Công dụng của tỏi đen và cách dùng tỏi đen

Hiện nay tỏi đen được chứng minh là một sản phẩm tự nhiên rất có lợi cho sức khỏe với những tác dụng quý mà ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc người ta đã sử dụng như một loại thực phẩm và thuốc chữa bệnh. Nó cũng đang được dần phổ biến ở nuớc ta. Tỏi đen là loại củ trải qua quá trình lên men hơn 200 giờ trong nồi hấp chuyên dụng đã trở thành một loại thực phẩm chức năng với nhiều dược tính quý có màu đen, ăn ngọt, không còn mùi hôi của tỏi, có thể ăn trực tiếp hoặc dùng cùng một số dẫn chất như rượu, mật ong để tăng công dụng chữa bệnh, có lợi cho sức khỏe.

alt

Sau đây tôi xin giới thiệu về công dụng của tỏi đen và cách dùng tỏi đen để những ai quan tâm được biết và phổ biến cho mọi người.

I – Công dụng của tỏi đen (tỏi đã lên men):

Từ xa xưa, dân gian đã dùng tỏi như một phương thuốc tự nhiên đơn giản mà hiệu quả chữa các bệnh thường gặp như cúm, nhiễm trùng, viêm, siêu vi... Đặc biệt ở Việt Nam có một loại tỏi mang tên là tỏi cô đơn hay còn có tên gọi khác là tỏi một nhánh, trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung, được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là loại thảo dược quý hiếm. Loại tỏi này khi được ủ và lên men trong thời gian 60 ngày sẽ chuyển sang màu đen, tỏi đen có tác dụng cực kì tốt trong việc làm giảm cholesterol, ngăn ngừa xơ cứng động mạch, bảo vệ tim... Nhờ những tác dụng “thần thánh” đó mà giá thành của những loại tỏi này có giá lên đến hàng triệu đồng. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật áp dụng trong nông nghiệp, để làm ra tỏi đen, người ta có thể rút ngắn thời gian sản xuất bằng việc sử dụng thiết bị máy làm tỏi đen. Với hệ thống tự động, có khả năng hấp, ủ và cho ra thành phẩm nhanh, máy làm tỏi đen được xem là sản phẩm tiện ích giúp các bà nội trợ có thể tự chế ra nguồn thực phẩm dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật cho gia đình.

Các hoạt chất quý báu có trong tỏi đen (Ebisu):

Hoạt chất chống Oxy hóa, tăng tuổi thọ: Chất Allicin có S ( lưu huỳnh) có tác dụng kháng vi khuẩn, kháng nấm và các chất chống Oxy hóa như Polyphenol, SoD Enzime, DPPH có tác dụng bảo vệ tế bào khỏi một số bệnh, sự lão hóa, vì vậy tỏi đen có thể làm chậm lại quá trình lão hóa cơ thể, tăng tuổi thọ của người dùng. ( Theo các nghiên cứu từ Đại học Y Missouri ).

Hoạt chất ngăn ngừa bệnh tiểu đường : Sự hiện diện của S-methyl-L-cysteine sulfoxide và S-allyl cysteine sulfoxide, sulfide có chứa G-6-P enzyme NADPH có tác dụng ngăn chặn và ức chế sự phá hủy Insulin, tác dụng hạ đường huyết. Chất Alkaloid và Isoleucine có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu, thúc đẩy bài tiết Insulin và duy trì sự ổn đinh của đường huyết.

Hoạt chất chống nhiễm khuẩn, kháng sinh mạnh: Tỏi đen Ebisu có chứa S-allyl cysteine sulfoxide hỗ trợ sự hấp thu Allicin, giúp cho sự hấp thu, chuyển hóa Allicin dễ dàng hơn. Do đó thúc đẩy mạnh mẽ khả năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại vi khuẩn, vi rút xâm nhập và nhiễm trùng ( Theo giáo sư Jiniti Sasaki tại Đại học Hirosakia, Nhật Bản)

Hoạt chất ngăn ngừa và điều trị ung thư: Chất DPPH có trong tỏi đen với khả năng chống ung thư, ngăn ngừa khối u được tăng lên 14 lần. Amino acid pheninlamine tăng gấp 1,5 lần . SOD Enzime tăng tới 18 lần có thể ức chế khối u phát triển. Ngoài ra, Selen, vitamin A, vitamin C, các yếu tố của Germanium…có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, chống gốc tự do, ức chế tế bào ung thư một cách mạnh mẽ ( Theo nghiên cứu của bác sĩ David Mirelman thuộc viện nghiên cứu Y học ở Jerusalem, Israel)

Hoạt chất giảm lượng Cholesterol trong máu: Sau khi lên men, chất Polyphenol trong tỏi đen tăng gấp 5 lần so với tỏi thường, giúp giảm đáng kể lượng Cholesterol. Bên cạnh đó, hàm lượng đường tổng tăng khoảng 13 lần , Fructose tăng 52 lần, hoạt chất SAC (Sallyl lcystein) được xem là quan trọng nhất trong tỏi đen tăng gấp 6 lần , ngoài ra hợp chất superoxide dismutase ( SOD ) tăng gấp 10 lần so với tỏi tươi có tác dụng phòng chống ung thư máu.

II – Cách dùng tỏi đen:

1) Liều lượng: Tùy từng độ tuổi mà liều lượng dùng tỏi đen có sự khác nhau:

- Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi nên dùng 1-2 củ/ngày.

- Trẻ em từ 1 đến 12 tuổi nên dùng 1 củ/ ngày.

- Phụ nữ mang thai nên dùng 2 - 4 củ/ngày; vào 2 tháng cuối thai kỳ nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

2) Các cách chế biến tỏi đen:

a) Nước ép tỏi đen:

Lấy 3-5 gam tỏi đen cùng một chén nước ấm cho vào máy xay nhuyễn, dùng rây lọc thực phẩm để loại bỏ bã.

Bạn có thể uống luôn nước ép tỏi đen hoặc dùng cùng sinh tố, nước ép hoa quả. Để tiết kiệm thời gian bạn có thể xay nhuyễn tỏi đen với số lượng nhiều và bảo quản trong tủ lạnh dùng dần.

Nước ép tỏi đen hòa tan giúp dưỡng chất được hấp thu nhanh hơn vào cơ thể, giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

b) Ngâm tỏi đen với mật ong:

Lấy khoảng 125-150g tỏi đen bóc bỏ vỏ và để nguyên củ cho vào lọ thủy tinh, đổ mật ong vào cho ngập kín tỏi đen; ngâm trong 3 tuần là có thể sử dụng được.

Mỗi ngày bạn ăn khoảng 3 củ tỏi đen và một thìa mật ong, chia đều ra các bữa ăn trong ngày.

Dùng tỏi đen kết hợp với mật ong vô cùng tốt, có tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe. Tỏi đen với mật ong hiệu quả trong việc điều trị cảm cúm, viêm họng, cảm lạnh; hỗ trợ điều trị đau dạ dày; giúp hạn chế lão hóa, làm đẹp da.

c) Ngâm tỏi đen với rượu:

Lấy 250g tỏi đen đã bóc bỏ vỏ ngâm với 1 lít rượu trắng trong lọ thủy tinh trong khoảng 10 ngày có thể dùng được. Mỗi ngày bạn dùng 2-3 lần, mỗi lần bạn dùng 30-40 ml sau bữa ăn giúp phát huy công dụng tối ưu của tỏi đen.

Tỏi đen ngâm rượu là một bài thuốc giúp cơ thể hấp thu tốt nhất dưỡng chất, có khả năng diệt khuẩn, ngừa ung thư, giảm mỡ máu, bảo vệ tim mạch.

Cách dùng tỏi đen này rất tốt đối với những người bệnh đang điều trị với thuốc kháng sinh. Rượu tỏi đen giữ được 100 % hoạt chất allicin, một loại kháng sinh tự nhiên cực mạnh giúp cơ thể phòng ngừa bệnh tật.

Thay thế thuốc kháng sinh bằng việc uống 1 ly rượu tỏi đen mỗi ngày theo đúng liều lượng cũng là cách giúp cơ thể khỏe mạnh và tránh được những tác dụng phụ của thuốc kháng sinh.

Phạm Văn Thi (sưu tầm, tổng hợp)

Những nguy hại đối với sức khỏe khi sử dụng thiết bị nghe- nhìn điện tử

Các phương tiện điện tử thông minh ngày càng nhiều, đang hiện hữu ở mỗi nhà như: ti vi (TV) 4K, máy tính bảng (Ipad), điện thoại thông minh (smartphone)… Mọi người đang được hưởng những lợi ích vô cùng lớn lao do chúng mang lại với một kho tàng kiến thức khổng lồ, sự kết nối toàn cầu qua một nút nhấn.

alt

Nhưng những mặt trái mà chúng mang lại cũng không hề nhỏ, nhất là đối với sức khỏe con người. Những nguy cơ đó là:

  • Rối loạn đồng hồ sinh học: do ánh sáng xanh phát ra làm ảnh hưởng tới việc tiết ra Melatonin, insulin và ảnh hưởng tới sự cân bằng cơ thể, chất lượng, thời gian ngủ kém đi, mệt mỏi, căng thẳng, chán ăn, trầm cảm…
  • Thị lực giảm sút do nhìn chăm chú vào màn hình với độ sáng cao.
  • Ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể do màn hình của các thiết bị như điện thoại, máy vi tính (PC), máy tính bảng tồn tại một lượng vi khuẩn khá cao
  • Đau vai, gáy, cổ
  • Đau các khớp ngón tay do cầm, nắm, vuốt, nhắn tin trên điện thoại, máy tính thời gian dài.
  • Ảnh hướng đến thính lực.
  • Dễ gây ung thư: Việc thiếu hụt melamin khiến ta dễ mặc bệnh hơn (theo tài liệu nghiên cứu tại Hoa Kỳ). Thiếu Melamin dẫn đến nguy cơ cao mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tiền liệt…
  • Gây xấu da, mụn trứng cá, nám da, nếp nhăn là một trong nhưng tác động tiêu cực của việc dùng smart phone, máy tính bảng…

Ngày nay, nhiều gia đình dùng máy tính bảng để ru con ngủ, cho con ăn, hạn chế sự nghịch ngợm của trẻ đã gây ra nhưng tác hại to lớn cho trẻ:

  • Ảnh hưởng tới sự phát triển của trí não, gây nghiện công nghệ
  • Béo phì, cận thị
  • Chậm phát triển, lười hoạt động thể chất
  • Mất ngủ, bệnh tâm thần, thích bạo lực, làm méo mó quan hệ với cha mẹ
  • Mất trí nhớ bởi kỹ thuật số
  • Nhiễm bức xạ
  • Hạn chế khả năng giao tiếp, nghèo trí tưởng tượng và tư duy

Lời khuyên của bác sĩ:

  • Thường xuyên vệ sinh các thiết bị
  • Tận dụng tối đa việc dùng loa ngoài
  • Giữ tư thế thăng bằng khi sử dụng các thiết bị nghe-nhìn điện tử.
  • Thiết lập độ sáng màn hình vừa phải, khoảng 50%. Không sử dụng khi trời quá tối hoặc khi tắt đèn.
  • Hạn chế sử dụng khi đi ngủ, có thể tắt nguồn để xa giường nằm. Hạn chế để smartphone, máy nhắn tin, thiết bị báo động trong túi áo, túi quần.
  • Kiểm tra chỉ số SAR (Specific Absorption Rate) - là chỉ số dùng để đo mức độ hấp thụ sóng radio (RF - radiofrequency của cơ thể người, mức cho phép là 16WW.Kg, nếu chỉ số gần như bằng 0 là tốt
  • Giữ các thiết bị đầy pin vì khi sắp hết pin bức xạ sẽ cao hơn khoảng 1000 lần so với khi đầy pin
  • Đặt thời gian giới hạn cho việc sử dụng mỗi ngày
  • Không sử dụng khi tay ướt, khi đang sạc
  • Chọn thiết bị chính hãng, đề phòng cháy nổ
  • Khi sử dụng 20 phút thì nên nghỉ 20 giây và nhìn tập trung vào 1 điểm xa 7m

Với trẻ em:

  • Tuyệt đối không cho trẻ dưới 2 tuổi tiếp xúc với điện thoại, PC, máy tính bảng
  • Trẻ từ 3-5 tuổi: Giới hạn thời gian sử dụng 1 giờ trong ngày
  • Từ 6-18 tuổi: Giới hạn thời gian sử dụng 2 giờ trong ngày.

Bs. Lê Trung Dũng

(Nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt Tiệp, Hội viên CLB Hải Phòng học)

Cây me chùa Tường Quang- Cây di sản Việt Nam và hình bóng của vị tướng Đô đốc triều vua Quang Trung

Chùa Tả Quan, có tên chữ là “Tường Quang”, theo nghĩa Hán tự, ngôi chùa được ánh sáng tốt đẹp của nhà Phật rạng rỡ chiếu tới. Chùa thuộc thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Xa xưa Tả Quan có tên là Tá Lan thuộc huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long do phải kiêng húy nên đổi thành Tả Quan. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử đây là vùng đất nằm trong giải đất cổ dưới chân núi Đào Sơn. Qua những tư liệu lịch sử để lại, chùa được xây dựng từ thời Đinh, thế kỷ 10. Chùa Tường Quang danh lam cổ tự có niên đại trên ngàn năm tuổi thuộc diện rất hiếm có của thành phố Hải Phòng.

alt

Chùa Tả Quan trải qua hàng ngàn năm qua bao hưng, phế, đổi, thay nhưng ngôi chùa vẫn còn bảo tồn được rất nhiều di vật, cổ vật có giá trị về lịch sử văn hóa như: chuông đồng, tượng pháp, bia đá, câu đối, đại tự…Đặc biệt trong những đấu ấn chứng minh nơi cổ tích danh lam có một thực thể rất giá trị hiện đang sinh tồn cùng tuế nguyệt, đó là cây me trong khuôn viên của chùa. Theo lịch sử địa phương và lịch sử ngôi chùa, cây me đến nay đã có trên 200 năm tuổi. Cây me gắn liền với một nhân vật lịch sử còn nhiều bí ẩn. Ông là Chân Trí Phổ Hóa Thiền sư, tục danh Lê Văn Ngũ quê Thanh Trì, Hà Nội, làm quan thời Lê-Trịnh. Chán ghét cảnh triều chính đương thời thối nát, ông đi theo và chiến đấu  dưới cờ khởi nghĩa của Nguyễn Huệ. Ông được phong chức Đô đốc tướng quân. Khi nhà Tây Sơn mất, ông dấu tên, đổi họ về chùa Tường Quang ẩn dật, tu Phật. Ông đã trở thành vị sư  tổ truyền đăng của chùa tường Quang. Ông viên tịch năm 78 tuổi, đệ tử đem thi hài của ông hỏa thiêu, xây tháp đặt tro cốt. Hiện nay ngôi tháp để tro cốt của ông vẫn được gìn giữ, bảo tồn trong khuôn viên của chùa. Trong thời gian mai danh, ẩn tích, mặc cà sa hoằng dương đạo pháp ở chùa Tường Quang, Ngài Đô đốc luôn nhớ về những kỷ niệm dưới triều Tây Sơn. Ông nhớ tới cố trạch gia đình chủ tướngTây Sơn ở làng Kiến Mỹ, Tây Sơn, nơi đó có cây me cổ thụ tươi tốt quanh năm do các cụ cố Nguyễn gia  Tây Sơn trồng. Cây me ấy đã đi vào câu ca lịch sử của người dân trong vùng Tây Sơn:

“Cây me cũ, bến Tàu Trầu xưa

Không nên tình nghĩa thì cũng đón đưa trọn niềm”.

Hiện nay cây me đã có trên 300 năm tuổi, được vinh danh “ Cây di sản Việt Nam” trong khuôn viên di tích quốc gia đặc biệt “ Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt”, làng Kiến Mỹ, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Để gửi vào nỗi nhớ một thời hào hùng, oanh liệt chiến đấu dưới cờ chủ tướng Tây Sơn và cũng là thể hiện lòng trung thành, tri ân vị chủ tướng, sau trở thành minh quân Hoàng đế Quang Trung, ông Ngũ đã trồng hai cây me tại ngôi chùa Tường Quang. Hình bóng hồn, phách thiêng liêng của vị tướng Đô đốc đã hóa thân vào cây me cổ thụ .Cây me thân to lớn chắc khỏe, dáng đứng thẳng sừng sững, bề thế, vững vàng như thách thức với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và thời gian. Cành me vươn rộng, tán lá dầy tỏa bóng rợp mát, rộng lớn che cho Phật tử, khách hành hương về nơi cổ tích danh lam trong những buổi trưa hè. Cây me cao vút vươn lên trời xanh, quanh năm xanh tốt, đến mùa ra hoa kết trái, những chùm quả nặng trĩu cành, hiến dâng cho đời vị chua mát, đậm đà và khơi dậy lẽ sống tình nghĩa, thủy chung, kết hậu

Cây me rất gần gũi với cuộc sống của những người dân thôn quê. Lá, quả me có giá trị rất thiết thực cho nhu cầu sinh hoạt ẩm, thực nơi thôn dã. Cây me trồng trong chùa cũng là thể hiện chư Phật và chúng sinh luôn gần gũi, gắn bó với nhau và luôn đồng hành trên con đường đạo pháp. Quả, lá của cây cho mọi người thụ, hưởng như tùy duyên của nhân sinh đến với Phật thiền. Cây me và những câu chuyện lịch sử về người trồng còn chưa kể hết, thực sự để lại những ấn tượng tốt đẹp cho những ai dù chỉ một lần đến danh lam cổ tự Tường Quang.

Thành phố Hải Phòng có trên 70 cây được công nhận “Cây di sản Việt Nam”, trong đó gồm 12 loài cây. Cây me chùa Tả Quan được công nhận “ Cây di sản Việt Nam” năm 2016 là một cây duy nhất của một lòai thực vật duy nhất. Cây me chùa Tả Quan có vinh dự bổ xung, góp thêm một nguồn gien quý hiếm trong hệ thống những cây di sản Việt Nam của thành phố Hải Phòng.

Cây me, cây cổ thụ quý giá, thiêng liêng và cũng là niềm vinh dự, tự hào của người dân trong và ngoài địa phương Dương Quan. Nhân dân đang tiếp tục quản lý, bảo vệ và phát huy tốt các giá trị “Cây di sản Việt Nam ”. Cùng với việc tôn vinh cây me, nhân dân địa phương đang từng bước trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố chùa Tả Quan, để chùa Tả Quan cùng di tích lịch sử văn hóa khác của địa phương trở thành những địa chỉ hấp dẫn, thu hút nhân dân trong và ngoài địa phương về vùng “Đất địa linh nhân kiệt”. Nơi có những di tích cấp thành phố, cấp quốc gia, có ngôi chùa trên ngàn năm tuổi và có “Cây di sản Việt Nam” độc đáo, hiếm quý của thành phố Hải Phòng.

Văn Chỉnh

Biểu tượng “Hạt giống đỏ” tại vườn hoa Nguyễn Du, Hải Phòng

Cách đây hơn 60 năm, sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, nhiều con em cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam được gửi ra miền Bắc đào tạo, chuẩn bị đội ngũ cán bộ phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chấn hưng đất nước sau ngày thống nhất. Vào thời điểm những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, 28 trường học sinh miền Nam nội trú được thành lập tại miền Bắc với hàng chục nghìn học sinh là con em đồng bào miền Nam mà sau này Bác Hồ gọi là “những hạt giống đỏ” được học tập, rèn luyện trưởng thành. Ngày ấy, Hải Phòng là một trong những địa phương tiếp đón, đùm bọc và “ươm mầm” nhiều “hạt giống đỏ” của miền Nam ruột thịt. Dưới sự che chở của nhân dân thành phố Cảng, nhiều học sinh miền Nam trưởng thành có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

alt

Với tâm nguyện muốn có công trình lưu lại những kỷ niệm về một thời những người con của miền Nam được nhân dân thành phố Cảng đùm bọc, giúp đỡ, sinh sống, học tập trong giai đoạn đất nước cam go, mong muốn của các cựu học sinh miền Nam phù hợp với chủ trương của thành phố về xây dựng các công trình mỹ thuật tại dải vườn hoa trung tâm. Công trình “hạt giống đỏ” được xây dựng thỏa nguyện mong ước của cả nhân dân Hải Phòng và những người con miền Nam gắn bó một thời với thành phố Hoa phượng đỏ. Công trình có quy mô không lớn, nhưng thật ý nghĩa, chứa đựng những tình cảm sâu sắc, lấy hình tượng đôi bàn tay che chắn tượng trưng cho Đảng bộ và nhân dân thành phố Hải Phòng, địa phương có nhiều trường học sinh miền Nam nhất miền Bắc, bao bọc hạt giống đỏ tượng trưng cho cựu học sinh miền Nam. Biểu tượng được đặt tại vị trí trang trọng tại vườn hoa Nguyễn Du, với khuôn viên rộng gần 60m2, riêng diện tích khối đế rộng 17,5m2, chiều cao tổng thể 4,5m. Nền đế là tảng đá xanh nguyên khối được vận chuyển ra từ Thanh Hóa, địa phương đầu tiên tiếp nhận học sinh miền Nam. Đôi bàn tay được chế tác từ đá ngọc bích nguyên khối. Toàn bộ biểu tượng đặt trên thảm cỏ xanh, giống như mảnh đất tốt tươi ươm mầm những “hạt giống đỏ” của miền Nam thành đồng. Qua đó, mỗi người dân Hải Phòng càng thêm tự hào về truyền thống “nhân ái, nghĩa tình”. Biểu tượng “Hạt giống đỏ” sẽ sống mãi trong lòng những người con miền Nam từng học và sinh sống tại Hải Phòng.

PV (Tổng hợp)

Dân miền biển sát cánh cùng Thánh Gióng diệt giặc Ân

Nhà sử học Ngô Đăng Lợi

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép sử nước ta từ họ Hồng Bàng, từ Kinh Dương Vương… cùng với thời Đề Nghi truyền đến thời Hùng Vương ngang với Noãn Vương nhà Chu thì hết. Cộng 2622 (2279-255 Trước Công Nguyên)… Vua đầu tiên nước ta là Kinh Dương Vương con Đế Minh, cháu đời thứ ba của Viêm Đế Thần Nông. Đế Minh khi đi tuần phương Nam lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Kinh Dương Vương. Đế Minh cho Đế Nghi trị vì phương Bắc, cho Kinh Dương trị vì phương Nam, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con trai, là tổ của Bách Việt. Từ ghi chép này người Việt coi nhau là đồng bào, thương yêu nhau như người một bọc. Kinh Dương Vương cho 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về biển. Khi hữu sự thì cùng giúp nhau. Người con trưởng được nối ngôi vua, gọi là Hùng Vương. Từ truyền thuyết này, người Việt tự hào là giống Tiên – Rồng cao quý. Truyền thuyết dân ta là anh em cùng chung một bọc, cùng là anh em không chỉ của tộc Kinh mà các tộc khác trên đất Việt đều có. Hùng Vương nên nối ngôi vua, lập nước Văn Lang, đóng đô ở Châu Phong (nay là huyện Lâm Thao, Phú Thọ). Cương vực nước Văn Lang, Bắc giáp hồ Đông Đình, Đông tới Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Nam giáp nước Hồ Tôn. Nước chia làm 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương (Thang)Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửa Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức.

Bộ Văn Lang là nơi đóng đô. Từ đây, nối đời đều là Hùng Vương, gồm 18 đời. Các học giả nước ta nay đã thống nhất, mỗi đời Hùng đều có nhiều vị.

Do hồi quốc sơ, dân ta chưa có chữ viết nên sử chép đứt quãng, không rõ từ đời các vua Hùng thứ 2 đến đời thứ 5 có những sự kiện lịch sử gì, chỉ thấy ghi mỗi việc vua sai vẽ mình hình thủy quái để chúng ngỡ là đồng loại không làm hại dân.

Rồi Hùng vương thứ 6 – Hùng Huy Vương sử chép Thánh Gióng lên 3 tuổi đánh tan giặc Ân hung bạo với ngựa sắt, nón sắt, gươm sắt, roi sắt. Khi giáo gươm gẫy, Ngài nhổ những bụi tre ngà đánh tiếp, khiếp toàn bộ bọn giặc dữ bị diệt. Giặc tan, Thánh Gióng trút bỏ áo giáp sắt, mũ sắt lại núi Vệ Linh tức núi Sóc (nay thuộc huyện Sóc Sơn – Hà Nội) bay về trời. Nhà vua được tin vô cùng thương tiếc ban phong là Phù Đổng Thiên Vương sai dân làng Phù Đổng tên Nôm là Gióng lập đền thờ. Ngài rất linh ứng, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an. Dân nhiều nơi cũng dựng đền thờ. Các đền miếu thờ Ngài đều được các triều đại phong kiến tự chủ ban tặng sắc phong.

Tác giả các bộ chính sử thời phong kiến tự chủ nước ta đều khẳng định thời Hùng đều có thực và tự hào về truyền thống kiên cường bất khuất, về nền văn hóa đặc sắc của dân tộc. Sách Việt sử lược có ghi việc Câu Tiễn (505-464 trước Công nguyên) có lần sai sứ giả xuống dụ vua Hùng thần phục, nhưng vua Hùng cự tuyệt.

Thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đông hơn, nhiều chuyên ngành nhất là ngành khảo cổ học và văn vật khảo cổ đã góp phần soi sáng nhiều vấn đề nhưng chưa giải quyết thỏa đáng chuyện cậu bé làng Gióng. Phải đến năm 1969, học giả Cao Huy Đỉnh (1927-1975) với công trình Người anh hùng làng Gióng bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp cả nguồn tư liệu thành văn và nguồn tư liệu phong phú sưu tầm thực địa với phương pháp liên ngành để chứng minh một cách thuyết phục rằng truyền thuyết nói chung và truyền thuyết ông Gióng nói riêng có một quá trình hình thành và phát triển từ thời kỳ bộ lạc đến thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến. Đó là quá trình tiếp thu biến cải những thần thoại, truyền thuyết, ca dao, lễ hội địa phương để hình thành một cốt truyện chung về người anh hùng dân tộc.

alt

Học tập, tiếp thu kết quả, phương pháp nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, chúng tôi sưu tầm giới thiệu những truyền thuyết di tích lễ hội về Thánh Gióng ở vùng Hải Phòng và phụ cận mà thời Hùng vương là bộ Dương Tuyền Lục Hải. Nơi đây, tổ tiên Hồng Lạc chúng ta là chủ nhân của văn hóa Phùng Nguyên – thời đại Đồng ở Việt Khê (tên Nôm là Vẹt) Tràng Kênh, núi Voi.

Sau đây là những di tích lịch sử văn hóa Hải Phòng và các vùng phụ cận thờ các bạn chiến đấu của Thánh Gióng.

1.Vũ Hồng – Vũ Thị Lê Hoa

Là anh em sinh đôi cuả một gia đình nông dân nghèo, nhưng có nề nếp. Ở làng Ráng (nay thuộc thôn Thanh Lãng, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng). Ngay từ nhỏ, cha mẹ đã lo dạy dỗ nên anh em đều giỏi võ nghệ, thạo cung tên. Vào thời Hùng Vương thứ 6 có giặc Ân vào xâm chiếm nước ta. Nhà vua sai sứ đi khắp nước chiêu mộ người hiền tài ra cứu dân giúp nước. Hai anh em xin phép, được bố mẹ bằng lòng, đầu quân vua phong Vũ Hồng là Chinh khấu Đại tướng quân, Vũ Thị Lê Hoa là Tiền bộ Tiên phong chỉ huy 36 đồn binh ở vùng Kinh Môn để cự địch và phòng giặc bể. Trong một lần kịch chiến, lực lượng địch áp đảo, cả hai anh em đều tử trận tại làng Yên Cường nay là thôn thuộc xã Hiệp Sơn huyện Kinh Môn. Nhân dân chôn cất hai vị ở cánh đồng làng và dựng miếu thờ. Theo thần phả, ở huyện Kinh Môn có 36 làng thờ. Các triều đại phong kiến nước ta đều phong tặng thần hiệu và mỹ tự. Miếu Bắc sau đổi là đình của làng Ráng thời hai anh em Vũ Hồng – Vũ Thị Lê Hoa đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1993.

2. Hùng Sơn

Người làng Nghĩa Lộ nay thuộc xã Nghĩa Lộ huyện đảo Cát Hải, nhà nghèo, cha mất sớm, hai mẹ con chăm chỉ làm ăn kiếm sống. Khi giặc Ân vào chiếm nước ta, hưởng ứng lời kêu gọi của Hùng Vương thứ 6, Hùng Sơn xin phép mẹ ra giúp nước, bà mẹ đơn thân lưu luyến tiễn con ra phò vua giúp nước, giặc tan sớm về với mẹ. Vốn có sức khỏe hơn người, quen nghề sông nước nên Hùng Sơn lập nhiều chiến công góp phần dẹp tan giặc Ân tàn bạo. Nhưng Hùng Sơn đã hi sinh anh hùng, thi thể người anh hùng đã trôi về quê mẹ với một cành cây lớn lá nhánh xum xuê che chở. Dân làng vô cùng thương tiếc, rước thi thể liệt sỹ lên chôn cất chu đáo và dựng ngôi miếu thờ cây che chở thi hài Hùng Sơn vẫn tươi tốt dân làng ngắt 3 nhánh, hai nhánh trồng ở miếu, một nhánh trồng ở vườn nhà mẹ liệt sỹ. Khi bà qua đời, dân dựng miếu thờ trên nền nhà cũ gọi là miếu Tổ Mẫu. Ba cây này dân gọi là cây Thơm được dân hết sức chăm sóc đến nay vẫn còn xanh tốt. Nhất là cây ở gò Cốt Múa, nơi thi thể Hùng Sơn dạt vào. Miếu đền đình Nghĩa Lộ đã được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận Di tích lịch sử văn hóa ngày 28/1/2011. Lẽ hội đền miếu Nghĩa Lộ được tổ chức hàng năm có nhiều trò vui dân gian, nhất là hội chèo bơi. Một đường trục lớn của huyện mang tên Hùng Sơn.

3. Bốn anh em Linh Lang Dưỡng Liệt, Linh Lang Diệu Phúc, Linh Lang Tập Khánh, Linh Lang Diệu Úy.

Thời Hùng vương thứ 6, ở làng Bích Động, huyện Vĩnh Lại nay thuộc xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo có gia đình ông Đăng Hoàng vợ là Trương thị tu nhân tích đức đã lâu nhưng hiếm muộn. Một hôm bà Trương ra sông tắm gặp một con Giao Long quân vào người xúc động mang thai sinh ra bốn con trai, đặt tên là Linh Lang Dưỡng Liệt, Linh Lang Diệu Phúc, Linh Lang Tập Khánh, Linh Lang Diệu Úy đều khôi ngô tuấn tú, giỏi lặn, bơi tài. Khi giặc Ân vào cướp phá nước ta, bốn ông tự nguyện hưởng ứng lời kêu gọi của Hùng Vương ra dẹp giặc. Cả bốn đều lập công lớn, giặc tan, bốn anh em xin vua cho về làng cũ làm ăn. Ngày 10/6, giữa lúc mưa to gió lớn bốn anh em đều hóa…………. Dân làng kính mồ lập miếu thờ ở làng Kim Bích và thôn Kim Làng, Hậu Am nay thuộc xã Liên Am. Lễ hội mở hàng năm kỷ niệm ngày sinh 10/8, ngày hóa 10/6. Có lễ dâng cá ở sông Bạch Đà, nơi bà Trương gặp giao long.

4. Đông Tỉnh Thần

Về thời Hùng Huy Vương ở khu Đông làng Trung Am huyện Vĩnh Lại châu Hồng, nay là thôn Đông làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng có vợ chồng ông bà Nguyễn Danh Thoa – Hoàng Thị Lưu, tuổi cao hiếm muộn đến cầu tự ở đền Ma Vương. Thiên đế sai thần Đông Tỉnh đầu thai. Ngày 12 tháng Giêng, bà Lưu sinh một người con trai khôi ngô khỏe mạnh lớn nhanh như thổi. Ngày ấy, ở vùng Quang Đạo, Tụ Long, Bảo Lạc nay thuộc tỉnh Tuyên Quang có giặc phương Bắc vào cướp phá, Đông Tỉnh xin mẹ cha cho đầu quân giết giặc. Khi đến ra mắt nhà vua, Hùng Huy Vương truyền: Đây không phải người thường, chắc là thần linh giáng xuống cứu đời giúp dân, bèn trao cho chức Đại tướng quân đem binh đi dẹp giặc. Ngài luyện quân lính thăm dò tung tích giặc rồi dẫn đại binh tập kích sào huyệt giặc ở Nhị Châu. Giặc thua to, Ngài an ủi gia đình bị hại, chăm sóc người già, em nhỏ, giúp dân trồng trọt, chăn nuôi. Nhà nhà đều kính yêu, mến phục. Rồi Ngài về triều báo công, vua Hùng khen thưởng, Ngài xin về khu Đông làng Trung Am để phục dưỡng cha mẹ. Ở dòng sông Vĩnh Chinh huyện Vĩnh Lại có nhiều ma quỷ quấy nhiễu nhân dân, ngài nói, ma đói, quỷ khát không có chỗ nương tựa, dân làng hãy lập miếu thờ để thu phục chúng. Do đó, dân trong làng được yên ổn. Cùng lúc, ở Kinh Bắc, bỗng có mưa to gió lớn, trong mưa có một cụ già râu tóc bạc phơ cười nói: phía Bắc có thần giáng sinh giúp dân cứu nước. Bỗng có người đàn bà sinh con trai, ba năm liền ăn cơm không biết no, dân làng lấy làm lạ, gom góp gạo để nuôi. Khi giặc Ân đem 10 vạn tinh binh xâm chiếm nước ta. Vua Hùng sai sứ đi khắp nơi cầu người hiền tài giúp nước. Sứ giả đến làng Gióng thì cậu bé 3 tuổi bỗng lớn nhanh như thổi xin vua ban ngựa sắt, nón sắt, gươm sắt để đi dẹp giặc. Vua lại sai Đông Tỉnh đem quân bản bộ cùng Thánh Gióng đi dẹp giặc. Giặc tan, Thánh Gióng bay về trời, Đông Tỉnh còn cha mẹ xin về khu Đông làng Trung Am. Về tới nhà mới biết tin cha mẹ qua đời, Ngài làm lễ tạ tổ tiên, cha mẹ, tế cáo trời đất, đêm ngày 24 rạng 25 tháng Chạp, ngài hóa. Hôm sau, dân làng thấy chỉ có bộ xác rắn ở trên bờ giếng, làm sớ tấu lên vua. Vua sai lập miếu thờ phong thần hiệu Đông Tỉnh Đại Vương. Các triều đại đều có sắc phong, qua loạn lạc nay chỉ còn sắc vua Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924). Miếu còn có bia: Đông Tỉnh từ thần bi ký tạng năm 1742.

Ngày 13/10/2014 Ủy Ban nhân dân thành phố có quyết định công nhận miếu là Di tích lịch sử văn hóa.

5. Phù Đổng Thiên Vương

Làng Cổ Phục ( tên nôm là làng Si) tổng Bất Nạo huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương thờ 1 thiên thần là Phù Đổng Thiên Vương. Thần tích gồm 12 trang, 11 trang chữ Hán chép về sự tích Thánh Gióng như thần tích làng Phù Đổng. Làng còn giữ được 5 sắc phong.

6. Hiển Công

Làng Bách Tính, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, xứ Sơn Nam Hạ nay là thôn thuộc xã Bách Thuận, huyện Thư Trì tỉnh Thái Bình thờ Hiển Công ( ông Hiển). Theo thần tích đã khai. Năm 1938, Hiển Công là con quan Trấn thủ châu Hoan. Đời Hùng Huy Vương theo Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân, lập nhiều công trạng. Sau khi giặc Ân bị đánh tan Hiển Công về làng Bách Tính dạy dân trồng dâu nuôi tằm. Sau khi qua đời, dân lập đền thờ, các triều đại đều ban tặng sắc phong: vua Lê Cảnh Hưng 2 đạo, vua Lê Chiêu Thống 1 đạo, vua Quang Trung 1 đạo, vua Cảnh Thịnh 1 đạo.

7. Tứ Công (bốn ông)

Làng Võ Lăng, tổng Thịnh Quang, huyện Trực Ninh, xứ Sơn Nam Hạ, nay là thôn thuộc xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình thờ bốn vị thần đời Hùng Huy Vương. Thần tích cho biết: Cao Sùng, người làng Chằm (tên nôm làng Mộ Trạch) huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, vợ là bà Trần Thị Loan. Ông Cao Sùng là bặc tài trí, đức độ, được vua Hùng Huy Vương cử làm quan Sơn Nam Bộ Thủ. Một ngày hè, bà Trần Thị Loan ra sông tắm bị giao long quấn quanh người rồi có thai sinh ra bốn người con trai. Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo nên đều thành tài, văn võ kiêm bị, trưởng thành đúng lúc nước nhà có nạn giặc Thạch Linh thần tướng (giặc Ân) bốn ông xin theo quân diệt giặc. Vua phong chàng Cả là vua Vàng Lân hầu Đại tướng quân. Chàng Hai và vua Vàng Long hầu Đại tướng quân, chàng Ba là vua Vàng Bạch Long Đại tướng quân, chàng Tư là Tá công Lục cung Uy Diệu Đại tướng quân đem quân cùng Thánh Gióng dẹp giặc. Giặc Ân bị tiêu diệt. Ít lâu sau, lại có giặc Ô Lý Thiết Lôi làm loạn, Tứ Công lại giúp vua ra trận dẹp yên nên được vua khen thưởng. Sau khi qua đời, dân Võ Lăng lập đề thờ, các triêu đại đề có sắc phong.

8. Đường Lô – Đá Công

Làng Xuân La, tổng Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, xứ Sơn Nam Hạ, nay là thôn thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thờ hai vị thành Hoàng làng là:

- Đường Lô Cao Sơn Đại vương

- Đa Công Thiên Đá Đại vương

Hai vị do có tài đức nên được Hùng Huy Vương sai dẹp giặc Ân, giặc tan, hai người về quê Xuân La giúp dân an cư lạc nghiệp. Khi qua đời dân nhớ ơn lập đền thờ, các triều đại đều có sắc phong.

Những di tích lịch sử văn hóa với nghi thức tôn thờ, lễ hội dân gian cùng những văn vật khảo cổ đac tìm thấy ở Eo Bùa, Cái Bèo huyện Cát Hải, Việt Khê, núi Tọi… huyện Thủy Nguyên, núi Voi huyện An Lão góp phần minh định truyền thuyết 50 con trai theo cha Lạc Long Quân cai quản gìn giữ miền bể của Tổ quốc, nguồn sống của dân tộc. Hình ảnh cậu bé làng Gióng cùng các chiến hữu biểu trưng cho truyền thống yêu nước, chí khí quật cường, bất khuất, thông minh sáng tạo của tô tiên ta. Giặc đến nhà trẻ già cũng đánh. Khi làm xong bổn phận, nghĩa vụ của dân con thì không đòi hỏi quyên hành, lợi lộc gì. Đây cũng là bài học vô cùng quý giá cần lưu truyền, phát dương để ngợi ca người tốt việc tốt, phê phán người xấu việc xấu. Chính vì vậy mà văn học dân gian, văn học thành văn của nước ta như: Việt điện u linh, Lĩnh Nam trích quái, Thiên Nam ngữ lục, Đại Nam quốc ngữ diễn ca đều ghi lại lòng kính yêu mến mộ cậu bé làng Gióng, toan dân ta đã tôn vinh đức Thánh Gióng là đệ nhất Tứ bất tử của nước ta.

N.Đ.L

Video Tổng Hợp

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay60
mod_vvisit_counterHôm qua171
mod_vvisit_counterTất cả36802