Nghề làm con rối cổ và múa rối nước ở làng Bảo Hà (Vĩnh Bảo)

Chân dung bố tôi được nghệ nhân Hoàng Sầm tạc bằng gỗ giống y ảnh chụp

Múa rối nước Việt Nam là loại hình văn hóa dân gian độc đáo thế giới, nó đang từng bước khẳng định vị trí để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại.

Múa rối nước có gì mà hấp dẫn người xem đến thế? Đó là câu hỏi của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước.

Trước hết, múa rối nước là môn nghệ thuật văn hóa dân gian Việt Nam, nó đã hình thành từ lâu đời, hàng mấy trăm năm trước. Nó là sản phẩm đặc trưng của nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng Bắc bộ và xuất phát từ nghề tạc tượng. Ở Hải Phòng, làng Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo là cái nôi của nghệ thuật điêu khắc dân gian và sơn mài Việt Nam với những ông tổ nghề vang danh mấy trăm năm trước như Nguyễn Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ức.

Ở thôn Bảo Hà hiện naykhông ai là không biết nghệ nhân Hoàng Văn Sầm, 80 tuổi. Là người thợ điêu khắc – sơn mài, lại sinh ra trong một gia đình làm nghề tạc tượng, sơn mài truyền thống (cả bên nội và bên ngoại), lại được sống trong môi trường làng nghề nổi tiếng cả nước, nghệ nhân Hoàng Văn Sầm sớm lĩnh hội được khả năng làm tượng, sơn mài, làm con rối và phát huy được sở trường của mình trong lĩnh vực điêu khắc dân gian đã mấy chục năm nay. Hiện nay, song song với nghề tạc tượng, ông còn sáng tạo ra nghệ thuật truyền thần vào gỗ. Trước đây người ta truyền thần ảnh (vẽ chân dung từ ảnh chụp), nay ông vận dụng nghệ thuật tạc tượng để khắc chân dung người vào gỗ từ ảnh chụp. Nhiều người đã đến nhờ ông truyền thần vào gỗ chân dung ông, bà, bố, mẹ họ và rất thích sản phẩm này khi nó rất giống ảnh chụp người thân họ, hơn nữa tượng chân dung lại còn toát lên thần thái, có hồn.

Ở tuổi 80, ông vẫn say mê trong lĩnh vực của mình.Đến nhà ông lúc nào cũng thấy ngổn ngang chỗ thì tượng gỗ đã thành hình, chỗ thì con phượng, bình hoa gỗ hay cuốn thư đang tạo tác dở dang hoặc là tượng chân dung người thu nhỏ được điêu khắc từ gỗ. Sống một mình trong căn nhà gỗ kiểu những năm 80 trong một khu vườn cây trái rộng (vợ ông đã mất) và hiện nay người con trai và hai cô con gái ông đều có ra đình riêng ở cùng làng và trên phố huyện nên ông rất thích mời những hội viên Hội Văn hóa Dân gian chúng tôi đến chơi, nói chuyện.

Trong 2 lần đến chơi, tìm hiểu về làng nghề truyền thống này, tôi được biết thêm nhiều điều về nghề tạc tượng, múa rối nước và sơn mài ở đây.

Ông Hoàng Sầm kể: “Ngược dòng thời gian, khi đoànmúa rối làng Nguyên Xá (tỉnh Thái Bình) cần tạo hình con rối cho các tiết mục biểu diễn của mình, họ đã tìm đến làng Bảo Hà xã Đồng Minh (Vĩnh Bảo) nhờ chúng tôi sửa chữa, tạc mới con rối theo ý của họ. Những nghệ nhân Bảo Hà chúng tôi đã đáp ứng tốt yêu cầu của phường rối Nguyên Xá khiến họ rất hài lòng. Ngược lại, nghệ nhân Nguyên Xá lại bày cho chúng tôi cách làm pháo chuột, pháo thăng thiên, pháo bông để đưa vào các tiết mục múa rối nước cho thêm phần sinh động”. Theo ông, làng Nguyên Xá xưa có nhiều binh lính quân Tây Sơn theo Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc rồi ở lại lấy vợ, định cư ở đó và truyền lại kỹ thuật làm thuốc pháo, pháo hiệu cho người Nguyên Xá bởi quân Tây Sơn khi đó đã thạo nghề làm thuốc súng hỏa mai và đánh trận hỏa khí.

Ngoài ra đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng cũng nhiều lần về nhờ chúng tôi tu bổ, chế tạo con rối cho họ, lại còn học hỏi kỹ thuật chế tạo, biểu diễn con rối nước và từng biểu diễn ở nước ngoài được hoan hô nhiệt liệt khiến chúng tôi hết sức tự hào.”

Múa rối nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quân rối, diễn viên, ánh sáng, nhà thủy đình, pháo, âm nhạc, đạo diễn, lời thoại… nhưng quan trọng nhất là con rối.

Nghệ nhân Hoàng Sầm đã kể tôi nghe cách chế tạo con rối của các cụ xưa (chủ yếu là phục vụ mấy trò diễn cổ, không kể phần máy móc, thiết bị phụ trợ):

Con rối nước xưa được tạo bằng gỗ sung (loại cây mọc ở bờ ao, thân gỗ mềm, nhẹ, xốp, nổi như phao trên mặt nước), quả chín rụng xuống cho cá ăn.

Gỗ sung được người ta cưa, đốn, xẻ ra phơi nắng cho khô, hết nhựa. Nếu mùa đông hoặc gặp khi trời mưa, ẩm làm gỗ khó khô thì người ta phải hong lửa để sấy, để trên gác bếp hoặc gác dàn, sấy bằng trấu, mùn cưa. Thậm chí để chóng khô người ta còn xẻ gỗ thành các phần nhỏ dự định làm các bộ phận quân rối rồi nhúng vào nước muối để phơi, sấy. Bây giờ thì khác, khi thị trường có nhiều loại vật liệu nhẹ, khô rất tiện lợi cho việc làm con rối thì người ta dùng loại xốp cứng – dẻo hoặc xốp hạt để cắt, gọt thành con rối bằng các phương tiện như dao điện, cưa máy và dụng cụ khoét, đục (khỏi mất thời gian phơi, sấy cầu kỳ).

Các con rối được làm là: Chú Tễu (thường để mở đầu cho trò diễn gọi là trò giáo đầu); con rồng (long), con lân (hay ly), con rùa (quy) và chim phượng – 4 con vật của trò múa tứ linh, rồi quân Địa (với cái bụng phệ giống ông phật Di Lặc), con trâu, người thợ cày (trò cày ruộng), cái nơm (để úp cá), con cáo, con vịt (trò cáo bắt vịt), chú bé với cây sáo (trò mục đồng thổi sáo trên lưng trâu)…

Các con rối được các nghệ nhân xưa làm ra tuy không thật giống người, vật lắm vì công nghệ tạo tác đơn giản, nhưng đối với người biểu diễn rối thì điều này không quan trọng bởi khi sơn, quét màu và tô vẽ, mặc quần áo cho chúng rồi thì chúng sẽ trở lên sinh động. Quan trọng là tài điểu khiển con rối chuyển động của người diễn sao cho thật khéo léo, linh hoạt.

Trở lại việc làm con rối: Người ta cắt, gọt và chế tạo các bộ phận rời của con rối như đầu, tay, chân rồi dùng than xoan (đốt gỗ cây xoan) tán nhỏ, trộn tóc rối để mài cho nhẵn, sau đó dùng sơn ta sơn nhiều lớp cho bóng, chống thấp nước. Cuối cùng người ta lắp ghép chúng với nhau bằng những khớp nối.

Trong các công đoạn tạo tác con rối thì khâu sơn sản phẩm là phải làm nhiều lần nhất (tới 8 lớp sơn). Xưa kia chưa có sơn công nghiệp như bây giờ thì người ta phải pha chế sơn ta (lấy từ nhựa cây sơn) theo một công thức định sẵn khá nhiêu khê và khi sơn vào con rối thì lại tùy theo thời tiết mùa hè, mùa đông hay mùa thu, trời khô hay trời nồm để pha, thêm – bớt thành phần một cách hợp lý nhằm làm sản phẩm bóng, khô nhanh (điều này tùy thuộc vào kinh nghiệm của người thợ). Nhiều khi do thời tiết thay đổi đột ngột mà sơn ngả pha rồi không dùng được, người ta lại phải bỏ đi, làm lại. Thuật ngữ của thợ xưa gọi các công đoạn sơn là: sơn hong, sơn phủ, sơn bó, sơn thí, sơn cầm, sơn bóng. Đầu tiên người ta sơn hong là để gỗ bốc hơi nước nhanh, mang theo nhựa thoát ra, sau đó đến công đoạn sơn bó, sơn thí (2- 3 nước) bằng sơn ta (sơn cầm). Đối với các sản phẩm cần thếp bạc thì sau khi sơn các lớp cần thiết người ta phủ thếp bạc rồi sơn 2 lớp sơn bóng (màu cánh gián) cho đẹp và cũng là để giữ lớp thếp bạc được bền lâu.

Giờ đây, thị trường tràn ngập các loại sơn công nghiệp trong nước, ngoài nước thì công đoạn sơn con rối hay sản phẩm điêu khắc gỗ trở lên đơn giản hơn nhiều. Thay vì sơn nhiều lần, người ta chỉ cần sơn 2-3 lần là được một sản phẩm ưng ý mà thời gian khô con rối lại rất nhanh (dùng sơn công nghiệp gọi là cốn 2 thành phần).

Ông Hoàng Sầm còn mô tả một số trò rối truyền thống xưa người ta hay diễn (những tích trò gần gũi với đời sống và lao động của người nông dân) cho tôi nghe:

Tễu (đọc chệch của chữ “tiếu” – cười) giáo đầu: Là tiết mục mở đầu mỗi trò diễn với cảnh chú Tễu cầm loa ra xướng trò, giới thiệu tiết mục biểu diễn như kiểu hề chèo trong nghệ thuật chèo truyền thống. Tễu được tạo hình như một chú thiếu niên thời xưa với 2 bên tai là 2 lọn tóc hình trái đào, phần đầu thì trọc tếu, mồm cười hết cỡ lộ cả hàm răng trắng bóng, chìa cả lợi hàm trên nhưng đôi mắt vẫn mở to để nhìn khán giả. Đôi khi người ta còn tạo hình cậu với cái chão chẹt ở phần thóp trên trán, một mảng tóc nữa để chú có cả giới tính nam và nữ, trông càng buồn cười hơn làm ta liên hệ đến ông quan hoạn trong chèo khi ông ta cất tiếng the thé với giọng nửa nam nửa nữ.

Thân thể chú Tễu được tạc khỏa thân nửa trên, còn phần dưới có quần cụt hoặc khố chật, cổ liền với thân, bả vai có khớp để tay có thể quay được.. Chú mặc một cái áo màu đỏ khít cổ và to ra tận bờ vai để che đi cái khớp và áo thì chật cứng, không đóng được khuy (chỉ có một khuy cổ), đã thế áo lại cộc, hở rốn hàng tấc, trông thật tức cười.

Có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi: sao không tạc ông tễu, bà tễu mà lại là chú Tễu?. Ngày xưa có câu: “thầy già, con hát trẻ”. Một ý nữa gọi trò diễn rối là trò chơi con trẻ, nhưng thực tế thì lại thâm thúy, nó đề cập đến cả quan niệm tâm linh (trò tứ linh), hay triết lý đời sống (trò 2 con rồng thi tài phun lửa, phun nước và nước cuối cùng nước có thể thắng lửa) và các sinh hoạt đời sống, lao động sản xuất của người nông dân chân lấm tay bùn (cảnh chăn trâu, úp cá, thổi sáo, người và trâu cày ruộng).

Khi chú Tễu khai mạc trò diễn thì có thể châm pháo, tắt thuốc, vén mành đi vào trong nhà thủy đình rồi sau đó sẽ xuất hiện các trò diễn tiếp theo.

Trò múa Lân: Bên trái sân khấu, trước nhà thủy đình có 2 quân rối, một đánh trống, một đánh chũm chọe. Phần giữa sân khấu và bên phải là con lân và quân rối nữa là ông Địa. Trò diễn này nói lên mong ước hòa bình của nhân dân.

Các cụ xưa kể lại, nước Trung Hoa ngày xưa còn là hàng chục nước nhỏ, cứ đánh nhau liên miên. Dân chúng cực khổ đến vô cùng, nhà cửa tan nát, người chết, của mất. Bỗng nhiên từ trong rừng sâu đi ra một con vật to bằng con voi, có bộ lông dầy sặc sỡ, vằn vện như con hổ, cổ và lưng có bờm lông dài. Trên đầu con vật có một cái sừng bằng thịt, 2 mắt nó lồi như 2 quả bóng, cái mũi ngắn có 2 cánh phồng lên , 2 tai to như 2 cái quạt lúa. Con vật ấy được gọi là con lân. Nó trông dữ tợn nhưng lại rất hiền. Cái mồm nó rộng đến mang tai, hai hàm răng nhọn, sắc, cứ há ra, ngậm vào mà chẳng cắn ai. Cái sừng nhọn và cong cũng chẳng húc ai, giá có húc cũng chẳng đau vì sừng bằng thịt. Con lân đi đến đâu người xúm lại xem đến đấy, vượt cả biên giới để xem nó làm trò và quên mất việc đánh nhau nên thiên hạ được thái bình.

Con lân đi đến đâu được người ta cho ăn, cho uống và quạt mát (ông địa quạt cho nó), ai cũng muốn giữ nó ở lại lâu, không muốn cho đi. Từ đó, nó là biểu tượng của hòa bình.

Ở trò rối nước thì con lân múa với ông Địa bụng to, mắt tròn, miệng rộng, mặc chiếc áo ngắn màu đỏ (ý nói đất mầu mỡ, tốt tươi), hở bụng và ngực, chìa rốn và vú ra ngoài, hai tay ông cầm 2 cái quạt, quạt lấy quạt để cho Lân, ý nói đất rất yêu hòa bình. Còn một ý nữa: quân Địa tạc giống phật Di Lặc vì đức Phật có thuyết cho rằng “vật chất dồi dào, thừa thãi thì con người không còn tội ác”, mà mọi vật chất thì đều từ đất sinh ra.

Trò múa tứ linh (4 con vật thiêng theo quan niệm dân gian là Long, Ly, Quy, Phượng): bốn con vật, mỗi con tài một kiểu, lặn ở dưới nước, vùng vẫy ầm ĩ, song chẳng con nào làm gì được nhau. Chậm chạp, hiền lành, chất phác như rùa mà nhờ có cái vỏ cứng nên không con nào bắt nạt được. Các cụ ngày xưa chọn 4 con gọi là linh vật vì chúng có sức mạnh, có tài bay cao, lặn sâu. Rùa tượng trưng cho dân tộc Việt Nam hiền lành nhưng có vỏ cứng và sống lâu, biết ẩn mình chờ thời để ngoi lên vùng vẫy. Chúng ta không có sức mạnh như kẻ khác nhưng biết đoàn kết thì không kẻ thù nào làm gì được bởi cái vỏ cứng chính là sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chủ Tịch từng nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – thành công, thành công, đại thành công” và “kết đoàn  – chúng ta là sức mạnh, kết đoàn – chúng ta là sắt gang”.

Những câu chuyện tưởng chừng lan man của ông Sầm – một hội viên cao tuổi của Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng khiến tôi say mê, giúp tôi thêm hiểu biết về một làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam từ thời Hậu Lê với nghệ thuật tạc tượng, làm con rối, điêu khắc và sơn mài.

                                                                Thi Văn, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian HP

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *