Người khai sáng môn Trường Sinh học và cơ sở khoa học chữa bệnh của nó

Đasira Narađa được sinh ra trong một gia đình danh giá ngày 24 tháng 10 năm 1846, tại thành phố Colombo (Sri Lanka). Cha của ông là Ajita Narada, người Sri Lanka mang dòng máu của dòng họ Bombayese đài các. Xri Lan-ca tiếng Việt xưa gọi là Tích Lan là tên chính thức của Cộng hòa Dân chủ Xã hội Chủ nghĩa Sri Lanka. Đó là một đảo quốc với đa số dân theo Phật giáo ở Nam Á, nằm ở Ấn Độ Dương, cách khoảng 33 dặm ngoài khơi bờ biển bang Tamil Nadu phía nam Ấn Độ.

alt

                                                                            Một buổi thiền tập thể của các môn sinh thiền đường Văn Cao

Lớn lên, Đasira Narađa du học tại Ấn Độ và đã đậu bằng Tiến sĩ Triết học. Rồi ông trở thành một quan chức ngoại giao (có tài liệu nói là ngành Y tế) với một chức vụ khá cao và được bảo vệ nghiêm ngặt như những nhân vật quan trọng khác của Chính phủ Ấn Độ. Mẹ ông là người Tích Lan, một Phật tử dịu dàng với đầy đủ các đức hạnh của một người phụ nữ châu Á điển hình.

Kế thừa những phẩm chất của cha mẹ, Đasira Narađa đã có một trái tim nhiệt huyết, công bằng và một tâm hồn cao thượng. Ông là con trai duy nhất và niềm hy vọng duy nhất cho gia đình. Mặc dù cha ông muốn ông phát triển nghề nghiệp trong các vấn đề xã hội hay kinh tế ở nước ngoài, nhưng Đasira Narađa đã không từ bỏ ý định tìm kiếm sự giải thoát về tinh thần. Ông ghi danh vào nghiên cứu Triết học phương Đông tại Đại học Nalanda (Ấn Độ) và sau mấy năm miệt mài học tập, nghiên cứu, ông đã nhận bằng Tiến sĩ bậc ưu trong năm 1871. Đại học Nalanda là một trung tâm học tập bậc cao có từ thời cổ đại ở bang Bihar, Ấn Độ, tồn tại từ thế kỷ thứ 5. Đại học Nalanda có một bề dày truyền thống như là một tu viện (Vihara) trước khi trở thành một trường Đại học Phật giáo quốc tế, đồng thời cũng là một trung tâm văn hóa thế giới có tiếng tăm.

Các kiến ​​thức về triết lý Đông phương đã giúp ông hiểu sâu sắc về sự vô thường của cuộc sống. Lòng nhân từ của ông, khát vọng cao quý của ông và những kiến thức cao siêu về Triết học phương Đông mà ông đã hấp thụ được là động cơ thúc đẩy ngài Tiến sĩ trẻ đi tìm kiếm sự giải thoát cho chính mình cũng như đối với loài người.

Khi cha của ông qua đời vào năm 1888, Chính phủ Sri Lanka đã mời Đasira Narađa về tham gia vào công việc của nhà nước, nơi quê hương yêu dấu mà cha mẹ mình đã dành trọn niềm yêu quý. Sự cống hiến của ông đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, đạt yêu cầu Bộ Ngoại giao Sri Lanka. Từ những thành tựu trong học tập, nghiên cứu và làm việc của mình, Đasira Narađa đã bảo đảm cho mình một tương lai tươi sáng trong chính phủ.

Năm 1893, đột nhiên Tiến sĩ Đasira Narađa từ chức khỏi vị trí công tác của mình, một vị trí lý tưởng mà nhiều người khác mong muốn cũng không dễ có được. Mặc một bộ quần áo nâu đã bạc màu, mang một cây gậy đơn giản, ông đã lặng lẽ bỏ lại đằng sau tất cả,… Ông đi bộ trên khắp đất nước Ấn Độ tự tìm kiếm cho mình con đường tu học. Thế rồi, ông đặt đôi chân trần đến dãy núi Hy Mã Lạp Sơn và bắt đầu thực hành “con đường” tâm linh của mình.

Sau 18 năm tự tu luyện miệt mài trong hang núi, ngài Đasira Narađa đã đạt được sự Giác ngộ chiếu sáng, tự khai mở được Luân xa của mình và đã có thể tự hấp thụ năng lượng vũ trụ vào cơ thể của mình. Điều đặc biệt là ngài cũng đã thành công trong việc phát hiện ra một phương pháp để giúp khai mở Luân xa cho người khác, mà không đòi hỏi họ phải đi qua một quá trình tu luyện lâu dài và khó khăn như mình đã trải qua. Thế rồi, ngài xuống núi đi khắp nơi mang những kinh nghiệm có được sau 18 năm tu luyện để giúp đời.

Với nhận thức sâu sắc về những thử thách đã trải qua và ý thức mở rộng, Tiến sĩ Đasira Narađa đã giới thiệu tầm nhìn mới cho đời sống con người ở xã hội Ấn Độ đương thời và tiếp tục phát triển hoàn thiện những kiến thức về rèn luyện sức khỏe cả Tâm lẫn Thân để đưa ra giúp người dân.

Sau nhiều năm đi khắp nơi để giúp mọi người, vào năm 1916 Tiến sĩ Đasira Narađa tìm thấy một người gốc Sri Lanka trên đất Ấn Độ, tên thật là Sumanapala, đã đạt đến tuổi 18, có đầy đủ những phẩm chất, tố chất và khả năng để kế thừa phát huy những kết quả đã có và tiếp tục giúp cho đời. Với sự tự tin tuyệt vời, Tiến sĩ Đasira Narađa đã chia sẻ tất cả các kiến ​​thức cùng những kinh nghiệm của mình và hy vọng người kế thừa sẽ tiếp tục đưa ra giúp cho nhân loại bớt khổ đau.

Sau 8 năm giảng giải, hướng dẫn cho đệ tử, vào năm 1924, Tiến sĩ Đasira Narađa truyền lại bí quyết “chìa khóa” và đưa người học trò của mình ra giúp đời, còn mình tìm đến một nơi bí ẩn và từ đó không có ai bao giờ nhìn thấy ngài một lần nữa. Người đời sau tôn vinh Tiến sĩ Đasira Narađa là Tổ sư đời thứ Nhất (hay Đệ nhất Tổ sư) của pháp môn Trường Sinh học, và người ta đã chọn ngày 24 tháng 10 dương lịch hàng năm làm ngày kỷ niệm Sinh nhật của Đức Tổ sư Đasira Narađa.

Người kế thừa trọng trách của Tiến sĩ Đasira Narađa tên là Sumanapala, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1898 tại Kotahena, ngoại ô thành phố Colombo, thủ đô Sri Lanca, sau này đã trở thành Tổ sư đời thứ Hai (hay Đệ nhị Tổ sư). Sumanapala là một người theo đạo Thiên chúa gốc, nhưng cũng có tài liệu nói ngài xuất thân từ một gia đình Phật tử trí thức trung lưu, lúc thiếu thời được gửi đi học trong trường St Benedicts College, là một trường Thiên Chúa giáo thuộc Dòng La San. Sau khi chấp nhận nhiệm vụ từ Tiến sĩ Đasira Narađa, ông đã thực hành tâm linh theo Phật giáo dưới cái tên là Narada Maha Thera (Đại lão Hòa thượng Narađa). Ngài Narada Maha Thera vào học Đại học Quốc gia Sri Lanca (Đại học đường Tích Lan) và cũng đã đạt tới học vị Tiến sĩ Triết học, về sau được bổ nhiệm làm giáo sư Đạo đức học và Triết học tại trường đại học này. Từ đó cho đến cuối đời, ngài đã lặng lẽ thực hành và duy trì kỷ luật của pháp môn Trường Sinh học.

Tiến sĩ Narada Maha Thera đã có một mối quan hệ tốt với Việt Nam. Trong những năm từ 1930 đến 1950, ông đi đến nhiều nơi tại miền Nam Việt Nam để hoằng pháp. Ông đã đại diện Hội Phật giáo Ấn Độ đến thăm Hội Phật giáo Việt Nam, đề nghị trùng tu một số di tích của Đức Phật tại Việt Nam, tặng cây Bồ đề và nhiều ấn phẩm văn học tinh thần, ảnh di tích của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho Việt Nam. Một số những cây Bồ đề ngài đưa từ Ấn Độ sang trồng ở Việt Nam hiện đang xanh tốt tại các địa phương như: Thích Ca Phật Đài (TP. Vũng Tàu), trụ sở Ủy ban MTTQ quận Phú Nhuận (TP. HCM),… Năm 1972, Tổ sư đời thứ Hai, Tiến sĩ Narada Maha Thera đến thăm Việt Nam lần cuối cùng và ông đã nhận hướng dẫn cho 5 người Việt Nam (có 4 người đàn ông và 1 phụ nữ) để truyền lại bí quyết Trường Sinh học. Năm 1974, Tiến sĩ Narada Maha Thera trở lại Sri Lanka.

Tổ sư đời thứ 2 môn thiền Đarisa Narađa – Tiến sĩ Narada Maha Thera viên tịch ngày 09 tháng 10 dương lịch năm 1983 ở tuổi 85 tại học viện Phật giáo Vajirarama Temle, nơi ông đã lãnh đạo trong suốt những năm cuối của cuộc đời. Tang lễ của ông được long trọng tổ chức như một tang lễ cấp Nhà nước của Chính phủ Sri Lanka và Giáo hội Phật giáo Sri Lanka.

Các nhà khoa học đã khẳng định, bộ não con người được cấu tạo tinh vi nhất trong vũ trụ. Với hàng tỷ nơ-ron thần kinh, con người mới chỉ “sử dụng” được vài phần trăm, còn hơn 90% vẫn ở dạng tiềm năng. Khi người tập trường sinh học dưỡng sinh- đưa năng lượng vũ trụ vào “tưới” khắp các cơ quan, kích thích vào cái phần “chưa được sử dụng” ấy, thì nhiều tiềm năng con người được… đánh thức.

Theo quan niệm của triết học phương Đông, con người là một tiểu vũ trụ, có cấu tạo tinh vi, hoạt động một cách trật tự theo một chu kỳ đặc biệt gọi là chu kỳ sinh học hay đồng hồ sinh học. Y học phương Đông đã tìm ra trên cơ thể con người rất nhiều điểm khi châm kim vào có thể chữa được hầu hết các bệnh, người ta tập hợp các điểm đó thành 365 huyệt, nằm trên 12 đường kinh và 2 mạch Nhâm và Đốc. Trên hai mạch Nhâm và Đốc có 6 cặp đại huyệt cực kỳ quan trọng, là các trung tâm có khả năng trực tiếp thu năng lượng từ bên ngoài, còn gọi là các luân xa.

Trong hệ KINH MẠCH của con người, ta chú ý đến MẠCH NHÂM và MẠCH ĐỐC. Hai mạch này nối liền khi ta ngậm miệng lại, tạo thành một vòng kín lưu thông khí huyết. Cơ thể năng lượng của con người không ngừng chuyển động, tạo ra một dòng chảy năng lượng lớn nhất dọc theo mạch Nhâm và mạch Đốc, nó kết thúc tại điểm giữa hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài.

Các luân xa là trung tâm thần kinh. Các trung tâm này liên quan chặt chẽ tới các cơ phận trong cơ thể, nếu được tác động nó sẽ mở ra, chuyển động quay và thu năng lượng từ không gian, từ vũ trụ. Năng lượng này tràn vào cơ thể, đến những vùng bị bệnh, điều chỉnh và xác lập cân bằng năng lượng sinh học, giúp cho cơ thể hết bệnh. Đó chính là khả năng phòng bệnh và điều chỉnh bệnh của trường sinh học dưỡng sinh. Luân xa (hay còn gọi là huyệt đạo) là cửa ngõ để giao tiếp, trao đổi năng lượng giữa cơ thể với môi trường. Nhiều môn như khí công, yoga,… cũng ứng dụng lý thuyết này, tuy nhiên phương pháp của Tiến Sĩ Dasira Narada phát minh có ưu điểm là người học được mở luân xa ngay, phát huy tác dụng nhanh khi ngồi thiền đúng phương pháp được hướng dẫn. Thực tế ứng dụng trường sinh học dưỡng sinh qua nhiều năm cho thấy con người có những khả năng tiềm ẩn trong chính mình, nếu được khai thác sẽ có tác động để phòng bệnh, phục hồi sức khỏe cho mình và cho người khác. Có thể nói môn thiền dưỡng sinh Darisa Narada là một môn khoa học bảo vệ sức khỏe, không hề có yếu tố mê tín hoang đường nào.

Khởi thủy từ Sri-lan-ca, môn thiền dưỡng sinh Darisa Narada được truyền bá sang các nước châu Á rồi lan sang châu Âu, châu Mỹ và ngày càng phổ biến rộng khắp thế giới. Đến nay đã có 200 quốc gia và vùng lãnh thổ có trung tâm dưỡng sinh Darisa Narada (ở hầu khắp các châu lục, trừ châu Phi) gọi là Vi Diệu Pháp hành thiền. Trong đó Tây Ban Nha là nước có nhiều thiền đường của môn phái này nhất.

Tại Việt Nam tới nay đã có hơn 70 thiền đường khắp các tỉnh – thành phố, trong đó có nơi có tới 2-3 thiền đường như Hà Nội, Quảng Ninh, Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh. Ở thành phố Hải Phòng hiện nay cũng có 2 thiền đường, trong đó thiền đường Hoa Phượng Đỏ tọa lạc ở số nhà 7 ngõ 346, phố Văn Cao, quận Ngô Quyền là cơ sở chính thức của môn phái Vi Diệu hành thiền, hoạt động theo giấy phép của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố, đáp ứng các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, địa điểm, có Ban điều hành và Trung tâm trưởng chịu trách nhiệm điều phối hoạt động chung.

alt

Các môn sinh (áo trằng) thiền đường Văn Cao đang truyền năng lượng chữa bệnh.

Còn thiền đường tại số 1 phố Ngô Kim Tài là CLB dưỡng sinh trực thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. Tại mỗi thiền đường có từ 30 – 40 môn sinh các cấp (từ cấp 1-2 tới cấp 5) đã được các thầy cô giảng huấn cấp cao (6-7) khai mở luân xa qua các khóa học trong nước, ngoài nước. Họ trải qua quá trình tu tập, thiền định mỗi ngày vài giờ đồng hồ và thường xuyên lui tới thiền đường chữa bệnh giúp người khác (miễn phí). Các môn sinh này thường ai cũng từng mắc bệnh, có người bệnh nặng, nhờ theo đuổi môn thiền dưỡng sinh Darisa Narada này mà nhiều người đã khỏi bệnh hoặc thuyên giảm rõ rệt. Về lý thuyết, môn Vi diệu pháp hành thiền (tên gọi của môn phái) có khả năng chữa trị khoảng 81 bệnh, trong đó có bệnh mà y học hiện đại bó tay như hen suyễn.

Tác dụng kỳ diệu của môn dưỡng sinh Darisa Narada đã được nhiều người kiểm nghiệm qua thực tế mà tôi là một môn sinh chứng nghiệm:

Trước đây tôi bị viêm niêm mạc dạ dày, mắc hội chứng co thắt đại tràng và men gan cao, máu nhiễm mỡ. Sau 2 năm theo học môn dưỡng sinh này và được khai mở luân xa, ngồi thiền ngày 2-3 lần (mỗi lần 1 tiếng đồng hồ), lại còn đến thiền đường thực tập chữa bệnh cho người khác (có các môn sinh cấp cao hơn hướng dẫn), mới đây (ngày 12/10/2019) tôi đến bệnh viện khám bệnh và thấy kết quả như sau:

Men gan đã giảm từ 90/50 (năm 2017) xuống còn 60/50 (bình thường của mỗi người là 50). Gan nhiễm mỡ giảm từ độ 2 xuống độ 1. Máu nhiễm mỡ giảm từ 3 đơn vị xuống 2 đơn vị (người ta bình thường là 1,8). Theo bác sĩ, đó là kết quả tạm chấp nhận được đối với người Việt Nam.

Đặc biệt, dạ dày tôi không còn đau nữa và hội chứng co thắt đại tràng gần như biến mất. Kết quả này có được chủ yếu là do tôi chăm chỉ thiền định (tất nhiên còn do tôi không hút thuốc lá, không uống rượu bia nhiều, ăn chất béo ít).

Nhiều người từng là bệnh nhân nặng như đau xương khớp, viêm xoang mãn tính, mất ngủ triền miên… nhờ theo môn dưỡng sinh này mà khỏi bệnh và đã kể lại cho người khác trong các khóa học thiền do các thiền đường tổ chức nên không phải vô cớ mà số người đến các thiền đường xin được chữa bệnh và sau đó theo học ngày càng đông.

Hy vọng những ai đọc được những chia sẻ này hãy tìm đến các trung tâm Vi diệu pháp hành thiền để tìm hiểu và chứng nghiệm. Biết đâu cơ duyên lại đưa quý vị tới bến bờ hạnh phúc với thân, tâm an định.

Phạm Văn Thi – môn sinh cấp 3 thiền đường Văn Cao

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *