Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận – hai danh tướng lập đại công trong trận Bạch Đằng năm 938.

Tượng Tào Xuyên Hầu Nguyễn Tất Khang – hậu duệ của Nguyễn Tất Tố tại nhà thờ dòng họ Nguyễn Tất ở Ninh Xá-Yên Ninh-Ý Yên-Nam Định.

          Theo “Ngọc phả lục Tiền Ngô vương Thiên tử” do Đông Các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn, danh tướng Đào Nhuận là người làng Da Viên (có tên Nôm là làng Cấm, nay thuộc phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng).
          Theo lời dịch bản Thần tích ở đình Gia Viên thờ Ngô Vương thiên tử và hai danh tướng Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận: Đô đốc Nguyễn Tất Tố (còn có tên là đô đốc Kiên, Nguyễn Hải…) còn lĩnh nhiều trọng trách khác nhau, phò trợ các đời Ngô Vương Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, cùng các tướng lĩnh khác giúp dẹp loạn 12 xứ quân, đánh tan giặc Tống (năm 981)…
          Như vậy thì danh tướng Nguyễn Tất Tố từng phục vụ 3 đời vua, lập nhiều công trạng, trở thành Đô đốc thủy quân, làm tướng tam triều, làm vẻ vang cho gia tộc, quê hương.
          Trong trận thủy chiến Bạch Đằng năm 938, Nguyễn Tất Tố cùng với người bạn đồng hương làng Da Viên là Đào Nhuận đã đắc lực giúp Ngô Quyền trong trận thủy chiến Bạch Đằng, đánh tan đạo quân thủy của Lưu Hoằng Thao, góp phần làm thất bại âm mưu xâm lược Việt Nam của nhà Nam Hán.
          Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận người làng Gia Viên (tên gọi khác là Da Viên-làng dừa, hay làng Cấm thuộc nội thành Hải Phòng ngày nay.
          Tổ tiên của Đào Nhuận là dân Thủy Đường (xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay). Do bị chính quyền cai trị phương Bắc ức hiếp nên gia đình ông phải rời sang vùng đầm lầy bên sông Cấm để sinh sống.
          Cả hai ông đều có cha làm nghề đánh cá, mẹ đan lưới. Từ nhỏ các ông theo cha chèo chuyền trên sông đi câu cá, đánh lưới. Do thường xuyên kiếm sống trên song nước nên hai ông đều bơi lội giỏi và am hiểu sông nước trong vùng.
          Khi giặc biển vào cướp phá làng Da Viên, dân làng đã mời thầy về dạy võ cho trai tráng trong làng để tự vệ. Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận cùng với các trai tráng trong làng thường tham gia rèn luyện nên có sức khỏe và tinh thông võ nghệ.
          Do việc liên kết chống giặc biển vào cướp phá dân làng nên Đào Nhuận và Nguyễn Tất Tố trở thành đôi bạn rất thân.
          Khi Ngô Quyền về vùng ven biển An Dương chiêu mộ lực lượng, chuẩn bị đối phó với quân Nam Hán xâm lược, Nguyễn Tất Tố đã cùng với Đào Nhuận và trai tráng trong làng đầu quân đánh giặc, được trọng dụng làm gia tướng.
          Sử sách nước ta chép lại lời ông khi bàn việc đối phó với giặc “Vùng sông nước này tôi rất quen thuộc, biết được lúc nước lên xuống. Nay muốn giặc mắc bẫy, chỉ có cách dùng thuyền nhỏ ra khiêu chiến, chọn đúng giờ khắc thích hợp thì giả thua bỏ chạy”.
          Nguyễn Tất Tố được đức Vương Ngô Quyền giao nhiệm vụ đem 20 thuyền nhẹ ra cửa biển chờ giặc tới thì khiêu chiến, nhử giặc vào trận địa cọc. Khi thuyền giặc đến, ông dẫn nhử quân giặc vào trận địa cọc khi nước thủy triều lên, ghìm chân giặc cho đến khi nước rút đẩy thuyền giặc vào thế “mắc cạn”. Khi nước thủy triều rút, ông chỉ huy đội thuyền đánh nhử, phối hợp với quân mai phục đánh tan quân Nam Hán.
          Còn Đào Nhuận được Ngô Quyền giao cho chỉ huy dẫn quân lính cùng nhân dân vào rừng lấy gỗ đẽo cọc nhọn cắm ở cửa sông rồi cùng Ngô Xương Ngập và Dương Tam Kha đem quân mai phục hai bên bờ sông. Còn Nguyễn Tất Tố được Ngô Quyền sai đem 20 thuyền nhẹ ra cửa biển chờ giặc tới thì khiêu chiến nhử giặc vào trận địa cọc của quân ta.
          Sử sách miêu tả về trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng do Ngô vương Quyền lãnh đạo như sau:
          Sông Bạch Đằng là cửa ngõ giao thông quan trọng phía đông bắc từ biển Đông vào đất Việt. Theo cửa Nam Triệu vào Bạch Đằng, địch có thể ngược lên và tiến đến thành Cổ Loa hoặc thành Đại La hoàn toàn bằng đường sông. Trong khi đó, thủy triều lên từ nửa đêm về sáng, cửa biển rộng mênh mông, nước trải rộng ra hai bên bờ đến hơn 2 km. Đến gần trưa, triều rút mạnh, chảy ra rất nhanh. Như vậy, kế hoạch và việc lựa chọn chiến trường cho trận huyết chiến đã được quyết định là sông Bạch Đằng. Trận đánh chính sẽ diễn ra ở phía trong bãi cọc.
          “Trận thắng trên sông Bạch Đằng là cơ sở cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công đời Đinh, Lê, Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà thôi đâu”. – Nhà sử học Ngô Thì Sĩ đánh giá.
          Bấy giờ vào cuối năm 938, trời rét, mưa dầm dề nhiều ngày. Quân và dân ta lặn lội mưa rét ngày đêm vận chuyển gỗ, dựng cọc. Hàng nghìn cây gỗ lim, sến, đầu được vạt nhọn và bịt sắt được đem về đây cắm xuống thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn. Trong khoảng hơn một tháng thì mọi việc hoàn thành.
          Theo kế hoạch, đội binh thuyền do Đào Nhuận dẫn đầu cùng đội quân do Dương Tam Kha (con của Dương Đình Nghệ) chỉ huy bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập (con trai cả của Ngô Quyền) và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn, mai phục sẵn, phối hợp thủy quân đánh tạt sườn đội hình quân địch, sẵn sàng diệt nếu địch chạy lên bờ. Từ cửa biển ngược lên phía trên không xa, một đạo thủy quân mạnh phục sẵn do chính Ngô Quyền chỉ huy chặn ngay đường tiến lên của địch, chờ khi nước xuống sẽ đánh lại.
          Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, vùng cửa biển và hạ lưu, cả một đoàn binh thuyền do Hoằng Tháo chỉ huy vừa vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng. Quân Nam Hán thấy quân của Ngô Quyền chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể ăn tươi nuốt sống liền hùng hổ tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân bỏ chạy lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, ông mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Lúc đó, Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, còn Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng với hơn một nửa quân sĩ.
          Trận đánh chỉ diễn ra trong chưa đầy một ngày, không chỉ phá tan trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo mà còn chôn vùi vĩnh viễn tham vọng xâm chiếm nước ta của nhà Nam Hán. Sách sử chép: “Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân còn sót mà rút lui”
          Về nhân vật Nguyễn Tất Tố, tìm hiểu kỹ hơn thì được biết, ông là Đô đốc thủy quân đã giúp Ngô Quyền đánh quân Nam Hán năm 938 và giúp Lê Hoàn phá giặc Tống trên sông Bạch Đằng năm 981, ông sống khá thọ, tới 71 tuổi (913 – 984), phục vụ 3 đời vua Ngô Vương Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành.
          “Nguyễn Tất Tố cuối đời về an nghỉ và mất tại vùng Thiết Lâm, khu Trung Hậu, Huyện Phong Doanh, Phủ Thiên Trường (nay là thôn Ninh Xá – Xã Yên  Ninh – Huyện Ý Yên – Tỉnh Nam Định).
          Triều đình nhà Tiền Lê đã tổ chức tang lễ ông theo nghi thức Đại thần”.
          Đương thời, vua Lê đã thân chinh đến thăm viếng lăng mộ ông và ban cho một đặc ân là cấm xâm phạm địa bàn khu lăng mộ.
          Nguyễn Tất Tố được coi là thủy tổ dòng họ Nguyễn Tất mà hiện nay cư ngụ ở thôn Ninh Xá, Xã Yên  Ninh – Huyện Ý Yên – Tỉnh Nam Định.
          Ngày 09/01/2014, trong lần điền dã tới khảo sát quê bậc danh thần Nguyễn Tất Tố, phóng viên đài VOV đã thuật lại cuộc gặp gỡ với cụ cao niên dòng họ Nguyễn Tất ở thôn Ninh Xá, xã Yên  Ninh, huyện Ý Yên – Nam Định như sau:
          Cụ Nguyễn Tất Kháng (74 tuổi), đại diện dòng họ cho biết: “Ông Tổ dòng họ Nguyễn Tất chúng tôi là Nguyễn Hải (còn có tên Nguyễn Kiên). Thời nhà Ngô và Tiền Lê, Ông Tổ từng là Đô đốc thủy quân, có công đánh giặc Nam Hán và giặc Tống trên sông Bạch Đằng, góp phần gìn giữ non sông bờ cõi, được sắc phong: Lê triều Đô đốc Đồng Tri Quận công Nguyễn Tướng công, gia phong Linh Phù – Dực Bảo Trung Hưng, tự là Thủ Tín”.
          “Thời Hậu Lê thì có cụ Nguyễn Tất Khang (1674 – 1754), được sắc phong Lê Triều Đặc Tiến Phụ quốc Đại tướng quân – Tào Xuyên Hầu Nguyễn Tướng công, gia phong Linh Phù – Dực Bảo Trung Hưng, gia tặng Quang Ý – Trung Đẳng Thần vì có công đánh giặc giúp nước. Sau chiến tranh, Ngài lãnh đạo dân binh khai khẩn một dải đồng bằng ven biển từ Nam Định vào đến miền Trung, giúp dân khơi thông kênh mương, có ruộng cày cấy. Ngài còn cho bắc nhiều cầu qua sông cho dân đi lại thông thương”.
          Đó chính là cây cầu Tào (trên Quốc lộ 10 qua Ý Yên – Nam Định) và cầu Tào Xuyên (trên Quốc lộ 1A qua Thanh Hóa). Cách đặt tên cầu theo tước Tào Xuyên Hầu của ông để người đời sau ghi nhớ công trạng của vị quan yêu nước thương dân. Do có công với nước nên dòng họ Nguyễn Tất được Vua ban 3 sào đất bên sông Sắt làm nơi mai táng các vị dũng tướng, nơi ấy gọi là Mả Bến, gần cầu Tào hiện nay.
          Các cụ già trong làng vẫn còn nhớ lời dặn của đời trước về khu nghĩa địa: “Đông – Tây ba chục mét dài, Bắc – Nam hai tám tháp đài trung tâm. Là nơi cấm địa ngàn năm, con con cháu cháu hãy tầm nhớ ghi”. Vì thế, ngoài khu trung tâm có xây tháp để cúng tế, tất cả đều bằng phẳng, vị trí các ngôi mộ không được xác định rõ ràng.
          Thời Nguyễn cũng có 5 đạo sắc phong của các vua Nguyễn cho các vị danh tướng dòng học Nguyễn Tất. Đó là 1 sắc phong năm Thành Thái thứ 3 (1891), 1 sắc phong đời vua Duy Tân (1909) và 3 sắc phong thời vua Khải Định (1924). Nội dung các sắc đều suy tôn công đức của các vị tướng dòng họ Nguyễn Tất, chuẩn cho dân chúng phụng thờ, cầu mong các vị trung thần tiếp tục hộ quốc an dân.

