Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đình, chùa Hải Phòng.

Đình Kiền Bái (Thủy Nguyên) – Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia

          Kiến trúc đình, chùa Hải Phòng

          Trong các di tích tôn giáo, tâm linh như chùa, đình, đền Việt Nam, nghệ thuật kiến trúc công trình luôn gắn bó mật thiết với nghệ thuật trang trí, điêu khắc để tạo cho công trình giá trị sử dụng, mỹ thuật và tâm linh. Tất cả hình khối, bố cục, sắp xếp các thành phần của công trình một cách hợp lý cùng các chi tiết trang trí sinh động, đẹp mắt mà bàn tay tài hoa của nghệ nhân tạo nên với ý tưởng của người làm ra chúng góp phần thu hút người ta đến với đình, chùa, đền, miếu.
          Thông thường, các kiến trúc đình, chùa Việt Nam thường tuân theo khuôn mẫu truyền thống dân tộc của mỗi vùng, miền. Tuy nhiên chúng cũng ít nhiều thay đổi theo thời đại và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nơi và nghệ thuật trang trí, điêu khắc tô điểm công trình cũng có thể biến đổi đôi chút tùy theo nhân tài, vật lực mỗi địa phương cũng như ý đồ sáng tạo của nghệ nhân tạo ra chúng.

Đền Chợ Giá (Mỹ Giang-Thủy Nguyên) có kiến trúc, cảnh quan đẹp

          Sau đây xin khái quát những nét chung về kiến trúc đình, chùa Hải Phòng.
          1) Kiến trúc đình:
          Mỗi làng Việt Nam đều có một ngôi đình. Đình là nơi thờ thần Thành Hoàng của làng. Thần Thành Hoàng thường là những bậc anh hùng có công dựng nước, giữ nước; một người đã tạo làng, mở đất, dạy nghề cho dân hoặc một thiên thần, nhiên thần mang tính huyền thoại đã giúp dân trị thuỷ, tạo mưa, hay đem lại cuộc sống yên lành cho mọi người, mọi nhà.v.v..
          Đình vừa là nhà, vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi hội họp của dân làng, là ngôi nhà công cộng của mỗi cộng đồng cư dân nông nghiệp làng xã. Mọi tập tục, văn hoá, nếp sống của làng thường được định ra ở đây, có tên gọi là Hương ước, một thứ luật lệ dưới luật, nhưng không kém phần nghiêm ngặt với các thành viên của làng.
          Kiến trúc đình làng thường theo kiểu “Vì kèo” có sàn gỗ, hoặc nền đất lát gạch với những hàng cột lim to khoẻ, vững chãi. Phân bố các gian của đình thường là 3 gian, hoặc 5 gian, tuỳ theo khả năng làng to nhỏ, giàu nghèo. Mái đình lợp ngói có độ dốc vừa phải. Bốn góc mái thường có đầu đao uốn cong mềm mại vút lên như cánh chim bay. Hoặc theo kiểu “mái dốc – hai đầu đốc” có hoặc không có cánh gà nhô lên. Bờ nóc của đình thường được trang trí một dải dài hoa văn chạm nổi hoặc chạm thủng chạy suốt là hoa chanh, hay hoa thị. Bờ nóc thường đắp đôi rồng chầu nguyệt (hoặc chầu mặt trời). Tường bao xây bằng gạch trần nung già “da vải” mạch bắt vữa, hoặc trát vữa (còn gọi là hồ áo), quét vôi trắng. Nhìn gần, ngôi đình có độ thấp với mái ngói hơi nặng, nhưng nhìn xa lại có vẻ bề thế, thanh thoát bởi độ cao vừa phải, vừa với tầm kích con người Việt Nam nên nó thân mật, không tạo khoảng cách xa lạ, hoặc khiến người ta choáng ngợp như những giáo đường phương Tây có gác chuông cao nhọn chọc thẳng lên trời. Trước ngôi đình thường có giếng nước hoặc hồ nước – ao làng (theo thuyết phong thủy âm dương hoà hợp). Hồ thường thả sen, hay súng, tới mùa hương hoa toả thơm mát dịu. Nằm trong khuôn viên kiến trúc còn có tam quan – cổng đình, có mái lợp ngói hoặc là bốn trụ có trang trí kiến trúc đứng lộ thiên. Góp phần vào vẻ đẹp kiến trúc, còn có những cây cổ thụ  như đa, muỗm, gạo – tỏa bóng mát xuống công trình. Màu trắng của tường vôi, màu nâu đỏ của ngói hoặc gạch trần, hoặc rêu phong, màu xanh của lá, mặt phẳng thoáng của nước hồ ao như tấm gương soi phản chiếu cảnh vật, nhân đôi chiều cao công trình… Tất cả hợp thành hoà sắc bức tranh làng quê thân thuộc, êm đềm, đầy chất trữ tình.

Đình Cung Chúc xã Tân Lập (Vĩnh Bảo) có kiến trúc độc nhất vô nhị ở HP

          2) Kiến trúc chùa Hải Phòng:
          Ở Việt Nam hiện có ba hệ phái Phật giáo chính là Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ. Ở miền Bắc chỉ có các ngôi chùa Phật giáo Bắc tông.
          Kiến trúc chùa Việt Nam rất đa dạng. Các ngôi chùa Hải Phòng cũng mang kiểu dáng kiến trúc chung của phật giáo Bắc tông.
          Sau đây là một số kiểu kiến trúc của chùa Hải Phòng:
          Các kiểu chùa truyền thống thường được đặt tên theo các chữ Trung Quốc có dạng gần với hình dạng kiến trúc chùa. Đó là kiểu chữ Đinh, kiểu chữ Công, kiểu chữ Tam và kiểu nội Công ngoại Quốc. Tên những kiểu chùa này chỉ dựa vào cụm kiến trúc chính. Chùa thường dàn trải theo mặt bằng với nhiều đơn nguyên kiến trúc như nhà tổ, nhà tăng, các tháp, gác chuông, lầu khánh và nhà bia tạo nên vẻ đa dạng của các hình khối, đường nét và chi tiết của nghệ thuật tạo hình.

Chùa Vẽ (Hoa Linh tự) có cảnh quan, kiến trúc đẹp

          Chùa bao giờ cũng được dựng ở mảnh đất thu giữ được khí thiêng của trời đất: đất cao, tươi nhuận, có dòng chảy hoặc hồ ao trước mặt. Mặt chùa quay hướng Nam, đó là hướng bát nhã (trí tuệ), phát triển thiện tâm. Mở đầu cho ngôi chùa là tam quan. Qua tam quan là tới tòa tiền đường, nhùa Veơi đây các Phật tử ngồi tụng kinh. Bàn thờ Phật nằm ở gian giữa chùa, gian này mở lùi về phía sau, tạo cho chùa chính có kết cấu hình chữ Công hay chữ Đinh. Do cửa chùa luôn rộng mở với mọi chúng sinh, nơi thờ không bao giờ bị che chắn, vì vậy nơi đây gọi là thượng điện. Bao quanh hai bên chùa nhiều khi còn có hai dãy hành lang và phía sau là nhà hậu. Tòa nhà hậu (hậu đường) thường để thờ tổ chùa (người có công tạo dựng chùa đầu tiên), thờ mẫu, thờ những người có công với chùa; đồng thời làm nơi ở cho chư tăng, nhà khách, nhà bếp … Ngoài ra, hầu như chùa nào cũng có tháp. Số lượng tầng tháp gắn với cương vị thuộc kết quả tu hành trong Phật đạo.
          Vẻ đẹp của ngôi chùa trước hết là ở chỗ nó hài hoà với cảnh quan môi trường chung quanh. Chùa Việt Nam thường gắn bó với sông nước, hồ ao. Bố cục mặt bằng của các ngôi chùa thường lấy sự cân xứng đăng đối làm phương thức chủ đạo.
          Theo con số thống kê chưa đầy đủ, thành phố Hải Phòng hiện còn lưu giữ hơn 1.000 di tích, bao gồm 537 ngôi chùa, 107 nhà thờ, số còn lại là các đình, đền, miếu, phủ…Trong đó, có 103 di tích được Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia; 165 di tích được Uỷ ban nhân dân thành phố xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp thành phố. Địa phương có số lượng đình nhiều nhất là huyện An Dương.
          Cũng như các nơi trên đất nước ta, ở Hải Phòng hầu như tất cả các làng, xã đều có đình, chùa, trong đó đình là nơi thờ thành hoàng và chùa là nơi thờ Phật (nhiều chùa phối thờ cả Thánh)
          Khái quát chung về điêu khắc đình, chùa Hải Phòng:
          1) Điêu khắc đình: Nhìn chung thế kỷ 16,17 là thời kỳ điêu khắc đình làng mang đậm nghệ thuật dân gian, khắc họa đời sống thường nhật với hình ảnh quen thuộc. Sang thế kỷ 18,19, hình thức nghệ thuật này hầu như không còn nữa, thay vào đó là những trang trí hình hoa lá, bộ tứ linh. Trải qua thời gian, chiến tranh những bức chạm khắc hỏng dần theo năm tháng nên nghệ thuật điêu khắc trong kiến trúc đình, chùa, đền Hải Phòng đa phần mang phong cách thời Nguyễn (là thời phong kiến gần đây nhất). Ở giai đoạn này, chạm khắc chủ yếu tập trung vào  cửa võng, trước điện thờ (đình Cựu Đôi – Tiên Lãng); chùa Mét -Vĩnh Bảo). Tuy nhiên cũng có những đình như Hàng Kênh (500 bức chạm), đình Dư Hàng (hơn 200 bức) người ta không chỉ trang trí ở cửa võng mà trang trí trên hầu khắp các đầu dư, vì kèo.
          Có thể nói, điêu khắc ở mỗi đình không giống nhau. Có đình trang trí nhiều như đình Hàng Kênh, Dư Hàng, Kiền Bái, miếu Nam; có đình trang trí ít như đình Dụ Nghĩa. Cũng có đình tuy trang trí không nhiều nhưng lại cầu kỳ, tỉ mỉ mang phong cách truyền thống như đình Vĩnh Khê, Từ Lâm. Đặc biệt đình Kiền Bái huyện Thủy Nguyên là ngôi đình duy nhất ở Hải Phòng còn giữ được hệ thống ván sàn thời khởi dựng với giá trị lịch sử cao(Đây là một trong số những ngôi đình có niên đại tuyệt đối chính xác – 1685). Không những vậy, đình còn lưu giữ được các mảng trang trí kiến trúc tài hoa và phóng khoáng với nghệ thuật điêu khắc dân gian thể hiện đời sống dân dã và sự mong muốn công bằng xã hội thông qua những bức chạm trang trí: lợn ăn lá dáy, lưỡng long chầu nguyệt, người cưỡi phượng trong tư thế bay lên. Cả công trình là một bộ sưu tập tranh điêu khắc gỗ quý giá được tạo tác trên nền của một kiến trúc cổ kính và tao nhã.
          – Rồng – hình tượng chủ đạo trong các mảng trang trí: Rồng được thể hiện nhiều trong các bức chạm khắc nhưng mức độ thể hiện ở mỗi đình, chùa có khác nhau. Có đình hình tượng rồng thể hiện ít, có đình hình tượng rồng được thể hiện hầu hết trong các bộ phận kiến trúc như đình Quán Khái (Vĩnh Bảo). Ở đây rồng được trang trí trên bờ nóc mái, đầu dư của bộ khung chịu lực, trên các mảng trang trí đơn lẻ trong nhiều tư thế khác nhau: độc long, long cuốc thủy, hoa lá hóa long, với bút pháp cách điệu đầy tính sáng tạo. Một ví dụ khác là đình Hàng Kênh và đình Dư Hàng: về tổng thể đình Dư Hàng được mô phỏng hoàn toàn theo đình Hàng Kênh về kích thước, kiểu dáng và bài trí đồ thờ tự nhưng nghệ thuật điêu khắc là sự thể hiện tài năng sáng tạo của người thợ thủ công thế kỷ 19, còn đình Hàng Kênh mang những đặc điểm đặc trưng của nghệ thuật thời Hậu Lê và sau này là thời Nguyễn. Đình Hàng Kênh được các nhà nghiên cứu cho là có giá tri lịch sử, kiến trúc, điêu khắc vào loại nhất của thành phố Hải Phòng.
          Khi dựng đình, các làng thường chọn hai tốp thợ để đôi bên thi tài. Vì thế trong mỗi  công trình kiến trúc, cách thể hiện trong nghệ thuật điêu khắc cũng có sự khác nhau. Ở đình Lễ Hợp (xã Tam Đa-Vĩnh Bảo) trên 6 cặp đầu dư được thể hiện hình rồng cách điệu có đủ râu tóc, mắt lồi, lưỡi đè viên ngọc nhỏ nhưng đầu dư mé hồi tả thì rồng có bộ râu tóc kiểu làn sóng, râu cong xoăn hình số 8 trong khi mé hồi hữu rồng có làn đạo, tóc hơi thẳng bay song song, đầu nhọn hình lưỡi mác như nhắc lại phong cách mỹ thuật thế kỷ 18. Bên cạnh hình tượng rồng là những linh vật khác như qui, phượng, hươu, lân được thể hiện phong phú, sinh động xen lẫn với những bức chạm cỏ cây, hoa lá.
          – Các loài hoa quí: Cúc, trúc, mai, lan… và cỏ cây muông thú thường gặp trong đời sống thường nhật cũng được chạm, khắc. Ngoài ra chó, lợn, mèo voi… cũng được  thể hiện trên các mảng trang trí. Nhưng phong phú, đa dạng hơn cả vẫn là các bức chạm miêu tả đời sống sinh hoạt của người dân. Có lẽ những người thợ thủ công xuất thân là nông dân nên khi thể hiện những đề tài trang trí họ đưa vào cảnh sinh hoạt quen thuộc của quê hương vì vậy đề tài này luôn hấp dẫn người xem bởi tính tả thực (đình Kiền Bái). Bên cạnh đó là những bức chạm tả cảnh thiên nhiên: hoa nở mùa xuân, tranh tứ bình (đình Quán Khái ). Đình Quán Khái (Vĩnh Phong – Vĩnh Bảo) tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của đình làng Việt Nam đầu thế kỷ XX.
          –  Đề tài điêu khắc Phúc, Lộc, Thọ (tiêu biểu là miếu Thủy Tú- Thủy Nguyên).
          – Điêu khắc trên các đồ tế tự: Nhang án, long đình, bệ tượng là những di vật mang tính linh thiêng nên sau khi được thực hiện bằng các kỹ thuật chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng cầu kỳ, tinh tế còn được sơn son thếp vàng rực rỡ. Nhiều đình còn giữ được những đồ tế tự quí lâu đời như hương án đình Lôi Động, miếu Hạ Lũng; khám kiểu “chân quì, dạ cá” đình Dụ Nghĩa; kiệu bát cống miếu Cựu Điện, đền An Lư, đền Trinh Hưởng là những cỗ kiệu được trang trí cầu kỳ, tinh xảo; riêng cỗ kiệu thất công miếu Nam (xã Bắc Sơn-An Dương) được coi là “độc nhất vô nhị” vì các kiệu ở Hải Phòng còn lại chủ yếu là kiệu bát cống. Cỗ kiệu này dài 4 m, mang phong cách nghệ thuật Nguyễn cuối thế kỷ 19. Hai cỗ kiệu đặc tả rồng trong tư thế bay giữa áng mây cụm song song từng đôi một.
          2) Điêu khắc chùa:  Tuy không được thể hiện nhiều như điêu khắc đình nhưng lại tập trung vào hệ thống tượng. Có thể coi mỗi chùa là một bảo tàng về nghệ thuật tượng tròn. Tượng là sản phẩm nổi bật nhất của nghề chạm gỗ. Tượng được làm bằng nhiều loại vật liệu: gỗ, đá, đất. Trong các đình, chùa, miếu của Hải Phòng số lượng tượng đá ít hơn số lượng tượng gỗ. Các tượng phần lớn không rõ niên đại, điều này cũng giống như bản thân các công trình kiến trúc. Nhìn chung ở Việt Nam tượng Phật được làm vào thời Lý mới chỉ được tìm thấy 2 pho và 10 tượng linh vật. Đến thời Trần và Lê sơ số tượng cũng không nhiều nhưng đến thời Mạc thì có sự thay đổi cả về số lượng và mỹ thuật trên bình diện xã hội. Tượng thời Mạc đẹp, mang tính nhân bản sâu sắc và gần với người thật. Trong mỗi pho tượng hầu như chứa đầy sức sống, trong sáng, nhân hậu không nét xa cách và trở thành khuôn mẫu cho tượng thời sau, ví dụ các pho tượng trong chùa Trà Phương – Kiến Thụy. Tượng Tượng không ghi niên đại, nhưng căn cứ nghệ thuật chạm khắc và so sánh với chùa Phúc Hải (xã Đa Phúc) làm năm Diên Thành 6 (1583) và tượng chùa Đại Trà (xã Đông Phương) làm năm Diên Thành 1 (1578) đời Mạc Mậu Hợp thì có thể xác định được niên đại nhà Mạc được cho là tượng chân dung Mạc Đăng Dung. Ngoài ra trong chùa còn có bức phù điêu hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn với gương mặt nhân hậu.
          Trên điện thờ các chùa là tượng Tam thế (quá khứ, hiện tại, tương lai), Quan Âm Bồ Tát trong thế cứu độ chúng sinh, tượng Ngọc Hoàng, tượng vua chúa,  hoàng hậu, công chúa… đã nói lên sự phát triển mạnh của điêu khắc tượng thời Mạc. Trong hệ thống tượng pháp phải kể tới tượng Quan Âm Nam Hải có nhiều trong các chùa, miếu ở Hải Phòng, vị thần được coi là thần hộ mệnh của người đi biển.
          Tượng được thể hiện ở nhiều tư thế, kích cỡ không giống nhau, niên  đại khác nhau. Pho tượng cổ được coi là có niên đại sớm nhất (thế kỷ 16) ở Hải Phòng là pho “Quan âm thiên thủ thiên nhỡn” ở chùa Thiểm Tây (Thủy Nguyên). Đây là pho tượng đẹp và là một trong những pho tượng có niên đại sớm được tìm thấy ở Việt Nam. Một số chùa còn bảo lưu được số lượng tượng khá lớn như chùa Mỹ Cụ, chùa Dư Hàng, chùa Vẽ… Bên cạnh tượng Phật là tượng vua chúa, hoàng hậu. Đáng tiếc là tượng vua chúa Mạc không còn lại là bao sau khi nhà Mạc bị tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh đánh bại. Riêng tượng Ngô Vương Quyền, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn  được tạc và thờ ở nhiều xã thuộc Hải Phòng. Tượng vua chúa thường được tạc trong tư thế uy nghiêm của các vị đế vương.

PV. Thi – Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *