Những người con Hải Phòng xưa làm vẻ vang cho quê hương trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược (Kỳ 1)

Cổng vào Khu Di tích Lịch sử Quốc gia Bạch Đằng giang.

          Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ 2 (1285) và lần thứ ba (năm 1287-1288) của quân và dân Đại Việt anh hùng, ở vùng đất Hải Phòng ngày nay đã xuất hiện nhiều tấm gương yêu nước, dũng liệt. Xin giới thiệu những tấm gương tiêu biểu đã làm vẻ vang cho những làng, xã Vĩnh Bảo, An Hải (An Dương), Kiến Thụy, Tiên Lãng, Kiến An…
          Phạm Hữu Điều: sinh ra và lớn lên ở làng Niệm Nghĩa (nay là xã Vĩnh Niệm, huyện An Hải, Hải Phòng). Cụ thân sinh ra Phạm Hữu Điều là Phạm Quốc Luân; gia đình có truyền thống võ nghệ.
          Năm 1284, khi quân Nguyên vào xâm lược nước ta lần thứ hai, Phạm Hữu Điều đã cùng với bạn bè và thanh niên trong huyện tham gia vào đội quân nhà Trần đánh giặc cứu nước. Là một thanh niên nhanh nhẹn, tháo vát và  nhiệt tình, Phạm Hữu Điều lúc nào cũng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Theo gia phả họ Phạm ở Niệm Nghĩa, ông được triều đình cho giữ chức chỉ huy đồn thủy quân, trấn giữ Đồ Sơn. Trước trận thủy chiến Bạch Đằng, ông được giao nhiệm vụ dò xét tình hình quân địch. Nhưng đến khi Ô-mã-nhi, theo lệnh của Thoát Hoan, rút chạy về nước theo sông Bạch Đằng thì ông lại nhận nhiệm vụ chỉ huy một cánh quân mai phục, đợi giặc đến tiêu diệt. Triều Trần ban tước Quan nội hầu và cử làm tướng tiên phong phá quân Nguyên. Trong trận Bạch Đằng năm 1288, Phạm Hữu Điều luôn có mặt ở hàng đầu, xông pha nơi nguy hiểm. Quân Nguyên thua to, tướng giặc là Ô-mã-nhi bị bắt sống.
          Sau khi dẹp giặc, Phạm Hữu Điều trở về Tràng Kênh rồi mất. Dân làng Tràng Kênh lập đền thờ ông trên quả đồi cao ở bên phải bờ sông Thải. Đén năm 1995 đền thờ được chuyển về Niệm Nghĩa quê ông.
          Hai anh em Trần Nhội và Trần Phương: người trang Văn Đẩu (Kiến An) đứng ra tuyển mộ quân sĩ theo Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chống giặc. Trần Nhội từng thi đậu Thái học sinh, được bổ vào Viện hàn lâm. Trần Phương đỗ võ cử, được sung làm quản vệ. Khi cuộc kháng chiến lần thứ hai nổ ra, Trần Nhội được phong chức Hữu quản binh trong đạo quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Ông là người tiến cử các em vợ là Nguyễn Thiên Lộc, Nguyễn Thiên Mẫn và Nguyễn Bình với Chiêu Văn Vương và đều được tin dùng. Các tướng sĩ thuộc đội quân do Trần Nhội, Trần Phương chỉ huy đều là người vùng Kiến An – An Lão bây giờ đã xả thân lập công lớn trong các trận Đại Mang, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng…lừng danh sử sách.
          Trần Quốc Thành: Trần Quốc Thành thuộc dòng dõi tôn thất nhà Trần. Năm 1285, khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, Trần Quốc Thành được cử làm tướng chỉ huy một đạo quân và được giao nhiệm vụ về vùng Hải Đông xây dựng trạm quân lương, củng cố miền hậu cứ.
          Trần Quốc Thành đã cùng quân đội về xây dựng kho quân lương ở xã Hà Đới, huyện Tiên Minh (nay là thôn Hà Đới, xã Tiên Thanh, huyện Tiên Lãng).
          Tháng 6 năm 1285, quân dân nhà Trần bắt đầu phản công quân Nguyên ở khắp mọi nơi. Trần Quốc Thành đã tham gia vòa các cuộc tấn công quân địch ở Hàm Tử, Chương Dương góp phần vào việc giải phóng kinh đô Thăng Long.
          Đến năm 1288, dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Thành lại tham gia vào trận phục kích trên sông Bạch Đằng ngày 9/4/1288, phá tan quân xâm lược Nguyên Mông.
          Khi ông mất, dân làng đã lập đền thờ ông ở ngay nền kho quân lương mà ông xây dựng.
          Các thôn Đồng Cống, xã Tiên Thanh, Tiên Lãng, thôn Kim Ngân, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo cũng thờ Trần Quốc Thành.
          Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ ba (năm 1288) có nhiều người con Hải Phòng tham gia chiến trận Bạch Đằng, lập nhiều công tích. Sử cũ và truyền thuyết dân gian phản ánh khá đậm nét về những đóng góp của quân và dân Hải Phòng cho trận đại thắng trên sông Bạch Đằng năm 1288:
          Nguyễn Đống, Nguyễn Cây, Nguyễn Bến:
          Tại trang Do Nha xưa (nay là thôn Do Nha, xã Tân Tiến, huyện An Hải nay đổi là An Dương) có ba anh em họ Nguyễn sống với nhau rất hòa thuận, ăn ở với bà con xóm làng rất nghĩa tình. Người anh cả tên là Nguyễn Đống, người anh thứ tên là Nguyễn Cây và người em út tên là Nguyễn Bến. Lúc còn ít tuổi, ba anh em đều có tư chất thông minh. Khi đến tuổi trưởng thành, cả ba anh em đều học giỏi, văn võ hơn người.
          Dưới triều Trần Thái Tông, Nguyễn Đống đã từng làm quan  trong triều và được nhà vua cho giữ chức Đô đốc.
          Khi giặc Nguyên xâm lược nước ta lần thứ ba (1288), Nguyễn Đống được vua Trần Nhân Tông cử làm tướng tiên phong, giúp Trần Hưng Đạo đốc xuất một bộ phận quân đội đi đánh giặc.
          Trong thời gian người anh cả làm quan trong triều đình thì ở quê nhà, Nguyễn Cây, Nguyễn Bến chăm chỉ làm ăn và hết lòng giúp đỡ bà con xóm làng. Tin giặc Nguyên lại tới xâm lược nước ta lần nữa đã thổi bùng lên ngọn lửa căm thù giặc trong lòng hai anh em. Cả hai anh em Nguyễn Cây, Nguyễn Bến đều một lòng hăng hái lên đường đánh giặc, cứu nước theo lời kêu gọi của triều đình.
          Nguyễn Cây, Nguyễn Bến được điều vào đội quân do người anh cả là Nguyễn Đống chỉ huy. Cả ba anh em họ Nguyễn đã anh dũng chiến đấu, góp phần đánh tan giặc Nguyên trong trận phục kích Bạch Đằng năm 1288.
          Khi anh em họ Nguyễn mất, vua Trần Nhân Tông cho được thờ cúng theo lễ thái lao và ban tiền ở quỹ công để dựng đền thờ. Nhà vua lại ban cho tên hiệu đẹp.
          Nguyễn Đống là Hoàng triều Đô đốc, văn võ hùng lược, dực vận phù đô, họ quốc ninh dân, linh ứng bảo an Quảng Độ Đống Cúc đại vương.
          Nguyễn Cây là Đồng tâm địch khái, Quảng tế hồng an Cây Ngấn đại vương.
          Nguyễn Bến là Hiệp lực tiêm cừu Bến Bãi Tây chùa đại vương.
          Sau này, các triều đại nối tiếp về sau đều có sắc phong cho ba anh em họ Nguyễn ở Do Nha.
          Nhân dân địa phương kính trọng và suy tôn ba anh em họ Nguyễn là thành hoàng; lập đền thờ để tưởng nhớ công lao.
          Vũ Chí Thắng: ở Hàng Kênh huyện An Dương (nay thuộc quận Lê Chân):
          Vũ Chí Thắng sinh ra và lớn lên ở làng Hàng Kênh, huyện An Dương (nay thuộc quận Lê Chân). Thuở nhỏ, Vũ Chí Thắng khôi ngô, tuấn tú, khảng khái khác thường. Ông là người có chí lớn, ham mê đọc sách, học tập binh pháp. Ông lại có sức khỏe, tinh thông cả văn chương lẫn võ nghệ. Ông thường đi khắp nơi trong nước, vẽ bản đồ, ghi đủ tên núi, tên sông, chú thích cả đường thủy, đường bộ, đường cái, đường tắt trên bản đồ rồi treo lên tường để hàng ngày nghiên cứu, ghi nhớ.
          Khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta, ông bàn với bạn bè cùng chí hướng, ra gánh vác việc đời, giữ gìn đất nước. Khi Trần Quốc Tuấn được cử làm Tổng chỉ huy quân đội thủy, bộ, Vũ Chí Thắng đến ra mắt Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và được Vương tin dùng. Ông được làm việc bên cạnh Hưng Đạo Vương. Mỗi khi bàn việc quân, ông đều tham gia nhiều ý kiến hay, được Hưng Đạo Vương khen ngợi. Vương tiến cử, vua Trần hài lòng và phong cho ông chức Chỉ huy sứ, ủy thác cho ông chăm nom, bố trí doanh trại, đồn lũy ở miền Đông. Có lần Vũ Chí Thắng cho quân mặc giả quân Nguyên, ban đêm vào trại rồi đốt lửa làm hiệu để trong đánh ra, ngoài đánh vào tiêu diệt địch. Ông còn tham gia vào các trận phục kích giết được nhiều quân giặc.

Đền thờ Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo ở Khu Di tích LS Quốc gia Bạch Đằng (Tràng Kênh).

          Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba (1287-1288), Vũ Chí Thắng đã có những dự đoán tài năng về tình hình di chuyển của quân địch. Ông đã hiến kế chặn giặc trên sông Giá để buộc Ô-Mã-Nhi phải theo sông Đá Bạc và sa vào bẫy của ta ở sông Bạch Đằng.
          Vũ Chí Thắng được cử làm Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm Chưởng cấm binh và tham dự triều chính. Vũ Chí Thắng là một người vừa có tài, vừa có đức. Lúc làm việc nơi màn trướng, ông là một người tham mưu tốt. Khi ra trận bao giờ ông cũng đứng ở hàng đầu, chiến đấu mưu trí và anh dũng. Mỗi khi thắng trận ông cũng thường nhường công cho tướng lĩnh và quân lính nên ai cũng tin yêu và mến phục. Ông mất năm 72 tuổi. Nhớ công lao, đức độ, nhân dân quê hương lập đền thờ ông, tôn làm Thành hoàng.
          Nguyễn Hoàng: sinh ra và lớn lên ở thôn Hà Đậu (nay là xã Hồng Phong, huyện An Hải). Mồ côi cha mẹ từ sớm, 5 anh chị em Nguyễn Hoàng thương yêu đùm bọc, nuôi nấng nhau. Riêng Nguyễn Hoàng là người có chí hơn cả, lại tráng kiện khác thường.
          Khi giặc Nguyên xâm lược nước ta lần thứ ba, Nguyễn Hoàng tự nguyện lên đường giết giặc cứu nước. Do có tài nên Nguyễn Hoàng được vua Trần cho làm quan trong triều với chức “Thượng thư tham tụng quốc chính”
          Nguyễn Hoàng đã tham dự trận phục kích trên sông Bạch Đằng ngày 9-4-1288, phá tan quân xâm lược Nguyên, góp phần bắt tướng giặc Ô-mã-nhi.
          Sau chiến thắng, Nguyễn Hoàng được nhà vua ban thưởng và phong chức “Phó đô nguyên soái đại tướng quân.”
          Sau khi ông mất, dân làng Hà Đậu lập miếu thờ để tưởng nhớ công lao.
          Vũ Hải: Theo thần tích miếu thôn Đông xã Du Lễ (Kiến Thuỵ), danh tướng Vũ Hải, người bản trang được phong tới chức Phó đô trung lang tướng, cầm quân dưới trướng Thượng tướng – Thái sư Trần Quang Khải. Đội quân bản bộ của Vũ Hải trực tiếp tham gia chặn đường tiến quân của Toa Đô từ Chăm Pa đánh vào Nghệ An. Sau lại theo Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đánh tan quân Nguyên ở sông Nhị Hà. Đặc biệt, trong trận Tây Kết, dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Trần, Vũ Hải đã cùng các tướng sĩ giết và bắt sống nhiều giặc, chém được đầu Toa Đô. Tương truyền trong trận thuỷ chiến ở cửa biển Đại Bàng (nằm ở khoảng giữa cửa Văn Úc và cửa Họng) diễn ra vào ngày 8 tháng 1 năm Mậu Tý (1288), quân ta bắt được 300 thuyền, giặc Nguyên bị chết đuối rất nhiều, Vũ Hải đã anh dũng hy sinh trên sông nước quê nhà.
          Vũ Đăng Dũng: sinh ra và lớn lên trong một gia đình đánh cá nghèo ở trang Đan Điền, Tứ Kỳ, Hải Dương (nay là thôn Cự Lai, xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo). Ngay từ thuở nhỏ, Vũ Đăng Dũng có sức khỏe hơn người nên còn có tên gọi là Lực.
          Năm 13 tuổi, Vũ Đăng Dũng đã thông kinh sách, giỏi võ nghệ. Khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, Vũ Đăng Dũng chiêu mộ binh lính, lập đồn trên đất Cự Lai. Được sự ủng hộ của nhân dân, Vũ Đăng Dũng nhanh chóng trở thành vị tướng của đội hương binh đông đảo, rồi xin gia nhập vào quân triều đình đi đánh giặc cứu nước. Vũ Đăng Dũng được giữ chức Đô đốc Chỉ huy sứ dưới quyền Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
          Vũ Đăng Dũng đã tham gia trận đánh phá quân Nguyên ở Vạn Kiếp. Tại trận phục kích giặc Nguyên ở sông Bạch Đằng ngày 9/4/1288, Vũ Đăng Dũng đã tham gia chỉ huy đội phục binh và góp phần bắt sống tướng giặc là Ô-Mã-Nhi.
          Để tưởng nhớ công lao của Vũ Đăng Dũng, dân làng Cự Lai đã lập đền thờ sau khi ông qua đời.
          Hoa Duy Thành: Hoa Duy Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình đánh cá nghèo ở trang Đan Điền, Tứ Kỳ, Hải Dương (nay là thôn Cự Lai, xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo).
          Vốn thông minh, học giỏi nên năm 12 tuổi Hoa Duy Thành đã tinh thông cả binh thư lẫn võ nghệ. Cha mẹ mất khi Hoa Duy Thành mới 16 tuổi.
          Là người có nghị lực nên Hoa Duy Thành đã rời quê hương đi khắp đó đây để tìm non sông đất nước, tiếng tăm lừng lẫy khắp nơi, người bấy giờ gọi Hoa Duy Thành là Thánh đồng.
          Khi được tin vua Trần và Trần Hưng Đạo cầu hiền tài giúp vua, cứu nước, Hoa Duy Thành liền trở về quê quán, yết bảng mộ quân. Hàng nghìn nhân dân và hào kiệt các nơi ứng nghĩa. Khi vào triều yết, Trần Hưng Đạo thấy Hoa Duy Thành là người văn võ toàn tài, bèn xin vua phong cho làm Đô đốc, mang quân đi tuần phòng các đạo.
          Năm 1288, Hoa Duy Thành đã phối hợp với đại quân do Trần Hưng Đạo chỉ huy đánh thắng quân Nguyên ở Vạn Kiếp và tiếp tục truy kích quân giặc trên đường chúng tháo chạy. Tại trận phục kích giặc trên sông Bạch Đằng ngày 9/4/1288, ông đã cùng các tướng lĩnh khác lập công lớn, đặc biệt là đã tham gia vào việc bắt tướng giặc Ô-mã-nhi. Đất nước trở lại thanh bình, Hoa Duy Thành lại trở về trang Linh Động (nay là thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huỵen Vĩnh Bảo) cùng nhân dân xây dựng, bảo vệ quê hương. Nay ở đây, nhân dân thờ ông làm Thành hoàng làng tại đình.
          Nguyễn Danh Uy: Quê Nguyễn Danh Uy ở trang Quỳnh Hoàng (thuộc xã Nam Sơn, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng nay). Khi Nguyễn Danh Uy lên 6 tuổi, cha mẹ đều mất. Là người có nghị lực, lại thêm sức khỏe tốt, Nguyễn Danh Uy ngày đêm chăm lo học hành và luyện tập võ nghệ. Chẳng bao lâu Nguyễn Danh Uy văn võ đều giỏi hơn bạn bè cùng tuổi ở trong làng. Nguyễn Danh Uy mở lớp dạy võ cho thanh niên trong làng. Người quanh vùng cũng đến theo học rất đông.
          Khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, vua Trần kêu gọi người tài trong nhân dân ra giúp vua cứu nước. Được biết Danh uy là người tài giỏi, Hưng Đạo Vương đã tâu lên vua và được nhà vua chấp nhận gọi về triều thi tài. Sau cuộc thi võ, nhà vua tin dùng ông, phong cho Danh Uy quan chức. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285), theo lệnh vua Trần, dưới sự tổng chỉ huy của Trần Hưng Đạo, Danh Uy đã cùng với các vương: Hưng Nhượng, Hưng Trí, Hưng Vũ và các tướng lĩnh khác đốc thúc 20 vạn quân tiến đánh giặc Nguyên. Hưng Đạo Vương giao cho Danh Uy một vạn quân, 30 chiến thuyền với nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát các cửa khẩu và ven sông đề phòng và chặn đánh quân chi viện của giặc. Danh Uy đã trở về làng Quỳnh Hoàng tuyển mộ 30 người có sức khỏe và giỏi võ nghệ lập thành một đội quân bảo vệ xóm làng quê hương
          Kháng chiến lần thứ hai (1285) thắng lợi, Nguyễn Danh Uy được nhà vua ban tước là “Danh tổng vương” lĩnh chức Đại tướng quân. Ông lo tổ chức đắp lũy, xây đồn, canh phòng cẩn mật, bảo vệ, giữ gìn cho làng xóm yên bình.
          Khi nổ ra cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên lần thứ 3, Nguyễn Danh Uy tiến cử bạn tâm giao, có tài thao lược là Nguyễn Lãng, người Hưng Hoá cùng tham gia trận phục kích chiến lược trên sông Bạch Đằng năm 1288. Trong trận phục kích ở sông Bạch Đằng năm 1288, Nguyễn Danh Uy đã tham gia từ việc cho quân sĩ chuẩn bị bãi cọc cho đến chiến đấu phá tan quân giặc.
          Nguyễn Danh uy lại được vua Trần phong là Đại hành khiển Chưởng phủ sự, Đại tướng quân, Danh tổng vương.
          Sau chiến thắng, do tuổi già sức yếu, Danh Uy tâu vua xin trở về làng nghỉ ngơi. Nhà vua chuẩn y và ban cho ông nhiều vàng bạc, châu báu.
          Thời gian còn lại của mình, ông còn dùng các lá cây làm thuốc chữa bệnh cho dân làng.
          Sau khi mất, dân làng Quỳnh Hoàng lập miếu thờ để tưởng nhớ công lao. Vua Trần phái quan về tế lễ.
          Nguyễn Lãng: quê Nguyễn Lãng ở vùng Hưng Hóa (nay thuộc xã Nam Sơn, huyện An Hải). Thuở nhỏ Lãng học giỏi và thông minh. Thầy dạy và bạn học đều khen ngợi. Năm Nguyễn Lãng 15 tuổi, cả hai cha mẹ đều qua đời. Nguyễn Lãng ngày đêm cố công học hành và luyện tập võ nghệ nên chẳng bao lâu, ông trở nên người văn võ toàn tài.
          Năm 20 tuổi, Nguyễn Lãng kết bạn với Nguyễn Danh Uy tại thôn Quỳnh Hoàng, xã Nam Sơn, huyện An Hải.
          Khi giặc Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ ba (1287-1288) Nguyễn Lãng được vua Trần cử làm phó tướng giúp Nguyễn Danh Uy đánh giặc. Cả hai ông đều tham gia vào trận phục kích Bạch Đằng năm 1288.
          Sau chiến thắng này, Nguyễn Lãng tâu vua xin về quê làm ăn sinh sống. Khi được tin Nguyễn Danh Uy từ trần, Nguyễn Lãng từ quê nhà tới Quỳnh Hoàng viếng bạn. Rồi ông xin cư trú ở Quỳnh Hoàng và sống bằng nghề dạy học. Ông dạy giỏi lại tận tình, thương yêu học trò nên người theo học rất đông. Dân làng Quỳnh Hoàng kính mến, quý trọng và sẵn lòng giúp đỡ ông.
          Sau 3 năm, ông mất. Dân làng Quỳnh Hoàng thương nhớ lập miếu thờ. Triều đình truy tặng ông là Cống Lãng đại vương.
          Nguyễn Xuân: tên chữ là Kiều, biệt hiệu là Phúc Lộc. (Tên húy, tên chữ, biệt hiệu trên chép theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán đời Tự Đức. Nhưng theo tờ khai của hương lý làng Vụ Bản năm 1938 thì Phúc Lộc là tên húy, Vương Thông Khất Hòa là tên hiệu). Ông là người làng Vụ Bản, huyện Giáp Sơn xứ Hải Dương nay là thôn Vụ Bản xã Tân Tiến huyện An Hải, Hải Phòng.
          Đời Trần, Nguyễn Xuân làm quan đến chức Kinh lược sứ. Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ ba, ông theo vua Trần Nhân Tông tham tán việc quân cơ, được nhà vua tin dùng. Tháng 3 năm Mậu Tý (1288) giúp Hưng Đạo đại vương Trần Quốc  Tuấn đánh thủy quân địch do Ô mã nhi chỉ huy. Trận này quân ta thắng lớn, Nguyễn Xuân lập nhiều công. Ông bị thương nặng trong trận, đưa về đến làng quê Vụ Bản thì qua đời. Vua Trần Nhân Tông rất thương tiếc, phong làm phúc thần, sai lập đền thờ tại quê nhà. Dân Vụ Bản thường kỷ niệm ngày sinh của ông vào ngày 12 tháng 9, ngày hóa (chết) vào 12 tháng 3.
          Hoàng Công Thản: Hoàng Công Thản sinh ra và lớn lên ở thôn Đào Yêu Đông (nay là thôn Kiều Trung, xã Đồng Thái, huyện An Hải). Hoàng Công Thản học rất thông minh. 15-16 tuổi Thản đã trở thành người văn võ kiêm toàn, học rộng hiểu nhiều..
          Thời gian học tập ở kinh đô, Hoàng Công Thản đã có nhiều bạn tốt như, Trần Khánh Dư, Lê Mục, Lê Quân. Nhờ Trần Quang Khải tiến cử, Hoàng Công Thản được làm quan trong triều. Ông thẳng thắn, thanh liêm, cần mẫn nên mọi người kính nể. Tương truyền, Hoàng Công Thản là người đầu tiên giữ chức “Quản ca công sự vụ” của ngạch quản ca đời Trần.
          Năm 1285, khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta, Hoàng Công Thản được giữ chức “hành khiển” và tham gia chặn đánh Toa Đô ở Nghệ An. Trong trận Tây Kết lần thứ hai do vua Trần trực tiếp chỉ huy, Hoàng Công Thản cùng các tướng như Vũ Hải và quân lính chiến đấu anh dũng, giết được nhiều giặc. Toa Đô bị chém đầu. Trương Hiển phải đầu hàng.
          Sau cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên, Hoàng Công Thản được vua ban thưởng và phong chức Phó đô.
          Khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ ba, Hoàng Công Thản được lệnh chặn giặc ở cửa biển Linh Kênh (tức là vùng biển Đông Kênh gần Vân Đồn). Hoàng Công Thản còn dự trận đánh quân Ô-mã-nhi ở trại Yên Hưng.
          Sau chiến thắng quân Nguyên, ông xin về quê vì yếu sức rồi sau mất tại quê nhà.
          Nhân dân Đào Yêu Đông an táng Hoàng Công Thản và lập miếu thờ ông ngay bên mộ để tưởng nhớ công lao.
          Lương Toàn: quê ở trang An Định, huyện Thiệu Thiên, Châu Ái (Thanh Hóa).
          Thuở nhỏ, Lương Toàn chăm chỉ học tập và hiếu thảo với cha mẹ. Khi mẹ mất sớm, Lương Toàn rời quê hương đi đến trang Rậu Xuyên, huyện Tứ Kỳ (nay là thôn Quý Xuyên nội, xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo) để kiếm kế sinh nhai, rồi định cư tại đó.
          Khi giặc Nguyên xâm lược nước ta lần thứ ba, Lương Toàn tự bỏ tiền của mình mua sắm vũ khí, rồi tuyển 15 người trong trang cùng nhau lên đường giết giặc.
          Do có tài, Lương Toàn được phong chức “Điển hộ quân”. Ông tham gia vào trận phục kích trên sông Bạch Đằng ngày 9/4/1288, phá tan giặc Nguyên.
          Nguyễn Chính: quê Trâu Sơn, Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay). Nhưng ông sinh ra và lớn lên ở trang Liễu Kinh (nay là thôn Liễu Kinh, xã Việt Tiến, huyện Vĩnh Bảo).
          Do có chí học hành từ nhỏ nên Nguyễn Chính nhanh chóng trở thành người giỏi cả văn chương lẫn võ nghệ. Khi nhà Trần mở khoa thi chọn người tài, ông đã lên kinh dự thi. Nguyễn Chính đỗ đời Trần Thái Tông (1225 1258), được suy tôn Chính tín cư sĩ và được tham gia triều chính. Về sau Nguyễn Chính còn ra làm “bồi thủ” đạo Hải Dương, có nhiều chính tích tốt.
          Khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ ba (1287-1288) Nguyễn Chính đã tham gia cuộc kháng chiến. Trong trận mai phục quân Nguyên ở sông Bạch Đằng năm 1288, ông đã cùng với các ông Hoa Duy Thành, Vũ Đăng Dũng và nhiều tướng lĩnh khác chiến đấu anh dũng đánh tan quân Nguyên. Đặc biệt, Nguyễn Chính đã tham gia vào việc bắt sống tướng giặc Ô-Mã-Nhi.
          Sau chiến thắng, Nguyễn Chính được nhà vua ban thưởng rồi ông xin trở về trang Liễu Kinh sinh sống. Ông thọ trên một trăm tuổi. Sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao.
          Ngoài những tướng lĩnh tham gia trận chiến Bạch Đằng còn có nhiểu người dân bình thường:
          Bà Bùi Thị Từ Nhiên:
          Bùi Thị Từ Nhiên quê ở làng Phú Lương, huyện An Dương (nay là thôn Phú Xá, xã Đông Hải, huyện An Hải). Bà kết duyên cùng ông Phạm Phúc Lương, người cùng làng. Hai ông bà sinh sống bằng nghề làm ruộng, cần cù làm ăn.
          Năm 1288, khi quân đội của Trần Hưng Đạo trên đường hành quân đi đánh giặc Nguyên qua làng, bà đã tự mình và vận động dân làng Phú Lương đóng góp lương thực nuôi quân. Vốn sẵn lòng yêu nước, bà tự nguyện xin làm việc nuôi quân phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288.
          Sau chiến thắng, bà Bùi Thị Từ Nhiên lại cùng dân làng lo việc làm ăn, xây dựng quê hương.
          Năm 1320, cả vùng quê bà bị thiên tai. Nước lũ tràn ngập làng xóm, nhà cửa, đồng ruộng. Do không thể làm ăn sinh sống được, dân làng Phú Lương phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn phiêu bạt đi nơi khác kiếm sống. Một năm sau, dân làng mới trở về làng cũ làm ăn.
          Vượt qua bao khó khăn do thiên tai gây ra, bà Bùi Thị Từ Nhiên lại vận động bà con dân làng xây dựng lại quê hương và sửa sang đền thờ Trần Hưng Đạo. Lúc đó, ngôi đền mới chỉ được dựng lên bằng tranh, nứa nhỏ bé.
          Sau khi bà Bùi Thị Từ Nhiên mất (1328), dân làng nhớ công lao của bà đã phối thờ bà tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

………
          Những chiến thắng trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử là chiến công hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt của ông cha ta, như Trần Hưng Đạo tổng kết, là chiến công của “cả nước góp sức”, nhưng đóng góp trực tiếp nhất và đa dạng nhất chính là sức đóng góp của các làng, xã trên mảnh đất Hải Phòng ngày nay với những con người tài trí, yêu nước, thương dân. Truyền thống anh dũng, quật cường chống ngoại xâm của mảnh đất và con người Hải Phòng cần phải được nêu cao và giáo dục cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

P.V Thi, Hội KHLS Hải Phòng biên soạn theo sách Nhân vật Lịch sử Hải Phòng, tập 1, Nxb. Hải Phòng; năm 2000.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *