Những người xây dựng thành phố cảng Hải phòng từ thuở ban đầu (1875- 1890)

Đô thị Hải Phòng những năm đầu thế kỷ 20

     Cách đây 5 năm, chúng tôi đã có bài viết trên báo Hải Phòng rằng Hòa ước Giáp Tuất năm 1874, tiếp đó là Thương ước Đinh Dậu năm 1875 ký giữa Việt Nam và  Pháp có ý nghĩa thúc đẩy Việt Nam vào con đường hội nhập.
     Viết bài tiếp theo này, chúng tôi chỉ đưa ra một số tư liệu trong những năm đầu “hội nhập” ấy với quan điểm lịch sử- cụ thể về những con người, những địa danh, những sự việc nhằm cung cấp vài nét chấm phá về sự hình thành ban đầu của Hải Phòng.
      Thương ước 1875 là bài học vỡ lòng về công tác cảng vụ, hải quan, ngoại thương cho cảng Hải Phòng.Dù có sự bất bình đẳng, nhưng qua hai hiệp uớc ấy, người ta vẫn thấy chủ quyền và lợi ích của nước Đại Nam.
    Người tham gia soạn thảo Hòa ước 1874, về phía Pháp là Paul Philastre, một sĩ quan. Từ 13 năm trước (1861) ông đã có mặt ở Nam Bộ. Ông hiểu chữ Nôm, chữ Hán, tinh thông ngôn ngữ và hiểu biết sâu sắc văn hóa Việt Nam. Năm 1874, chính ông đã dịch bộ Luật Gia Long ra tiếng Pháp. Cũng chính ông nhận ra sự yếu kém của triều đình Tự Đức, ông viết: Nước An Nam chỉ có thể trỗi dậy bằng một cuộc cải cách toàn diện, và cuộc cải cách ấy có tính chất toàn quốc. Nhà vua hiện đại không thể làm cải cách và còn chống lại cải cách”.
    Vua Tự Đức tự đánh giá Philastre qua bản Hòa ước Philastre, có ý nghĩa như một bản giấy khai sinh cho sự ra đời thành phố cảng  Hải Phòng.


Bến tầu Quảng Đông (ven sông Tam Bạc, gần chợ Sắt) những năm 30 của thế kỷ 20.

       Từ năm 1875 đến năm 1890 có tất cả 14 quan chức người Pháp gồm 7 viên lãnh sự và 7 viên Công sứ tại thành phố.
   Nói về thâm niên làm việc tại Hải Phòng thì khó ai bằng viên lãnh sự Louis Turc, chính ông này cùng với Tổng đốc Phạm Phú Thứ, dù muốn hay không, đã là những người đầu tiên xây dựng nên thành phố Hải Phòng. Louis Turc là người đặt viên gạch đầu tiên cho những tòa nhà công vụ của người Pháp ở đây. Trong giai đoạn 5 năm( 1875-1880) đầu tiên ấy, giá trị xuất nhập khẩu qua cảng Hải Phòng đã tăng gần 20 lần.
     Tuy nhiên chúng tôi muốn giới thiệu về 2 Công sứ Pháp sau này là Jean Thomas Raoul Bonnal, (1847- ?), gọi tắt là Bonnan và Léon Jean Laurent Chavassieux (1848-1895), gọi tắt là Savatsiơ.
      1.Về Công sứ Bonnan:
     Bonnan làm Công sứ ở Hải Phòng từ đầu năm 1885 đến cuối năm 1886.Thành tích nổi bật của ông là bản quy hoạch đô thị đầu tiên xây dựng từ năm 1885.
      Việc quan trọng đầu tiên là san lấp mặt bằng và làm trong sạch môi trường khu vực thành phố Hải Phòng lúc đó chỉ mới gói gọn trong phạm vi quận Hồng Bàng và cảng Hoàng Diệu ngày nay. Khu vực này là một tổ hợp những đầm ao, sình lầy hắt lên mùi bùn tanh tưởi dưới nắng gắt vùng nhiệt đới. Trong cuốn sách xuất bản năm 1885, tác giả Calỉte Anhbe mô tả: Ở Hải Phòng chỉ lưa thưa vài căn nhà xây theo kiểu Âu châu, nằm chen vào là các ngôi nhà tranh tre nứa lá. Đất đai phần lớn thuộc sở hữu của người Hoa. Họ dựng những túp lều cho người Việt thuê để kiếm lời.
     Bonnan đã sớm cho đào kênh vành đai từ khúc cong sông Tam Bạc đổ ra sông Cấm, phía cảng Hoàng Diệu ngày nay. Kênh vành đai này được gọi là kênh Bonnan (bị lấp 40 năm sau đó, năm 1925). Kênh có hai chức năng: Lấy đất để san lấp các đầm, hồ, ao xung quanh khu nhượng địa (khu này thuộc quận Hồng Bàng ngày nay) và làm chỗ neo đậu, tạm trú cho các thuyền buôn ra vào cảng.
             Dưới thời Bonnan làm Công sứ, ông Pôn Be giữ chức Tổng trú sứ Pháp đã đến Hải Phòng (ngày 6-4- 1886) để trình bày dự án phục hưng toàn cõi với việc phát triển cảng Hải Phòng. Pôn Be là một triết gia, một nhà bác học của Pháp. Đáng tiếc là ông từ trần ít lâu sau đó.
      Sau một năm làm công sứ, Bonnan thúc đẩy Hải Phòng phát triển toàn diện:
       – Ngày 1-4- 1886, anh em nhà Larue từ Sài Gòn ra mở một nhà máy.
       – Ngày 15-6- khai trương khách sạn Hotel de Bains ở bãi tắm Đồ Sơn.
       – Ngày 11-9, tờ báo Tin tức Hải Phòng ra mắt số đầu tiên.
       – Tháng 12- 1886, Hội nhạc Hải Phòng đi vào hoạt động.
       Nhưng, quan trọng hơn cả là trong thời gian Bonnan làm Công sứ, đã đi đến ký kết giữa Tổng trú sứ Trung kỳ và Bắc Kỳ với tập đoàn của các nhà tư bản Uylixơ Pila và Cơri về đầu tư xây dựng các kho cảng, lắp đặt các thiết bị bốc xếp với các điều kiện, điều khoản khai thác cảng Hải Phòng trong 20 năm, kể từ ngày …năm 1886.
     Bằng những thành tích ấy, Bonnan nhanh chóng được thăng chức Tổng trú sứ Bắc kỳ 2 lần.
     2. Về Công sứ Savatsiơ (1848-1895)
    Savatsiơ nguyên là Chánh văn phòng của Toàn quyền Đông Dương, dưới quyền của của Richaud, người đã ký sắc lệnh về việc thành lập Hội đồng thành phố Hải Phòng, Hà Nội ngày 19- 7- 1988.
     Sự thắng lợi của đảng Cộng hòa bên Pháp tháng 9-1889 đã đưa đến những cải cách về đường lối kinh tế và nhân sự ở Đông Dương, trong đó có Hải Phòng.
     Năm 1890, được bổ nhiệm làm Công sứ, Savatsiơ đã đưa ra một chương trình làm trong sạch môi trường thành phố, sửa sang đường sá kéo dài 4 năm. Những đầm ao được san lấp đến cái cuối cùng. Lắp đặt các cây cầu có thể xoay được trên hai đầu kênh đào Bonnan. Các quảng trường, các khu vực dạo chơi được hoàn chỉnh. Các con đường từ khu phố Hạ Lý của người Hoa được kéo dài sang các phố của người Âu đến phía nam thành phố và đến tận hạ lưu sông Cấm.
    Thống kê còn lưu giữ cho thấy các thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sự đô thị hóa Hải Phòng và Hà Nội nhập qua cảng Hải Phòng là ngang nhau.Tổng sắt thép và vật liệu xây dựng nhập khẩu năm 1885 là 7.184 tấn, năm 1889 là 24.212 tấn, và năm 1892 là 24.214 tấn, đủ thấy tốc độ đô thị hóa ở 2 thành phố này rất nhanh.
    Theo chương trình của Savatsiơ, người ta còn làm một hệ thống cống ngầm không chỉ để thoát nước mà còn giúp việc lắp đặt các nhà vệ sinh công cộng. Từ đó cũng xuất hiện công tác dịch vụ đô thị. Năm 1892 đã ban bố luật vệ sinh công cộng và thành phố đã cho ký các hợp đồng về chiếu sáng và xây dựng nhà máy nước, cung cấp nước sạch cho đô thị và một số công ty.
   Nổi bật trong sự nghiệp của Savatsiơ còn phải kể đến việc giữ gìn an ninh trật tự lúc đó. Nhờ những thành công trên, ông đã trở thành Toàn quyền Đông Dương khi mới 46 tuổi.
    Ngay sau khi tỉnh Hải Phòng được thành lập (tháng 8-1883), các viên Công sứ, quan đầu tỉnh của Pháp có rất nhiều quyền hành. Các tệ nạn cũng phát sinh từ các quyền hành này.
    Bức màn hào nhoáng của nền cai trị thực dân bị xé rách bởi vụ án có liên quan đến một thương gia người Thụy Điển có tên là Gutap Ube. Nhà buôn này mở cửa hàng tại Cát Bà, được người Pháp ủy quyền thu thuế của các thuyền đánh cá người Hoa. Vì thế, quyền lực của Obe ngày một lớn. Dư luận xì sầm rằng Obe không những buôn lậu mà còn quan hệ với các băng đảng buôn lậu thuốc phiện. Đột nhiên Obe biến mất, người ta nghĩ rằng Obe đã trốn sang Hồng Kông.
   Sau cuộc khởi nghĩa thất bại, Đốc Tít đã khai rằng mình mua vũ khí từ Obe. Lập tức Obe bị kết án xử tử vắng mặt. Người ta đòi dẫn độ Obe về Bắc kỳ, nhưng bị các lãnh sự của Thụy Điển, Na Uy, ở Thượng Hải phản đối. Vụ án không được thi hành.
  Trong quá trình phá án mới lộ ra chính viên Công sứ kiêm chức Đốc lý đầu tiên của Hải Phòng là Depincé tham nhũng và là một con nợ lớn. Nhất là ăn tiền của Obe. Vụ án còn liên quan đến quan tòa Jolliet.
    Được bổ nhiệm làm Công sứ năm 1890, Savatsiơ kiên quyết đòi trục xuất Jolliet ra khỏi Hải Phòng.
    Chỉ 5-6 năm thực thi công vụ trên đất Hải Phòng mà Tổng đốc Phạm Phú Thứ được Tuy Lý Vương đề nghị đúc tượng vàng; Bonnan được hai lần cử làm Tổng trú sứ Bắc kỳ, ngang với chức Phó Thủ tướng ngày nay; Savasiơ được thăng tới chức Toàn quyền Đông Dương gợi cho ta một ý nghĩ rằng đất Hải Phòng luôn tiềm ẩn một năng lượng phi thường cho con người tung cánh bay cao, bay xa.
    (Nguồn: Những người xây dựng thành phố cảng Hải Phòng/Hoàng Thanh Trung/ Tạp chí Khoa học và kinh tế Hải Phòng/ tháng 1+2 năm 2012/ tr. 34-35+38)

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *