Nhà văn Nguyên Hồng tâm huyết với người, tâm huyết với nghề

Những người viết văn ở Hải Phòng trưởng thành trong thập kỷ 70, 80, ít nhiều đều tiếp nhận sự dìu dắt, dạy dỗ, truyền nghề viết văn độc đáo và tâm huyết của nhà văn Nguyên Hồng. Ông truyền nghề bằng cả cuộc đời và bằng cả tấm lòng cao cả của mình.

Tôi được quen biết nhà văn Nguyên Hồng từ năm 1959 khi ông từ Hà Nội về định cư ở ấp Cầu Đen xã Quang Tiến huyện Tân Yên Bắc Giang. Tôi lên Nhã Nam dạy học từ năm 1958. Con trai cả của ông là Nguyễn Hồng Hà, ngày ấy học lớp 6 lớp bảy bây giờ. Thuở nhỏ chúng tôi đọc: “Những ngày thơ ấy”, “Bí vỏ”, “Miếng bánh”, “Buổi chiều xám” của ông, và ngưỡng mộ ông, coi ông thuộc vào lớp người đặc biệt, mình không thể quen ông được. Bấy giờ ông vào trường xin học cho con trai, chúng tôi được gần ông, rất tự hào để có chuyện khoe với bạn bè. Tôi dạy ở Tân Yên cấp 2 rồi cấp 3, nên các con nhà văn đều học ở trường tôi giảng dạy, nhưng trực tiếp chỉ dạy Thanh Thư một thời gian ngắn rồi tôi chuyển về Hải Phòng.

Kể từ ngày ấy, nhà văn Nguyên Hồng đã dành một khoảng thời gian đáng kể cho ngành giáo dục. Ông sẵn sàng đến nói chuyện với học sinh về đời viết văn của mình, về nền văn học nghệ thuật Việt Nam, về Đại hội Văn nghệ (1968) ông vừa đi dự.

Ngày ấy chúng tôi còn truyền cho nhau nghe các giai thoại về ông. Một bạn kể gặp nhà văn Nguyên Hồng ngồi ăn quà ở chợ. Người ta thân hình hỏi vì sao ông ăn quà như thế (ý các bạn tôi nghĩ rằng nhà văn Nguyên Hồng đáng ra phải ăn quà ở các cửa hàng sang trọng). Ông trả lời thản nhiên: “Hàng quà làm ra để bán cho người. Mình cũng là người như mọi người, mình ăn quà như mọi người”. Cũng có bạn kể rằng ông đi xếp hàng ở cửa hàng mậu dịch. Ông đến sau, cứ chen vào giữa. Các bà nông dân xếp hàng bên dưới la ó, phản đối dữ dội, ông cứ thản nhiên ôm cái “dó” vào người và mặc kệ, cứ tiến dần bước về phía trước. Hẳn có người nào nhận ra ông nên đã nhắc máy bà to mồm giữ trật tự. Có bà vẫn còn bực, gắt lên: “là nhà văn gì thì cũng phải tôn trọng nội quy chứ”. Nhưng khi đến lượt ông mua hàng, ông liền bước ra nói lời xin lỗi bà con vì đã làm mất trật tự. Mọi người nhìn ông vẻ kính nể. Tuy ông không giải thích, song mọi người hiểu ông ăn quà ngoài chợ, ông chen lấn xô đẩy mua hàng như một người bình thường để ông có được thực tế sinh động, thu hoạch được các “chữ sống” của cuộc đời.

Ông sống nhân hậu. Mọi người quý mến ông. Có lần ông được mời đến dự Hội nghị các giáo viên dạy văn toàn miền Bắc tổ chức ở một trường cấp 2 hẻo lánh (vì sơ tán). Ông dắt cái xe đạp thiếu nhi Liên Xô, với một buộc sách dài treo ở ghi đông bước vào trường. Người bảo vệ ngăn lại:

– Thưa cụ, hôm nay có hội nghị giáo dục toàn miền Bắc…

Nhà văn nói giọng dè dặt:

– Tôi là Nguyên Hồng ạ.

Cũng lúc đó các giáo viên dạy văn đã nhận ra ông, ùa ra đón ông vào phòng khách.

Học trò còn kể cho tôi nghe mẩu chuyện vui về nhà văn. Một buổi tối, mưa rét, có một ông già khoác áo ba đờ xuy đứng ở ngoài hàng rào nhà bác Nguyên Hồng gọi vọng vào:

– Hồng ơi!

Nhà văn bước ra reo lên

– A, anh Tuân.

Cụ Nguyễn Tuân từ Hà Nội lên chơi với bạn vong niên của mình (Nguyên Hồng kém Nguyễn Tuân chín tuổi). Khách bước vào nhà, ngồi bên cạnh chõng tre đẩy bản thảo của bạn, rút trong túi ra một chai rượu và một gói đồ nhắm mang từ Hà Nội. Hai người say xưa với nhau quá nửa đêm, sớm hôm sau, nhà văn Nguyễn Tuân lại cùng nhà văn Nguyên Hồng lừng lững ra Nhã Nam đón xe về Hà Nội.

Tôi kể lại một vài mẩu chuyện trên để nói rằng nhà văn Nguyên Hồng sống rất tâm huyết với cuộc sống, rất tâm huyết với bạn bè, với mọi người. Trang viết của ông có hơi thở dồi dào sinh lực của thực tế. Cũng bởi vậy, một số lần hướng dẫn trại sáng tác của anh em viết ở Hải Phòng, ông thẳng thừng nhận xét:

“Các anh viết như một người “liệt dương” (đúng chữ Nguyên Hồng đã dùng). Cuộc sống Hải Phòng như một người phụ nữ tràn trề sinh lực các anh không đủ sức “sống” với họ để đẻ ra các tác phẩm cho xứng đáng”.

Tôi rất sung sướng là người được ông dạy bảo thân tình. Một phần trước đây tôi là thầy giáo đã từng dạy ở trường các con ông học, nhưng một phần nữa, khi ông đến nhà tôi, ông được biết mẹ vợ tôi là một người trong gia đình Thi San. Mẹ vợ tôi là em dâu của ông nghị Thy Nam. Bà từ Tuyên Quang trở về Hải Phòng sau ngày kháng chiến thành công, bà nuôi mẹ chồng đã chín mươi tuổi (mẹ đẻ của ông Thuỵ Nam) trong khi vợ con ông Thy Nam dởi Hải Phòng sang Pháp lập nghệp, cho nên khi ông đến, cả nhà tôi đều đón tiếp ông rất trân trọng. Có lần ông đến đột xuất, tôi vội vã lấy chiếu trải lên phản, ông xua tay:

– Ngồi phản trần càng mát thầy ạ.

– Thưa bác, thế hệ sau này, ai có vinh dự được dọn phản mời bác ngồi đâu. Để bác ngồi phản trần, người ta sẽ nói rằng tôi là người kém hiểu biết.

Nhà văn Nguyên Hồng nói chuyện rất cởi mở, rất sôi nổi. Về các truyện của tôi bác nhận xét rất kỹ, sửa từng dấu phảy. Bác tâm tình:

– Các anh có một nguồn tư liệu phong phú. Ngay cái phố Cát Cụt của thầy đang ở đây, cũng biết bao nhiêu chuyện, bao nhiêu tình huống kịch, thầy phải viết kịch về cái phố này.

Một đôi lần tôi viết thành công bác khen chân tình. Tôi nhớ mãi Trại viết năm 1978, vào tổng kết, nhà văn Nguyên Hồng đã đọc truyện: “Thầy giáo Đông Lai và người học trò mặc áo chàm dài” của tôi trước toàn thể anh em. Bác đọc xúc động, ba lần bác ngừng lại, lấy khăn ra chấm mắt. Tôi thật sự cảm động trước cử chỉ thân yêu của người thầy tâm huyết. Bác nhận xét tất cả các bài viết, khen chê rành mạch. Người được khen hay bị chê đều rất thoả lòng. Yêu quí bác, sau buổi tổng kết đó, anh em chúng tôi mời bác đi ăn thịt chó ông Ben ở bờ sông Lấp. Bác bảo nhà hàng mang cho bác những cái chân chó hầm dừ và bát óc chó, tỏ ra một người rất sành ăn. Bác ăn ít nhưng bác thích uống, vì hôm đó chủ quán đưa ra một loại rượu mà thầy Hồng ngửi qua đã khen là có hương vị gạo nếp cái.

Vào thời kỳ ấy tôi và anh Nguyễn Hữu Thông là hai cán bộ Sở Giáo dục phụ trách mảng học sinh giỏi cấp Một và cấp Hai. Chúng tôi mời nhà văn tham gia trại của các em. Bác Hồng vui vẻ nhận lời. Bác đã đọc và chọn ra một truyện ngắn “Cô giáo tôi” của Nguyễn Thị Tuyết Nga và mấy bài thơ của Trần Minh Hải gửi cho các báo. Truyện ngắn “Cô giáo tôi” đã được giới thiệu trên báo Văn nghệ, đăng hết trang 2. Sau này Nguyễn Thị Tuyết Nga học ngành Y nên không tiếp tục công việc văn chương. Cả Hải Hà cũng đã có thơ được chọn đăng trên tạp chí Cửa Biển. Nhưng sau đó Hải Hà đi Đức, và cũng không tiếp tục văn chương, tôi không biết, song những buổi nhà văn Nguyên Hồng làm việc với các em đã để lại cho chúng tôi một tấm gương về lòng tận tuỵ, tâm huyết với thế hệ viết văn trẻ.

Tôi nhớ một lần nhà văn kể:

Ngày học lớp Nhất (tương đương với lớp Năm bây giờ) cậu học trò Nguyên Hồng thường mải chơi, ít chịu học thuộc bài, đôi khi bị thày giáo phạt và hầu như tháng nào cũng bị xếp hạng gần cuối sổ.

Một buổi tập đọc, bài văn vần có câu:

“Nhờ ơn đại Pháp, nước nhà vẻ vang”

Thầy giáo giảng bài xong, đi đi lại lại trong lớp, rồi hỏi:

– Có trò nào sửa đổi được câu này không?

Cả lớp im lặng. Bỗng cánh tay của cậu bé “học trò nghịch ngợm” giơ lên, giọng tin tưởng:

– Thưa thầy con xin sửa ạ.

Thày giáo cho phép, cậu học trò ấy đứng dậy trả lời:

– Thưa thày con xin sửa lại là:

“Nhờ ơn Tổ quốc, nước nhà vẻ vang”

Thày giáo gật đầu nhưng không nói gì thêm.

Cuối năm học nhà trường tổ chức lễ phát thưởng cho học sinh giỏi. Nguyên Hồng không vào dự lễ, cậu chạy chơi ngoài sân trưởng với các bạn. Chuyện phát thưởng thật xa lạ với cậu. Bỗng có tiếng gọi:

– Hồng ơi! Mày được prix (phần thưởng)

Nguyên Hồng không tin, vì thứ bậc trong lớp của mình rất xoàng. Nhưng đó là chuyện thật. Lần đầu tiên trong cuộc đời đi học, cậu học trò nghịch ngợm ấy được thưởng hai quyển sách, đó là cuốn “Toán Pháp lớp Đồng ấu” (lớp một bây giờ) và cuốn thứ hai là “Sách dạy nuôi ong”.

Dù hai quyển sách ấy chẳng có ý nghĩa gì đối với việc học hành, nhưng cậu bé Nguyên Hồng vẫn đem “phần thưởng” của mình cho người cha đang đau ốm trên giường bệnh.

Ông dừng lại giây lát rồi xúc động kể tiếp:

– Những buổi chiều, khi đi chơi về, tôi lại nhìn thấy bố tôi ngồi xổm trên phản đặt hai cuốn sách “Toán pháp lớp đồng ấu” và “Sách dạy nuôi ong” trong lòng giữa hai bàn chân, đầu cúi xuống nhìn đăm đăm hai cuốn sách đó và ông cứ ngồi như thế cho đến khi chiều tắt nắng.

Ông dừng hẳn, để chúng tôi và các em rút ra cho mình những cảm xúc, những suy nghĩ, những bài học. Ông muốn truyền nghề cho lớp trẻ bằng cuộc đời và bằng cuộc đời trung trực, nhân hậu của mình. Ông muốn người viết phải chất lọc từ chính cuộc đời mình để tạo ra tác phẩm, và chữ nghĩa, cũng như ntác phẩm nó sẽ đến như một sự tất yếu, cũng nhưu cây đã thực sự đâm rễ vào lòng đất, nó tất yếu sẽ cho con người bóng mát, lá, hoa và quả tuỳ bản sắc từng loại cây.

Cũng bởi sống hết mình như vậy, nhà văn Nguyên Hồng đã để lại một ấn tượng đặc biệt trong Hội nghị các nhà văn Á Phi. Ông sang dự và nhân thể đến nhà xuất bản ở Liên Xô gửi bài giới thiệu tập truyện ngắn Việt Nam. Trước khi lên đường, Nguyên Hồng gặp nhà văn Nguyễn Đình Thi hỏi ý kiến về bài giới thiệu. Sau khi thống nhất Nguyên Hồng hỏi:

– Nếu Hội nghị mời phát biểu, ý kiến ông thế nào?*

Nguyễn Đình Thi gợi ý đọc tặng Hội nghị một bài thơ đã dịch ra ở Liên Xô. Nguyên Hồng thấy hợp lý liền về Quang Tiến mang tập thơ đã dịch bài thơ “Tặng một người da đen” của ông.

Quả nhiên vào Hội nghị. Ban tổ chức mởi Nguyên Hồng phát biểu. Ông liền trao bài thơ cho cô phiên dịch.

– Lát nữa tôi chào các đại biểu một câu thôi, sau đó cô đọc bài thơ này giúp tôi.

Cô phiên dịch lắc đầu, cười, giọng nghiêm chỉnh.

– Không được, không được. Hội nghị đặt tại Giê-ooc-gi Bài thơ này của ông dịch ra tiếng Ukraina – Tôi đọc lên có khác gì ông đọc bằng tiếng Việt – Ông chuẩn bị lời phát biểu thôi.

Nhà văn Nguyên Hồng sau khi dự Hội nghị Á Phi về, ông xuống Hải Phòng làm việc, ông đến tôi chơi, cho tôi xem tập sách in truyện ngắn “Cha con người mãi võ họ Hoa” dịch ra tiếng Anh, kể cho tôi nghe tình huống trên.

– Tôi nói bằng tiếng Pháp.

Ông đọc toàn văn bằng tiếng Pháp, tôi hiểu như sau:

“Có một qui luật thống trị trong thiên nhiên: Sự già nua.

Nói cách khác, chấp nhận qui luật tức đó là chận nhận sự chết.

Chỉ có những nhà khoa học, những nhà hoạt động chính trị, những nhà hoạt động văn học nghệ thuật không chấp nhận qui luật đó…”

Ông nói tiếp khoảng bốn năm câu nữa làm sáng tỏ chủ đề và nói nhiệm vụ chiến đấu của nhà văn để không chấp nhận qui luật già nua của thiên nhiên.

Tôi cảm phục nói:

– Thưa bác, đó là sự đúc kết của cả một cuộc đời trăn trở với cuộc sống, với sự nghiệp viết văn, bác mới có được ý xuất thần ấy.

Bác Nguyên Hồng tiếp tục mạch chuyện.

– Ông Chủ tịch Hội nhà văn Giê-ooc-gi mời tôi vào phòng khách, đưa sổ lưu niệm của Hội nhà văn, yêu cầu  tôi viết bài phát biểu vào sổ để giữ làm lưu niệm.

Bác đưa cho tôi bản thảo lời giới thiệu tập truyện ngắn Việt Nam “Đọc những truyện ngắn ấy, nhìn những gương mặt ấy…” cùng lời góp ý của nhà văn Nguyễn Đình Thi – Tôi còn giữ được cả hai bản viết tay ấy. Mỗi lần giở trang giấy ra đọc, lại thấy Nguyên Hồng như đang đi giữa quảng trường Nhà hát thành phố, dáng thư thái, mắt đăm đăm như nhớ như thương những con người ông đã dựng trong thế giới riêng của mình.

Những trang viết về “Mẹ La trốn tù” lại hiện lên. Giọng thân thiết của ông khi ông viết về Huệ Chi trong “Sóng gầm” chết ông ngơ ngẩn mấy ngày trời, tưởng như chính con đẻ của ông đã chết. Con gái ông chép bản thảo cho cha, chép đến đoạn trước đó, cứ năn nỉ với ông “Bố ơi, bố đừng bắt chị Huệ Chi chết nhé”… lại như âm vang trong lòng tôi.

Ngày ông mất tôi không lên viếng ông được vì một lý do bất khả kháng. Song tôi đã viết một bài để tưởng nhớ ông. Tôi đã viết đoạn kết của bài đó nhưu sau, và xin một lần nữa nhắc lại.

Phải với ngót nửa thế kỷ suy nghĩ, băn khoăn, lo âu về số phận con người, sống tâm huyết với mọi công việc, sống hết mình với cuộc đời ông mới có quyền nói: “Những nhà văn, những nhà hoạt động văn học nghệ thuật không chấp nhận qui luật già nua của thiên nhiên”. Ông xứng đáng đứng vào hàng ngũ những người không bao giờ chết.

 

Vũ Hoàng Lâm

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *