người mà hoạt động nghi lễ hướng đến) gồm nhiều thành phần: Đức Phật cùng các đệ tử của Ngài, người xuất gia hay tại gia, phật tử hay không phải phật tử, thánh thần hay chân linh…Thông qua việc thực hiện các nghi thức Phật giáo, các nhà sư sẽ truyền tải giáo lý, tư tưởng Phật giáo hay cầu khấn thần, Phật, chuyển mong ước của chúng sinh tới đức Phật, Bồ Tát, răn dạy người sống, người chết làm điều thiện, sám hối, tu tập để trả nghiệp kiếp trước, dẫn đường chỉ lối cho chân linh thoát khỏi cõi mê đến bờ giác ngộ..v.v..
       Giờ nói về nhạc lễ dân tộc Việt. Trước hết là khái niệm nhạc lễ và Nhạc lễ Phật giáo:
       Nhạc lễ là loại hình âm nhạc phục vụ việc thực hiện các nghi lễ trong đời sống xã hội và tôn giáo, tâm linh. Nhạc lễ Phật giáo là loại hình âm nhạc phục vụ việc thực hiện các nghi thức Phật giáo trong các hoạt động của tôn giáo này.
       Cần phải khẳng định rằng các tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh của người Việt đều sử dụng nhạc lễ để làm tăng hiệu quả của việc thực hành nghi lễ và thu hút đông đảo tín đồ bởi âm nhạc có sức truyền cảm và lay động tâm tư, tình cảm con người. Trong hoạt động này, nhạc và lễ luôn đi đôi với nhau, hỗ trợ lẫn nhau để phục vụ mục đích chung của nghi lễ.
       Đặc điểm của nhạc lễ Việt Nam:
       – Nhạc lễ nước ta mang dấu ấn văn hoá ba tôn giáo Phật-Lão-Nho và tín ngưỡng bản địa, nghĩa là có các yếu tố âm nhạc của ba loại hình tôn giáo này và cả những thể loại âm nhạc dân gian Việt Nam khác.
       Khi nói về nhạc lễ chúng ta thường nghĩ đến Lão giáo và Nho giáo, hai tôn giáo này xem nhạc, lễ là hai nghề trong lục nghệ (6 nghề) Trung Hoa cổ. Tuy nhiên nhạc lễ Phật giáo cũng là nền âm nhạc đặc sắc với sự pha trộn các yếu tố của đạo Lão và đạo Nho cùng tín ngưỡng bản địa như thờ cúng tổ tiên, thánh thần, thờ Tứ phủ, thờ Mẫu…
       Người dân Việt chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa rất lâu đời, chẳng hạn nhạc cụ và lễ phục, phần lớn là tương đồng Trung Hoa, (cả hình thức và nội dung), đến cả nội dung triết học Trung Hoa cũng lồng vào đó. Cụ thể, theo thuyết âm dương ngũ hành thì nhạc cụ chúng ta thường là có cặp, như đẩu phải là một cặp âm dương, trống nhạc cũng một cặp âm dương, ngay cả chỉ một cái trống cơm, cũng phải buộc 2 nắm cơm vào hai mặt trống như thế nào đó, để khi tay vỗ vào phải phát ra âm thanh âm dương (tùm – tum, tình – tang)….Còn lễ phục, cờ xí trang trí trong lễ hội chúng ta thường thấy năm màu, tượng trưng cho ngũ hành. Ngay cả nghi thức đám tang cũng chịu ảnh hưởng Nho giáo, như nhập mạch, thành phục, tiến linh, cáo từ đường, cáo đạo lộ, khai mộ (mở cửa mả)…..
       – Lễ nhạc Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, xuất phát từ lịch sử truyền giáo. Vào khoảng năm 67 Tây lịch, Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc. Lúc bấy giờ Trung Quốc có những tôn giáo lớn, nhất là Khổng giáo đã truyền dạy kinh Lễ, kinh Nhạc cho giai cấp quý tộc thành một hệ thống hoàn chỉnh. Đức Khổng Tử coi Lễ là luân lý quan trọng để kiểm soát hành vi con người và trật tự xã hội, còn Nhạc là để điều hòa, cảm hóa lòng người. Nhạc và Lễ của Nho giáo đã ăn sâu vào đường lối cai trị quốc gia và quan niệm sống của xã hội Trung Hoa thời xưa. Nó ảnh hưởng nhất định đến nếp sống con người và xã hội Á Đông ngày nay. Khi các vị Tổ sư Phật giáo Ấn Độ truyền đạo sang Trung Quốc, các Ngài đã vận dụng nền văn hoá sẵn có của Trung Quốc, như thơ ca, nhạc điệu của hai bộ lễ, nhạc trên, chuyển hoá thành của mình. Nghĩa là các Ngài rút những bài kệ trong Tam Tạng và phổ thành nhạc điệu cổ điển của phương Đông, sáng chế những nghi thức để làm tăng thêm sự trang nghiêm trong những lễ hội Phật giáo. Từ đó bắt đầu chế ra lễ phục, như y hồng, áo hậu, mão hiệp chưởng, tỳ lư… và nhạc cụ, như chuông, mõ, kích tử (khánh) linh (tang), đẩu (tiêu cảnh), ống tiêu, ống sáo, đàn bầu, đàn cò (đàn nhị). .v.v..Và rồi khi Phật giáo Đại thừa truyền từ Trung Quốc tới Việt Nam đã mang theo dấu ấn nghi lễ của văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ phổ biến trên đất Việt. Người Việt trải qua quá trình tiếp thu có chọn lọc hai nền văn hóa này đã lược bỏ những gì không phù hợp truyền thống Việt Nam để hình thành nên nền văn hóa Phật giáo Việt Nam ngày nay.
       – Ngoài ảnh hưởng hai nền văn hoá lớn ở trên, chúng ta còn tiếp thu văn hoá, tập tục người Champa, Chân Lạp, Khrme…cho nên nhạc lễ Phật giáo Việt Nam rất đa dạng.
       Âm nhạc Phật giáo sinh ra không phải để thực hiện chức năng giải trí như âm nhạc dân gian truyền thống khác mà thực hiện chức năng chuyển tải tư tưởng, giáo lý, kinh sách trong nghi lễ. Khi phật giáo Đại thừa truyền vào các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á thì các quốc gia khu vực này đã dịch tiếng Phạn (Sanskrit) sang tiếng nước mình để phổ cập giáo lý nhà Phật. Lúc đó người Việt dùng văn tự Hán-Việt,tạo ra cơ sở đầu tiên cho việc dịch thuật và đọc tụng kinh. Đó cũng chính là những bài hát tiếng Việt (có thể gọi kiểu đọc-hát kinh sách như vậy) đầu tiên được ghi nhận, còn gọi là thanh nhạc Phật giáo, một dạng nhạc nghi lễ. Trong khi ấy, nghiên cứu âm nhạc dân gian Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát hiện được loại ca hát cổ nào cùng thời. Vậy có thể nói âm nhạc Phật giáo có trước âm nhạc dân gian nước ta. Loại nhạc nghi lễ ấy đồng thời với công cuộc Việt hóa tiếng Phạn cũng như cả tiếng Hán với chữ viết bằng tiếng Hoa và đọc – “hát” bằng âm Việt mà chính người Trung Hoa cũng không hiểu đã làm cho nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam mang bản sắc riêng của dân tộc.
       Với việc thực hiện chức năng bổ trợ việc hành lễ trong nghi lễ Phật giáo, âm nhạc Phật giáo nói riêng, các hình thức âm nhạc tôn giáo cổ truyền khác nói chung (như Hát Văn, Hát then, Nhạc Tang lễ,…) cho đến nay rất ít có sự biến đổi (ít nhất là cho đến khi có sự du nhập một cách mạnh mẽ của văn hóa phương Tây nửa cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX).
       – Âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam mang yếu tố truyền thừa. Các liệt vị, tổ sư sáng tác ra các thể loại thanh nhạc và truyền lại cho các lớp hậu bối kế thừa. Dường như âm nhạc truyền thống nghi lễ Phật giáo Việt Nam không có tên tác giả mà là những tác phẩm mang tính khẩu truyền.
       – Âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam là một thể loại âm nhạc đặc sắc, phong phú và mang tính vùng, miền.
       Nhạc nghi lễ Việt Nam mang bản sắc vùng miền và đa dạng, phân theo 3 vùng chính Bắc – Trung – Nam với những nét chung và riêng do ảnh hưởng của nghệ thuật dân gian mỗi vùng. Chúng ta có thể thấy âm nhạc Phật giáo thể hiện sự khác biệt trong từng vùng miền: Bắc, Bắc Trung bộ, Huế, Nam Trung bộ, và Nam bộ. Ví dụ:
Thể loại tán của miền Bắc khác với tán của miền Trung và tán miền Nam. Tán tang năm lại khác với tán tang sáu và cũng khác với phạm lễ, tán tẩu. Đó là chưa kể đến các nhánh nhỏ như ở miền Bắc đã có hai truyền thống tán gọi là “đọc canh Bắc” (Hà Nội) và “đọc canh Nam” (Hải Phòng, Thái Bình).
       Nghi lễ Phật giáo gồm có hai phần: Phần lễ và phần nhạc. Phần lễ gồm các nghi thức tán, tụng, ca ngâm và thứ tự, điệu bộ hành lễ (còn gọi là văn chương, thủ tục lễ nghi).
Phần nhạc là âm nhạc biệt dụng cho việc hành lễ, được quy định riêng cho từng loại lễ nghi. Ngoài ra trong nghi lễ Phật giáo còn có trang phục khi hành lễ gọi là pháp phục.
       – Nghi lễ Phật giáo nước ta mang dấu ấn hội nhập nghi lễ dân gian bản địa và có sự giao thoa giữa các nghi lễ tôn giáo, tâm linh.
       Chúng ta thấy rằng, trong quá trình hoằng pháp, Phật giáo sử dụng rất nhiều lễ nghi của Lão – Nho, như học trò lễ và xướng lễ cúng là của Nho gia dành cho lễ cúng tế đình thần, nhưng các sư muốn lễ cúng Tổ trang nghiêm nên chư Tăng cũng mặc đồ lễ, đàn trình dâng lục cúng .v.v …Ngược lại, trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng thờ Tứ phủ của người Việt đôi nghi cũng có những giá hầu thánh mà cung văn đọc – hát kiểu tụng kinh một đoạn cầu cúng mở đầu bài chầu văn để thỉnh nhân vật được tôn thờ từng quy y Tam bảo.
       – Nghi lễ Phật giáo nước ta mang dấu ấn văn hóa vùng, miền:
       Bàn về sự tương quan giữa nghi lễ Phật giáo với nhạc lễ dân tộc nghĩa là chúng ta bàn về mối quan hệ tương hỗ, sự tương đồng và khác biệt giữa nghi lễ Phật giáo (ở đây chủ yếu là âm nhạc) với nhạc lễ dân tộc.
Ở nước ta, tùy theo từng vùng, miền mà nghi lễ Phật giáo có phần giống nhau và khác nhau, mang bản sắc riêng của bản địa. Nghi lễ Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa nghệ thuật dân gian tại vùng, miền đó nhằm mục đích để dân chúng dễ quen với loại nghi lễ, từ đó dễ dàng tiếp thu và giác ngộ Phật pháp.
       – Khi Phật giáo Việt Nam đã trở thành Phật giáo bản địa thì nghi lễ Phật giáo nước ta là nghi lễ có sự hòa nhập của nghi lễ dân gian, nghi lễ cung đình (nhất là phần âm nhạc) và mang sắc thái của ba miền Bắc, Trung, Nam.
       Về vấn đề này, Hòa thượng Thích Trí Giác -Trưởng ban Nghi lễ Phật giáo tỉnh Bình Định trong tham luận tại Hội thảo “Nghi lễ Phật giáo trong đời sống văn hóa tâm linh” tổ chức tại tỉnh Khánh Hòa từng cho rằng:
       * “Nghi lễ Phật giáo Bắc bộ thì ảnh hưởng giọng điệu của văn hóa nghệ thuật ca trù”. (Tôi cho rằng nó còn chịu ảnh hưởng của cả nghệ thuật hát chèo – loại hình ca nhạc sớm có từ thời nhà Lý (khoảng thế kỷ XI) và là nền nghệ thuật đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc bộ).
       * Nghi lễ Phật giáo Huế “Trung bộ” ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật nhã nhạc cung đình và phong cách tán tụng giống như hò mái đẩy, Nam bình
       * Nghi lễ Phật giáo Nam Trung bộ (như Bình Định, Phú Yên) ảnh hưởng giọng điệu của văn hóa nghệ thuật hát tuồng, bài chòi.
       * Nghi lễ Phật giáo Nam bộ ảnh hưởng của dân ca Nam bộ như cải lương, vọng cổ.
       * Nghi lễ Phật giáo Nam tông chịu ảnh hưởng các nền văn hóa dân tộc Khmer”.
       Là một người nghiên cứu văn hóa dân gian, tôi tán đồng quan điểm trên của Hòa thượng Thích Trí Giác và có thể nói đây cũng là một trong những mối liên hệ tương quan giữa nghi lễ Phật giáo và âm nhạc dân gian của dân tộc.
       Các hình thức nhạc lễ dân tộc và đặc trưng của nó:
       Trong đời sống xã hội, tín ngưỡng xưa, người Việt thường thực hành 5 hình thức lễ chính: Quan, hôn, tang, tế, hầu đồng. Trong đó “Quan” là hoạt động đón, rước quan lại, người đỗ đạt khoa cử cao; “Hôn” là việc cưới hỏi; “Tang” là đám ma; “Tế” là hoạt động tế lễ trời, đất, thần thánh, quỷ thần, tổ tiên và hầu đồng là nghi thức thỉnh thánh thần nhập hồn, chứng đàn do các thanh đồng tiến hành.
       Khi tiến hành các nghi thức lễ bái người ta dùng các thể loại nhạc truyền thống đặc trưng để phục vụ cho hoạt động này gọi là nhạc lễ dân tộc. Nó vừa có giá trị tâm linh, tín ngưỡng vừa có giá trị nghệ thuật.
       Về tâm linh, nhạc lễ được trình tấu không phải chỉ với mục đích làm nền cho nghi thức lễ bái, hoặc để người tham dự lễ thưởng thức. Đó là thể nhạc dâng, cúng. Trong không gian tín ngưỡng và tâm linh ấy, người Việt xem những tiếng trống, kèn, phách… như biểu hiện của lòng thành, một thứ cầu nối bằng âm thanh mang tính biểu tượng để chuyển dẫn mong muốn của người sống đến trời đất, thần thánh, tổ tiên, chư vị anh hùng, liệt sĩ, người đã khuất… Nhạc lễ là một trong những món ăn tinh thần mà đời sống tâm linh con người cần phải có, vì thiếu nhạc thì đời sống khô khan, đơn điệu; thiếu lễ thì xã hội hỗn loạn, mất đạo đức. Chính vì vậy, nhạc lễ giúp cho cuộc sống xã hội thanh cao và tốt đẹp hơn.
       Trong hoạt động đời sống và tâm linh người Việt, bất cứ lễ nghi nào cũng cần phải có nhạc, không có nhạc sẽ không thành lễ. Nền âm nhạc dân gian của người Việt là nhạc ngũ âm tương ứng với ngũ hành, mang triết lý phương Đông sâu sắc. Dàn nhạc lễ cũng vậy, gồm 5 yếu tố với các khí nhạc: kim (bạc, đẩu, thanh la), mộc (cặp trống lễ), thủy (kèn), hỏa (đờn cò), thổ (trống bồng). Khi hòa điệu cùng nhau trong nghi thức thì nhạc lễ thể hiện vai trò “hòa Trời – hòa Đất – hòa Con Người ” (Thiên-địa-nhân). Nhạc lễ là phương tiện để con người bày tỏ lòng thành kính của mình với trời đất, thánh thần trong các lễ tế ở đình, đền, chùa, miếu; với tổ tiên, những bậc bề trên trong lễ tang, giỗ chạp. Nó thuộc về tín ngưỡng, về “phần hồn” nên trở lên thiêng liêng.
       Ngày nay, do cơ cấu xã hội hiện đại, các nghi thức trong lễ quan không còn nữa, hôn lễ cũng chuộng nhạc trẻ, nhạc tài tử, cải lương. Nhạc lễ chỉ còn xuất hiện trong những dịp cúng bái, tế lễ ở đình, đền, chùa, miếu, lễ hội dân gian và trong đám tang. Thành thử người dân ngày càng xa lạ với nhạc lễ, nghĩ đơn thuần nhạc lễ là nhạc đám ma hay tệ hơn không hề biết đến sự tồn tại của dòng nhạc dân gian đặc sắc là nhạc lễ. Đáng chú ý, sau khi UNESCO vinh danh Nghi thức thờ Mẫu của người Việt là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại thì hoạt động hầu đồng được phổ biến công khai, trong đó nghệ thuật hát chầu văn hầu thánh đặc sắc phục vụ nghi thức này đã lôi cuốn ngày càng đông người nghe.
       Thể loại và mối liên quan mật thiết giữa âm nhạc nghi lễ Phật giáo và nhạc lễ dân tộc:
       Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam có 10 thể loại, đó là: Tụng, trì, niệm, tán, sám pháp, bạch, thỉnh, xướng, kệ, đọc. Các thể loại này không loại nào giống loại nào.
       Âm nhạc Phật giáo nước ta có khá nhiều điểm tương đồng với âm nhạc truyền thống Việt Nam, từ nhạc cụ, nét nhạc, thang âm, điệu thức, tiết tấu đến nhịp phách, chỉ khác nhau về mục đích. Nhạc lễ dân gian truyền thống phục vụ các nghi thức hành lễ của 5 hình thức sinh hoạt đời sống và tâm linh nói trên (quan, hôn, tang, tế, hầu đồng) còn nhạc lễ Phật giáo nhằm truyền bá giáo lý nhà Phật, độ sinh, độ tử.
       Nguyên tắc đệm các nhạc cụ giai điệu ở âm nhạc Phật giáo không khác gì lối đệm phổ biến trong nhạc cổ truyền nói chung. Đó là lối đánh nương theo giai điệu lời kinh câu kệ, quấn quýt và song hành cùng tiếng tán- tụng.
       Một số thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống cũng được các nhà sư sử dụng để đặt những bài tán.
       Về nhạc khí, ngoài một số dụng cụ đặc thù như mõ gia trì, chuông gia trì, đẩu, mộc bảng, thì trong Phật giáo cũng sử dụng các nhạc khí truyền thống dân tộc như đàn nhị, đàn nguyệt, kèn, trống phách. Ngoài ra, dàn nhạc lớn dân tộc còn được dùng cho các Đàn pháp hội- là những đàn lễ riêng trong phạm vi nhà chùa, như lễ cúng 49 ngày cho một nhà sư mới mất, lễ khánh thành chùa, lễ hô thần nhập tượng..v.v..
Trong những nghi lễ Phật giáo như thỉnh linh, tiễn linh, chẩn tế (đại đàn, trung đàn) dàn nhạc truyền thống dân tộc như ngũ âm, bát âm cũng được dùng.
       Về bài bản thì nhạc lễ dùng trong Phật giáo giống như nhạc lễ dùng trong cung đình và ngoài dân gian, ngoài một vài bài bản đặc biệt như bài “Trống bát nhã”.
       Thang âm điệu thức hầu như giống nhau hoàn toàn, ngoại trừ tiết tấu trong các bài tán.
Giữa nhạc Phật giáo và nhạc dân tộc ít nhiều có sự khác nhau về tiết tấu: Nhạc dân tộc chỉ có nhịp hai, nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu mà không có nhịp đánh theo chu kỳ như trong các bài tán của Phật giáo.
Âm nhạc Phật giáo tuy khá giống và có sự vận dụng nhiều yếu tố đặc sắc của âm nhạc dân gian nhưng ngược lại cũng góp phần làm giàu thêm cho âm nhạc dân gian, cụ thể:
       * Nhạc Phật giáo có phong cách “Thài” (cách điệu hóa ngôn ngữ theo những
chữ nhạc trong thang âm ngũ cung mà không chú trọng đến sự lên xuống đa dạng của
nét nhạc) đã được các ca công trong cung đình vận dụng vào việc biểu diễn.
       * Hơi Thiền với tiết tấu khoan thai, nghiêm trang trong nhạc Phật giáo cũng được vận dụng để ngâm những bài thơ (trong ca trù), hát văn tấu (chầu văn hầu thánh): Là những dạng thanh nhạc đọc – hát mang vị thiền, đem lại tâm bình an cho người nghe.
       * Truyền thống tụng, tán trong đạo Phật thể hiện các nhạc điệu trong âm nhạc dân tộc đã có và thêm vào đó những gì trong âm nhạc dân tộc không có để làm phong phú thêm cho âm nhạc của đất nước mình.
       * Điệu múa cung đình “Lục cúng hoa đăng” (múa đèn) chính là phỏng theo điệu múa lục cúng trong Phật giáo khi dâng hương, đăng, hoa, trà, quả, thực. Hoặc điệu múa “Đấu chiến thắng Phật” trong cung đình cũng từ một điệu múa trong chùa mà ra.
       Tìm hiểu các thể thanh khí trong lễ nhạc Phật giáo để thấy nghệ thuật nhà chùa đã tiếp thu nghệ thuật dân gian và làm nó đạt đến độ tinh diệu ra sao:
       Trên hệ thống chùa chiền thuộc phạm vi đồng bằng và trung du Bắc Bộ, các lối giọng của nhạc Phật giáo được xem như cổ xưa nhất, dùng cho tất cả các nghi thức cúng bái nói chung có thể tóm lược như sau:
       Xướng lễ là lối giọng tính chất man mác, tha thiết, nhịp điệu đồng độ nhẩn nha, cuối mỗi câu đều giãn nhịp với nét giai điệu ngân nga. “Nhất thiết cung kính, nhất tâm kính lễ thập phương pháp giới thường trụ Tam bảo!” là câu xướng lễ rất phổ biến trong khoa cúng chùa và ngoài đời. Về mặt cấu trúc, xướng lễ là phần mở đầu cho giọng Tụng nhưng không đệm mõ, chỉ điểm chuông báo khi hết câu.
       Tụng là giọng đọc kinh dạng nói – hát có ngữ điệu, nhịp đồng độ, mỗi mõ tương ứng một chữ trong bài kinh. Giai điệu giọng Tụng được phân bố trong một âm vực hẹp. Cứ hết một trường đoạn bài kinh lại điểm 1, 2 hay 3 tiếng chuông với những quy định chặt chẽ. Thế nên người thực hành bao giờ cũng kèm tay chuông tay mõ.
Tụng là lối giọng đầu tiên mà người tu hành phải học khi bước chân vào cửa thiền.
       Thỉnh là dạng nói – hát với tuyến giai điệu lên xuống liên tục như những đợt sóng xô. Có 2 loại Thỉnh. Thỉnh lối hơi Phú tươi sáng. Bên cạnh đó còn có giọng Thỉnh lối hơi Ai (giống giọng Than), dùng trong đàn cúng chay. Thỉnh thường đi liền với giọng Bạch như một dạng liên khúc.
       Bạch là dạng nói – hát có ngữ khí nhịp điệu tương tự như giọng Thỉnh, nhưng khác ở chỗ đường tuyến giai điệu nhẩn nha, bình ổn trong một âm vực hẹp. Có 2 loại Bạch: hơi Phú và hơi Ai. Bạch hơi Phú được chia tách theo các câu văn. Cứ đọc câu 4-6 từ thì nghỉ một, nếu câu 3 từ thì thêm hư từ “í a” (như kiểu hát chèo) ở cuối thay cho chữ thứ tư. Còn Bạch hơi Ai thì khác hẳn, giai điệu đi liền mạch kiểu như giọng Thỉnh.
       Tấu là giọng thường dùng để đọc sớ, nhịp điệu nhẩn nha, giai điệu ngân nga, hòa nhã. Bên cạnh giọng Tấu phổ biến còn có loại Tấu trạng theo một âm điệu riêng.
       Chú có thể coi là một lối Tụng với quy định giọng đọc thầm thì, nhịp điệu càng nhanh càng tốt. Các bài Thần Chú vốn được quan niệm là chỉ có chư Phật mới hiểu và không bao giờ dịch nghĩa mà các nhà sư thường gọi là “bí mật bất phiên”.
       Chú là phần để người thực hành tâm tưởng đến chư Phật chứ không nhằm đọc cho người xung quanh nghe.Thế nên kỹ thuật niệm Chú, lưỡi thu vào không được để chạm lên hàm trên và hàm dưới, miệng khép hờ tạo thành một xoang giọng nghe mờ ảo, huyền bí, như thể đọc trong miệng không cho chữ thoát ra, cốt sao không để người khác nghe rõ là một hình thức nghi lễ độc đáo.
       Mức độ cao nhất là lối Mật Chú. Khi đó nhà sư lẩm nhẩm tụng niệm chỉ nghĩ đến bài Chú với tuyến giai điệu vận hành trong tâm tưởng, tuyệt đối không phát ra âm thanh. Ở trường hợp này, cũng có thể ví như sự “im lặng” chính là “đỉnh cao của âm thanh”!
       Kệ là lối giọng có nhịp điệu tự do, ngân nga ngâm ngợi trường hơi như lối hát- kể. Trong âm nhạc Phật giáo, Kệ là giọng duy nhất dùng thể thơ 7 từ, còn tất cả các giọng khác đều dùng văn xuôi.
       Có 2 lối Kệ: hơi Phú và hơi Ai. Trong các nghi thức, Kệ thường dùng để mở đầu các giọng khác, có giá trị giống như phần vỉa trong Chèo hay bỉ trong Chầu Văn, Quan họ. Nhưng khác với bỉ và vỉa- mang nghĩa cấu trúc, Kệ là một lối giọng có vị trí riêng với những trường hợp diễn xướng độc lập. Có dạng liên khúc Kệ- Tụng. Nhưng phổ biến nhất là dạng Kệ dùng để gối vào Canh.
       Canh là giọng có lối nhịp điệu chậm rãi, dàn trải hết mức. Canh dùng rất nhiều hư từ “í, a, ê” như trong hát ca trù, được kéo dài tối đa để phát triển giai điệu ngân nga đặc trưng. Có nhiều mầu sắc âm nhạc khác nhau như Canh Phú, Canh Hãm, Canh Ai, Canh Sổng.
       Về sau người ta còn sáng tạo thêm các giọng Canh Xuân, Canh Sa mạc, Canh Cò lả nhưng ít dùng. Trong đó, lối Canh Ai thường dùng cho khoa cúng Thanh trai (Trai đàn), tính chất man mác, than vãn buồn thương.
       Lối Canh Sổng hay Canh Phú dùng cho nghi thức vui tươi, cầu an. Canh thuộc loại nhịp một, được coi là phần khó nhất trong tất cả các lối giọng của nhà chùa. Nói cách khác, Canh là đỉnh cao của nghệ thuật diễn xướng trong hệ thống âm nhạc Phật giáo. Người ta gọi việc diễn xướng lối giọng này là tán Canh chứ không gọi hát hay xướng Canh. Về mặt cấu trúc, Canh chia làm nhiều phần, tương đương với trổ của làn điệu. Xen giữa các phần là một đoạn phân ngắt gọi là đận, tương đương với lưu không. Đận là nơi các nhạc cụ đua chen trên nền nhịp điệu rập ràng của cả dàn nhạc.
       Trong âm nhạc Phật giáo, Canh và Kệ là những lối giọng có nghệ thuật diễn xướng phức hợp, thường do ít nhất 4 người chia thành 2 bên tả hữu (Tả già và Hữu già) hát đồng ca.
       Có giả thuyết cho rằng, cơ sở của nghệ thuật tán Canh là học theo lối phát triển giai điệu với những hư từ “í a, ới a” của hát Chèo, có từ đời Huyền Quang – Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm. Vào giai đoạn lịch sử đó, các nhà sư đã sáng tạo ra lối tán Canh để nâng cao giá trị nghệ thuật của nhạc Phật giáo trong các khoa cúng nhằm thu hút đông đảo Phật tử.
       Cho đến nay, nghệ thuật tán Canh vẫn là một hiện tượng được các nghệ nhân nhạc cổ truyền rất kính nể vì không phải ai cũng có thể thực hiện dễ dàng.
       Đặc biệt, trong giới nghề, lối tán Canh của Hà Nội được đánh giá là khó nhất. Các nghệ nhân cho biết, ở các vùng Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng.., bất cứ một thầy cúng, nhà sư nào cũng có thể kết hợp với nhau tán Canh trong khoa cúng, nhưng riêng ở Hà Nội, dù trình độ giỏi đến mấy nhưng nếu không cùng nhóm thì không thể cùng nhau tán Canh. Muốn hòa nhập, các thành viên buộc phải có thời gian nhất định để rèn luyện chung mới mong đạt độ hòa quyện nhiều người như một.
       Thán (còn gọi Than) – lối giọng bi ai thường dùng để hát bản Văn tế cô hồn ở phần cuối lễ cúng Trai đàn, Giải oan, Đàn chay… để giúp vong linh gia tiên và chúng sinh cô hồn được hưởng vật phẩm cúng tế. Giọng Thán nhịp điệu tự do như ngâm ngợi, cuối mỗi trổ, bao giờ cũng có phần láy đuôi đặc trưng dạng điệp khúc “Cô hồn ơi! Cô hồn ơi! Thụ cam lộ vị của người cúng dâng”
       Trong hành lễ Phật giáo có sự khác biệt ở lối giọng đọc- hát- xướng của riêng giới cao tăng với nét đặc trưng không thể lẫn. Ở đây, do đặc điểm các bài kinh kệ vốn rất dài nên các nhà sư thường sử dụng kỹ thuật ém hơi đẩy lên trên vòm xoang mũi (tạm gọi là hơi mũi).
       Kỹ thuật hát này luôn đi liền với lối khẩu hình khép hờ, tạo hiệu quả như thể âm thanh chỉ gói gọn trong khoang miệng, nghe sắc nét với độ vang đều đều không đổi. Hát xướng kiểu đó, các nhà sư sẽ tiết kiệm được hơi, mới mong đủ sức để có thể đảm bảo thời lượng của công việc tụng niệm- xướng lễ thường nhật hay một đàn cúng lớn kéo dài.
       Ngược với lối hơi mũi là kỹ thuật vận hơi nén bằng cơ bụng (tạm gọi là hơi bụng). Kỹ thuật ém hơi dạng này được gọi là “tận thổ can tràng”, rất phổ biến trong giới nghệ sĩ nhà nghề của các loại nhạc cổ truyền Bắc Bộ.
       Lối hơi bụng có đặc tính biểu cảm sâu sắc, dễ làm rung động người nghe nhưng hát lâu sẽ tốn hơi và khá mệt. Trong nhạc cổ truyền Việt Nam, người được coi là hát hay thì bao giờ cũng phải vận hơi bụng. Nhưng với giới nhà sư thì không cần như vậy, bởi mục đích giọng đọc ở đây cốt sao đủ âm vang để truyền tải nội dung kinh kệ tới người nghe là được. Thế nên nghe giọng tụng niệm – xướng lễ của họ sẽ có một cảm giác khác biệt, khó lẫn.
Đối với giới các thầy cúng ngoài đời, theo mối quan hệ hợp tác bao năm tháng với nhà chùa nên thường họ cũng chịu sự ảnh hưởng của lối giọng hơi mũi. Tuy nhiên, trong số họ, tùy từng trường hợp, cũng có không ít thầy cúng vẫn dùng lối vận hơi “tận thổ can tràng” để hiệu quả hát xướng trong đàn cúng lễ thêm phần hấp dẫn, truyền cảm.
Trong quá trình hội nhập và phát triển cùng văn hóa nghệ thuật dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã khai thác tối đa hệ thống âm điệu của kho tàng dân ca dân nhạc, để hình thành một phương pháp âm nhạc riêng nhằm thu hút đông đảo Phật tử đến với giáo lý, tăng niềm tin nơi cửa Phật.
       Cụ thể, bên cạnh những lời thuyết giảng dung dị, đạo Phật có cả một hệ thống âm điệu chuyên dùng để chuyển tải một kho tàng kinh kệ đồ sộ mà không một loại hình dân ca, dân nhạc nào có được cùng những thông điệp tôn giáo với sự phụ trợ của các nhạc khí như chuông, mõ, khánh, trống…
       Tóm lại, trong quá trình hội nhập và phát triển cùng văn hóa – nghệ thuật dân tộc, nhạc Phật giáo Việt Nam đã khai thác tối đa hệ thống âm điệu của kho tàng dân ca dân nhạc, để hình thành lên một nền âm nhạc riêng, đặc sắc gọi là nhạc lễ Phật giáo Việt Nam, làm phong phú thêm kho tàng nhạc dân gian truyền thống Việt Nam.
Để giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam chúng ta cần bảo tồn và phát huy những giá trị của loại hình âm nhạc này, không để nó bị mai một, biến tướng vì bị ảnh hưởng trong một xã hội đang có nhiều trào lưu, thể loại âm nhạc như hiện nay.

PV. Thi, Hội Văn nghệ Dân gian HP.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.