Sắc phong năm Duy tân thứ 3 (1909).

          Như vậy, phải chăng dòng học Nguyễn Tất ở thôn Ninh Xá, xã Yên  Ninh, huyện Ý Yên – Nam Định là hậu duệ của đô đốc thủy quân Nguyễn Tất Tố?. Câu hỏi này cần các nhà sử học, nhà nghiên cứu làm sáng tỏ. Tuy nhiên, hai bộ tướng Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận được sử sách ghi chép chắc chắn là những nhân vật lịch sử đã làm vẻ vang cho hai dòng họ Nguyễn và Đào, là niềm tự hào của Hải Phòng – quê hương hai ông. Về hai nhân vật lịch sử này đã có các cuộc hội thảo khoa học được tổ chức để đánh giá thân thế và công trạng của các ông. Tuy nhiên vẫn cần làm rõ những điều mới phát hiện về Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận trong nhân dân.

          P.V Thi, Hội KHLS Hải Phòng biên soạn, có tham khảo:
          – Ngọc phả Ngô Quyền của làng Da Viên và tài liệu thu thập trong dân gian năm 1977 -1978 lưu trữ tại Bảo tàng Hải Phòng:
          – “Phát hiện 5 sắc phong quý ở Nam Định”/ Vân Thiêng//Báo ĐT Đài phát thanh tiếng nói VN (VOV). – ngày 09/01/2014.
          Bách khoa toàn thư mở http://vi.wikipedia.org.
          – Sách Nhân vật lịch sử Hải Phòng, tập 1.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *