Phong tục - Lễ hội

Xuất xứ của lời thề trong lễ hội Minh thệ ở Hòa Liễu. (Tham luận Hội thảo KH: “Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Minh Thề”)

alt

Ảnh lễ Minh Thề trong hội làng Hòa Liễu

Một số nhà nghiên cứu và sử học đều cho rằng lời thề trong hội Minh thệ ở làng Hòa Liễu xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy không phải là do Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn (Hoàng Hậu của vua Mạc Đăng Dung) bày cho dân (như người địa phương nói) và được lưu truyền đến nay mà do tiền nhân đời Mạc đã mượn lời thề trung hiếu của các triều đại trước như Lý, Trần để làm tấu văn trong hội Minh thề.

GS. TSKH lịch sử Phan Đăng Nhật cũng cho là như vậy khi nói rằng: “Nhân dân nói rằng lễ thề là do Đức Thánh tức Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toản “bày cho”. Thực tế  là Thái hoàng Thái hậu đã tiếp thu lễ thề của đời trước và một số nơi khác chuyển giao lại cho dân làng. Điều quan trọng là nhân dân Hoà Liễu có công giữ gìn lễ này cho đến ngày nay và bảo lưu một cách đầy đủ, trang nghiêm”.

Chúng ta biết rằng, người có công xây dựng nên chùa (tên chữ là Thiên Phúc tự) và đền Hòa Liễu là Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn (bà nội của vua cháu Mạc Phúc Nguyên). Đền Hoà Liễu là nơi tôn thờ Bà - người đã lập ra ấp Lan Niểu (tiền thân của làng Hòa Liễu), làm việc thiện giúp dân, giúp đời và bỏ nhiều công, của chấn hưng chùa chiền. Theo dân chúng, chính bà là người đã lập ra lời thề chí công vô tư được đọc trong lễ hội Minh thệ mà âm Hán - Việt và lời dịch như sau: “Dĩ công vi công, nguyện chư thần ủng hộ, nhược hữu tham tâm, dĩ công vi tư tự nguyện chư thần đả tử” (Lấy của công vì việc công thì được thần linh ủng hộ, nhược bằng nếu có lòng tham lấy của công về làm của tư, nguyện cầu các vị thần linh đánh chết).

Trong tín ngưỡng dân gian, hẳn Bà là một vị Thành hoàng bản thổ được nhân dân địa phương tôn thờ.

Chúng ta sẽ tìm hiểu đôi nét về bà:

Bà Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ là chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Dòng họ Vũ của bà là một danh gia vọng tộc có nhiều người đỗ đạt hiển vinh ở Kiến Thụy, An Dương (gốc họ Vũ – Võ). Tên tuổi của Bà đã xuyên suốt cả 3 đời vua đầu khi nhà Mạc thịnh trị. Bà là người làng Trà Phương, huyện Nghi Dương, xứ Hải Dương, nay là thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng. Bà là người có lòng nhân ái, mộ đạo Phật. Nơi bà sinh ra chỉ cách đất Cổ Trai - quê của Thái Tổ Mạc Đăng Dung vài ba cây số.

Dân gian địa phương thường truyền tụng câu “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa” (nghĩa là đất Cổ Trai sinh Vua, đất Trà Phương sinh người đẹp). Trà Phương có cánh đồng hình chiếc gương, cái lược theo phong thủy đã sinh ra những cô gái đẹp người, đẹp nết và Vũ Thị Ngọc Toàn là một phụ nữ tiêu biểu nhất, niềm tự hào của quê hương.

Sử sách không ghi chép năm sinh của bà nhưng do bà chỉ kém Mạc Thái Tổ mấy tuổi nên ước đoán Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn sinh khoảng cuối thể kỷ XV và mất ngày 15/6 âm lịch. Bà là một nhân vật đặc biệt trong suốt 65 năm trị vì của nhà Mạc ở Thăng Long. Trong 65 năm ấy, 5 vua nhà Mạc đều chết trẻ, các thế hệ hoàng hậu, cung phi trong nội cung đều do bà trông nom, dạy dỗ, sắp đặt mọi việc đâu vào đấy, nên trong hậu cung không xảy ra những chuyện rối ren, bi kịch như nhiều triều đại khác. Sự đảm lược, lòng nhân đức, bao dung của bà chắc lớn lắm, nên sinh thời người ta đã gọi bà là Vua Bà, Thánh Mẫu Mạc triều.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung lên ngôi hoàng đế, nhà Mạc đã mau chóng ổn định tình hình xã hội loạn lạc, thi hành hàng loạt chính sách khuyến nông, khuyến thương, khuyến công, phục hưng Phật giáo song hành phát triển cùng Nho giáo, Lão giáo… Kinh tế, văn hóa, giáo dục Thời mạc có nhiều khởi sắc (đó là điều các nhà nghiên cứu đã thừa nhận)…

Vũ Thị Ngọc Toàn không chỉ giúp chồng lập công danh, được vua Lê phong chức Thái sư, làm quan đầu triều, tước Nhân Quốc Công, rồi gia phong đến tước An Hưng Vương, mà còn trợ giúp hai em ruột chồng là Mạc Đăng Đốc và Mạc Đăng Quyết được vua phong tước Từ Quận công, Tín Quận công, con trưởng Mạc Đăng Doanh học hành thành đạt, được phong tước Dục Mỹ hầu, coi điện Kim Quang. Năm 1530 Mạc Đăng Doanh nối ngôi cha, ở ngôi 10 năm, xây dựng quốc gia thịnh trị, yên bình, được các sử gia ca ngợi là bậc vua hiền.

20 năm về làm dâu họ Mạc, Hoàng Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn không chỉ giúp chồng và con đắc lực trong sự nghiệp hiển vinh mà còn có những đóng góp đáng kể vào các chính sách của nhà Mạc.

Khi Thái tổ Mạc Đăng Dung qua đời, để giữ tiết hạnh, Thái Hoàng Thái Hậu vào quy ẩn trong chùa Trà Phương quê hương. Cũng từ đó, Bà dốc tâm, dốc của vào việc mở quán, xây cầu, lập chợ và hưng công trùng tu tôn tạo chùa chiền. Bia ký còn ghi lại, Đức Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ đã cung tiến 6.000 lá vàng, 30 mẫu ruộng, hàng vạn quan tiền cho việc tu sửa, xây dựng chùa, miếu cùng rất nhiều cột, kèo, gạch, ngói để trùng tu các ngôi cổ tự, suốt dọc một vùng xứ Đông từ Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương cho đến Bắc Ninh ngày nay.

Với những đóng góp to lớn cho Vương triều và xã tắc, Bà được người đương thời tôn vinh, phụng thờ, tạc tượng tại nhiều đền, chùa trên khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và nhất là trên quê hương Bà.

Theo GS. TSKH Phan Đăng Nhật (đăng trên mactoc.com):

“Bà đã có công lớn là lấy tiền riêng mua 25 mẫu 8 sào 2 thước cúng dâng Tam bảo chùa làng Hoà Liễu (xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng); đồng thời vận động hoàng thân quốc thích đóng góp thêm, tổng số ruộng lên tới 47 mẫu 3 sào, gọi là ruộng nhà Thánh (Thánh điền). Số ruộng trên được dùng làm ba khoản chính:

- Khoản thứ nhất. Cấp cho việc cúng tế ở đền và chùa làng

- Khoản thứ hai. Cấp cho dân đinh, thượng hạ. Khi dân số ít thì chia đến tuổi 15, khi dân số tăng thì chia đến tuổi 18, mỗi người một sào, cày cấy thu hoạch, không phải nộp thuế. Chia theo cách bốc thăm công khai, già nhận trước, trẻ nhận sau, cứ 3 năm chia lại một lần.

- Khoản thứ ba. Cho đấu thầu cấy lấy thóc lập quỹ hội Thiện/nghĩa thương, khi đói khó cấp đỡ người nghèo, bảo dưỡng cô nhân, quả phụ, lát gạch đường làng. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 quỹ làng còn 3 tấn thóc ủng hộ kháng chiến, số thóc cho người nghèo vay không thu lại nữa.

Tương truyền, để phòng ngừa việc tư lợi, khuất tất, trộm cắp tài sản công và riêng trong làng, Thái hoàng Thái hậu đã đặt ra những lời thề đối với người được sử dụng đất, bản văn Minh thệ đã ra đời và được nhân dân địa phương lưu truyền đến ngày nay. Trong hội Minh thề, những người đứng lên đài thề là quan viên cấp làng, các chấp sự quản lý chùa, miếu của làng và những người được cấp ruộng công, dân đinh từ 18 tuổi trở lên.

Minh Thề có thể coi là một lễ hội độc đáo và ít thấy ở Việt Nam. Trên phạm vi thế giới có lẽ cũng chưa nơi đâu có lễ hội quan chức thề với trời đất là không tham nhũng.

Có thể nói, Thái Hoàng Thái hậu đã thực hiện ba chính sách lớn:

- “Cải cách ruộng đất”, đem ruộng đến cho nông dân một cách nhân từ mà rất có hiệu quả,

- Xóa đói giảm nghèo, (cho đến cách mạng Tháng 8 vẫn còn 3 tấn thóc)

- Chống tham nhũng (tục “minh thệ” vẫn còn đến ngày nay).

Tóm lại, Thái hoàng Thái hậu là người đứng đầu, tiên phong trong việc thực hiên chính sách lớn của nhà Mạc gồm:

- Vận động các nhà quyền quý lấy tiền riêng mua ruộng cấp cho dân đinh cày cấy, thu hoa lợi, không phải nộp thuế,

- Một số ruộng cho cày cấy thu hoa lợi và lập hội Thiện để cứu đói cho những người cô đơn, quả phụ.

- Xây dựng rất nhiều chùa để hoằng dương Phật pháp, giáo dục lòng nhân từ bác ái, ngay thẳng, thật thà...”

Các cụ cao niên ở Hòa Liễu cho biết: lời “Miêng thệ” là nói gọn mấy tiếng “Minh thệ tấu văn”, xưa kia được đọc cả lời phiên âm tiếng Hán lẫn lời dịch nghĩa tiếng Việt. Ngày nay, trong lễ hội Minh thệ, để giản tiện, có năm Chủ tế chỉ đọc lời dịch nghĩa tiếng Việt. Đại ý là: “Tất cả chức sắc bô lão và nhân dân, từ kẻ sĩ đến nhà nông trong hương thôn, ai dùng của công, xây dựng việc công, xin thần linh ủng hộ. Ngược lại, người nào lấy của công về làm của tư, cầu xin thần linh trừng phạt. Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt”, rồi mọi người đồng thanh hô to: “Y như miêng thệ”.

TS. Lịch sử Đinh Công Vĩ đã từng bỏ công sức về nghiên cứu điền dã tại xã Thuận Thiên (Kiến Thụy), tiếp xúc với ông Phạm Đăng Khoa, nguyên Giám đốc trường Đảng huyện Kiến Thụy, Phó ban Quản lý cụm di tích lịch sử đền - chùa Hòa Liễu để tìm hiểu về “minh thệ tấu văn” (không rõ bản này có cụ thể vào đời nào).  Do văn bản “Minh thệ” truyền lại qua nhiều đời , sao đi chép lại nhiều nên không tránh khỏi “tam sao thất bản”, đến nay cũng không có bản gốc để đối chiếu nên tính chính xác khó kiểm chứng. Dựa vào bản “Minh thệ tấu văn” bằng chữ Hán do ông Phạm Đăng Khoa chép lại và cung cấp đồng thời nghe lời văn trong hội Minh thệ, nhóm nghiên cứu của TS Đinh Công Vĩ đã dịch nghĩa lời thề xưa kia (có lẽ vào thời thực dân Pháp đô hộ) thường được đọc trong ngày Hội thề 24 tháng Chạp như sau:

“Tâu rằng:

Thôn [Hòa Liễu], xã [Thuận Thiên], huyện [Kiến Thụy], tỉnh [Hải Phòng], nước Việt Nam, năm thứ [...].

Hôm nay, các bậc kỳ lão, chức dịch cùng già trẻ trong toàn thôn hội họp tại điện vũ. Theo tục lệ cũ, cùng nhau chích huyết ăn thề, kính cẩn dâng kim ngân, mũ áo, cỗ bàn phẩm vật, dám mong được kính cáo lên thần linh.

Kính mời các vị:

Thiên địa thần kỳ, đương niên Hành khiển, thần Hành binh, Tào phán quan, đương cảnh Thành hoàng, bản thổ Thiên quan, hai vị Hoàng vương, muôn vạn thần linh, thần thổ địa, các xứ đồng ruộng cùng về đây giám sát việc hội thề, phải trái công bình, đúng như lời minh thệ của dân xã chúng tôi, gồm các điều liệt kê rõ ràng minh bạch sau đây:

Việc thứ nhất: dân xã sở tại đã bầu ra, thì người làm Lý trưởng (nay là Chủ tịch xã), phàm các công vụ làm trong năm, nếu lấy công làm việc công thì mong được chư thần ủng hộ, nếu như có lòng tham, lấy công làm tư, thì mong chư thần đánh chết, y như văn thề đã ghi.

Một việc nữa: dân xã sở tại đã bầu ra, thì người làm Phó lý (nay là Phó chủ tịch xã), phàm các công vụ làm trong năm, nếu lấy công làm việc công thì mong được chư thần ủng hộ, nếu như có lòng tham, lấy công làm tư, thì mong chư thần đánh chết, y như văn thề đã ghi.

Trên từ các bậc già lão, dưới đến những người mới tuổi thành niên thuộc bản thôn, ở bên trong từ nơi vườn cây hoa quả, ở bên ngoài đến chốn đồng ruộng lúa màu, nếu có ai có công tâm chính trực, thì mong được chư thần ủng hộ, nếu người nào có lòng tham, làm điều gian tà, thì mong chư thần đánh chết y như văn thề đã ghi.

Các thần trong trời đất đều công bình chính trực, thông minh sáng suốt. Trời đất vốn vô tư, các điều thiện, điều ác đều qui định rõ ràng. Sấm sét của trời không thể ngừa được, nên kẻ gian ngoan không thể trốn được hình luật. Kẻ đứng đầu đinh tráng vào tháng Chạp cần cử hành lễ minh thệ. Người ở trong đám hào lý, hương thôn hoặc là kẻ sĩ, hoặc là nông dân, đứng trong địa vị của mình, khi làm nghề thủ công cũng như khi buôn bán, thề rằng phải lấy chân tình, dựa vào sự ngay thẳng mà phụng sự việc công. Như vậy thì phúc ấm sẽ rủ đến đời con cháu, mọi thứ sẽ tốt lành rực rỡ, dân chúng sẽ ấm no. Kẻ đã ra oai, lại cậy thế hách dịch (dù ghê gớm như búa rìu, sấm sét) lấy của công, nhân danh công để làm tư, thì cúi xin chư thần đánh chết.Cần giữ điều trung, làm việc chính, ngầm dựa vào thánh đức, cứu giúp cho sinh linh, chớ nên tin vào kẻ gian, chớ nên tha việc tà vạy. Khi thực hành, phải công bằng như quả cân này, trước thần minh, phải chính trực như mặt trời này. Đội ơn thánh đức đã trao cho quyền hành, phải ngăn chặn các tệ xấu của bọn gian ngoan làm đồi phong bại tục.

Nay kính cẩn tâu lên.

Các nhà sử học và thư tịch cổ và vật chứng hiện sưu tầm được cho biết, hội Minh thệ do bà Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn lập ra từ năm 1527. Khi đó cứ đến rằm tháng giêng hàng năm, các quan lại trong triều Mạc tụ họp về đây, trước là để vấn an Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung, sau là để làm lễ Minh thệ (khi đó Dương Kinh là kinh đô dự phòng của nhà Mạc). Phần lễ bắt đầu cử hành bằng cách đọc bản Minh thệ với nội dung là các quan thề với trời đất, thánh thần hết lòng mẫn cán và liêm khiết trong công vụ. Trong số đó có câu thề rằng: “dĩ công vi công, thần linh phù trợ, dĩ công vi tư, đả tử”, nghĩa là lấy của công làm việc công thì được thần linh giúp đỡ, nếu lấy của công làm của tư thì bị đánh chết. Tiếp đó viên quan chủ lễ cầm kiếm chỉ trời, vạch đất, chém vào cột đá và xướng hô “Xin thề”. Các quan dự lễ đồng loạt hưởng ứng hô vang “Xin thề” và uống cạn ly rượu có pha máu con vật hiến tế (vật hiến tế nay là tiết con gà trống lông vàng, chân vàng, mào đỏ theo dân gian có thể thông linh với thần thánh).

Lễ hội Minh thệ đã có lịch sử hình thành đến nay khoảng 900 năm, tính từ năm 1028 đời Lý Thái Tông, bởi vì lịch sử còn ghi lại lễ ăn thề của các vua quan đời Lý và đời Trần, đời Lê tại đền Đồng Cổ ở số 353, phố Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội với lời thề trung hiếu có ý nghĩa tương tự nội dung tấu văn Minh thệ ở Hòa Liễu, Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Đó là chưa kể đến đền Đồng Cổ gốc nổi tiếng linh thiêng xứ Thanh tại núi Khả Lao (hay núi Tam Thai), làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định, Thanh Hóa- nơi các triều Hồ (Quý Ly), Lê-Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn hàng năm thường tổ chức tế lễ với nghi thức quốc gia (có năm do vua, chúa đích thân đến tế, có năm do quan khâm sai hay đại thần thay mặt tế)

Đền Đồng Cổ thờ thần trống đồng từ thời Hùng Vương (“cổ” là cái trống, đồng là kim loại đồng) với sự tích như sau:

“Theo truyền thuyết xưa, Vua Hùng đi dẹp giặc ở Hồ Tôn, khi qua vùng Đan Nê - núi Tam Thai, thuộc Bộ Cửu Chân (nay là huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) thì nghỉ lại. Đêm ấy, thần Đồng Cổ hiện lên xin theo giúp nhà Vua.

Khi thắng trận trở về, Vua vào đền làm lễ tạ ơn, cho đúc trống đồng và phong là “Đồng Cổ Đại Vương” (thần trống đồng)” [1].

Tại thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ (nay là Trung tâm Hán-Nôm thuộc Viện KHXH Việt Nam) ở Hà Nội, trong cuốn sách chép tay Đại Nam nhất thống chí - ký hiệu A853 và A69 mục Thanh Hóa tỉnh chí, chép rằng “Đền Thần Đồng Cổ ở Đan Nê, huyện Yên Định có thờ một chiếc trống đồng, tương truyền do thời Hùng Vương làm ra”.

“Năm 986, vua Lê Đại Hành đi đánh giặc Chàm ở phương Nam, khi đến sông Ba Hòa, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa thì gặp mưa to gió lớn. Thần Đồng Cổ hiện lên, ông vái lạy xin cho gió lặng, sóng yên, trời liền quang mây, tạnh gió. Khi thắng trận trở về, Lê Hoàn đến đền Đồng Cổ làm lễ tạ ơn thần đã âm phù thắng lợi và ghi cho đền câu đối:

“Long đình tích hiển Tam Thanh lĩnh

Mã thủy Thanh lai Bản Nguyệt Hồ”.[2]

“Năm 1020, Thái tử Lý Phật Mã (sau là vua Lý Thái Tông), phụng mệnh vua cha là Lý Công Uẩn đem quân đi đánh Chiêm Thành, đến Trường Châu (bờ phải sông Mã ở Thanh Hóa) hạ trại. Đêm ấy Thái tử mơ thấy Thần Đồng Cổ đến tâu rằng: “Tôi là Thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc”. [3]

“Lần ấy quân ta thắng lớn, khi trở về, Thái tử cho quân sĩ  nghỉ lại ở Đan Nê, sai người sửa sang lại đền, tổ chức lễ tạ và khao quân. Sau đó Thái tử xin được rước bài vị của Thần về kinh đô để giữ nước, hộ dân. Về đến Thăng Long, văn võ bá quan và các thầy phong thủy còn đang chọn đất lập đền thì ban đêm Thần lại báo mộng: “Xin lập đền ở bên hữu, trong Đại thành, sau chùa Thánh Thọ”. Vua cho dựng đền ở hợp lưu sông Thiên Phù và sông Tô Lịch thuộc làng Đông Xã (tại số 353 đường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội nay). Như vậy, ngôi đền Đồng Cổ ở Hà Nội này đã xấp xỉ 1.000 năm tuổi và được giữ tôn hiệu “Minh chủ Linh ứng Chiêu cảm Bảo hựu Đại vương” do nhà Lý và nhà Trần sắc phong.

Các triều đại kế tiếp sau đó đều có sắc phong (14 đạo) cho đền Đồng Cổ, nay còn giữ được 3 đạo: Cảnh Hưng năm thứ 14 (1784), Quang Trung năm thứ tư (1791), Cảnh Thịnh năm thứ nhất (1793)”. [4]

Năm 1028, Lý Thái Tổ băng hà, Thái tử Lý Phật Mã được kế vị lên ngôi Vua là Lý Thái Tông đã phong tước vương cho Thần Đồng Cổ do sự linh ứng của Thần đã báo mộng cho Thái tử đề phòng việc 3 Vương em làm phản tranh ngôi vua.

Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (soạn từ thế kỷ XIV), truyện “Minh chủ linh ứng Chiêu cảm Bảo hựu Đại vương” và Đại Việt Sử ký Toàn thư soạn thời Hậu Lê của Ngô Sĩ Liên đều kể việc này.

Đại Việt Sử ký Toàn thư, Kỷ nhà Lý, trong mục ghi các sự kiện xảy ra năm 1028 có đoạn tả: “Phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, trước khi ba vương làm phản một ngày, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, nên bảo đem quân đánh ngay đi. Khi tỉnh dậy, vua sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Vua chiếu cho hữu ti dựng miếu ở bên hữu thành Đại La, liền sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy (tháng 3) đắp đền, cắm cờ xí, dàn đội ngũ, treo gươm giáo. Ở trước thần vị, vua đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết.” Các quan đi từ cửa Đông đi vào đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng ba gặp ngày quốc kỵ (lễ tang Lý Thái Tổ), hoãn đến ngày 4 tháng 4”.

“Từ đó trở đi, Lý Thái Tông mới lập lệ, hàng năm, các quan phải đến đền Đồng Cổ (ở làng Đông Xã - Thăng Long) làm lễ uống máu ăn thề bằng câu: “Vi tử bất hiếu, vi thần bất trung, thần minh tử chi” (Dịch là: làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, thần linh tru diệt). Hội thề Đồng Cổ có từ đấy, các quan ai trốn không đến thì phải phạt đánh 50 trượng. Các quan ai trốn không đến thì phải phạt đánh 50 trượng (gậy).[5]

"Tục lệ này được giữ suốt hai thế kỷ triều Lý, gián đoạn một vài năm ở Triều Trần. Nhưng chỉ ba năm sau khi lên ngôi, vào năm 1228, vua Trần Thái Tông đã khôi phục hội thề ở đền Đồng Cổ vào ngày 4 tháng 4 âm lịch hàng năm giống nhà Lý nhưng sửa đổi lại lời thề. Tục lệ này được giữ suốt đời Trần. Sau đó, do nhà Hồ chuyển đô vào Thanh Hóa nên hội thề tổ chức ở núi Đún, tức Đốn Sơn nằm phía ngoài Chính môn của thành Tây Đô (Tây Giai), gọi là hội thề Đốn Sơn. Năm 1399, Trần Khát Chân cùng Thái bảo Trần Nguyên Hãng và một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề này nhưng không thành. Sau vụ biến tại hội thề, Hồ Quý Ly cho là thần Đồng Cổ không còn thiêng nữa nên bãi bỏ hội thề”[6].

Vậy qua các triều đại, lời thề ở đền Đồng Cổ có gì khác nhau hay không?

“Lễ hội Đền Đồng Cổ ở phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội vào ngày  mùng 4 tháng 4 Âm lịch hàng năm là lễ hội dành cho quan và có nghi lễ thực thi nghĩa vụ của quan với thần linh, với vua, với nước. Đó là việc các quan lại từ thời nhà Lý phải uống máu ăn thề trước thần Đồng Cổ: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung thì xin thần minh giết chết”. Đến thời Trần lời minh thệ gắn với trách nhiệm của quan lại nhiều hơn: “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết”(Đại Việt sử ký toàn thư tập 1, 2) [7].

Sách “Toàn thư”, kỷ nhà Trần cũng ghi việc này: “Tuyên bố điều khoản minh thệ: Theo việc cũ của triều Lý, đến bấy giờ mới cử hành. Nghi thức như sau: Hàng năm ngày 4/4, tể tướng và trăm quan, hồi gà gáy đến chực ngoài cửa thành, mờ mờ sáng tiến vào triều. Vua ngự ở cửa hữu lang điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục làm lễ hai lạy rồi lui ra; đều đủ đội ngũ nghi trượng theo hầu ra cửa Tây kinh thành đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, họp nhau thề rồi uống máu. Quan trung thư kiểm chính đọc lời thề rằng: “Làm bề tôi hết sức trung, làm quan phải trong sạch, ai trái thề này thần minh giết chết.” Đọc xong, quan tể tướng đóng cửa lại để điểm, người nào thiếu mặt thì phạt năm quan tiền. Ngày hôm ấy, con trai, con gái đứng ở bốn phương ở cạnh đường để xem, cho là hội lớn”.[8]

Vậy là lời thề thời Lý giáo dục đạo hiếu của con cái đối với ông, bà, cha mẹ; lòng trung thành của bề tôi đối với Vua (triều đình), còn lời thề thời Trần giáo dục lòng trung thành đến cùng với triều đình, với vua và giữ sự trong sạch của quan lại.

Hiện nay, lễ hội đền Đồng Cổ ở Hà Nội được tổ chức hàng năm vào ngày 4 tháng Tư âm lịch tại đền Đồng Cổ ở số 353, phố Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ và đều mô phỏng lại hội thề lịch sử năm xưa với lời thề trung, hiếu, thanh liêm Còn trong lễ hội Minh thệ ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy thường vang lên lời thề chí công vô tư “Dĩ công vi công, thần linh ủng hộ. Dĩ công vi tư, thần linh đả tử” (nếu lấy của công làm việc công thì được thần linh đồng tình, nhược bằng lấy của công làm của tư thì cầu cho thần linh đánh chết”. Mở rộng ra, người ta còn thề sống ngay thẳng, trong sạch bằng những câu như: “Trên từ cụ già đến tuổi 18 ở dân thôn, trong làng vườn tược, buồng cau trái chuối, ngoài đồng lúa mạ hoa màu, mọi người đều công minh chính trực, không tham lam vơ vét. Người nào tà tâm trộm cắp của nhau, nguyện cầu thần linh đả tử. Y như lời thề...”; “Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin trời tru diệt”...

Lời thề từ đền Đồng Cổ đến hội thề Hòa Liễu giống nhau ở điểm là đề cao đạo trung quân, đạo hiếu nhưng văn thề Hòa Liễu còn mở rộng hơn khi giáo dục cả ý thức vì lợi ích chung, không tham lam, sống ngay thẳng. Hội thề thần Đồng Cổ là để vua, chúa quan lại ăn thề nhưng hội Minh thệ ở Hòa Liễu lại chỉ có dân chúng và quan chức cấp làng đứng ra thề. Vậy là nội dung thề ở Hòa Liễu phong phú hơn hội thề Đồng Cổ nhưng quy mô lại nhỏ hơn.

Khoan chưa nói đến sự mầu nhiệm của lời thề, nhưng hiệu quả răn dạy của việc thề rõ ràng là có tác động sâu sắc đến tâm lý và ý thức của những người tham gia thề bồi bởi vì tính thiêng của hội thề, sự chứng kiến của thần linh khiến người thề không thể không nghiêm túc thực hiện điều đã hứa trước thần linh nếu không muốn bị trừng phạt. Còn ai có tà tâm, gian tham, vô đạo đức tất nhiên sẽ sợ không dám tham gia thề. Giá trị giáo dục đạo đức và văn hóa của hội thề dân gian chính là ở đó.

Ở Hòa Liễu ngày nay, trong các dòng họ mỗi khi có việc trọng như tế, lễ cúng tổ, giỗ chạp hàng năm người ta cũng thề với thần linh, tiên tổ bằng những câu văn có nội dung giáo dục con, cháu và người trong họ gần giống những lời thề ở lễ Minh thệ. Phong tục này thật xứng đáng với biển phong tặng của vua Khải Định triều Nguyễn dành cho người dân nơi đây là “Mỹ tục khả phong” (có phong tục đẹp). Phong tục này cần được giữ gìn, nhân rộng trong nhân dân để xây dựng một xã hội văn minh, cuộc sống tốt đẹp.

Tài liệu tham khảo:


[1], [2],[3],[4],[5]: 985 năm Hội thề Đồng Cổ Hà Nội: Lời thề trung hiếu/Nguyễn Huy Toàn - Nhà nghiên cứu tư tưởng văn hóa quân sự//Báo An ninh Thủ đô online. – ngày 11/5/2013.

[6] Hội thề Đồng Cổ/Thần Đồng Cổ//Từ điển bách khoa toàn thư mở vi.m.wikipedia.org

[7] Phát huy nét đẹp của tín ngưỡng thờ Thần đồng cổ đối với “Quan” hiện nay/ PGS. TS Lê Quý Đức//website Ban Tôn giáo Chính phủ. – ngày 5/12/2017.

[8] Đồng Cổ - Vị thần núi linh thiêng và hiển ứng/Danh nhân Hà Nội/Vietnam+//Trang thông tin ĐT: Hanoi.vietnamplus.vn. -  ngày 05/03/2010.

Phạm Văn Thi, Hội KHLS Hải Phòng

Một số loại hình lễ hội dân gian Hải Phòng

alt

Lễ hội Vật cầu ở làng Kỳ Sơn (huyện Kiến Thụy)

Lễ hội là một nét văn hoá đặc biệt trong đời sống của người dân Việt Nam trong nền kinh tế nông nghiệp lúa nước. Đó là lý do vì sao các lễ hội thường diễn ra ở các vùng quê nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có những công trình kiến trúc mang bản sắc dân tộc như: Đình, chùa, đền, miếu.

Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường được tổ chức vào mùa xuân, mùa thu – giai đoạn nông nhàn của người dân. Sau những thời gian lao động vất vả, người dân muốn thư giãn, giải trí, đồng thời tri ân công đức của các bậc thánh, thần, những người có công với làng, với nước, cầu cho mưa, gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi, nhân khang, vật thịnh, con người may mắn. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa phi vật thể tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, tâm linh và đời thường… là một hoạt động cộng đồng có sức hút lớn đối với mọi người, mọi tầng lớp xã hội.

Lễ hội Hải Phòng không nằm ngoài những mục đích nói trên, trong đó lễ hội tri ân người có công với dân tộc ở Hải Phòng chủ yếu là các lễ hội tôn thờ những nhân vật có công đánh giặc ngoại xâm, tiêu biểu như:

Ngô Vương Quyền và nhiều bộ tướng có công đánh trận Bạch Đằng lần thứ nhất được nhân dân tôn thờ gắn với các lễ hội như: Lễ hội “Từ Lương Xâm” (nay thuộc quận Hải An) hàng năm tổ chức từ 16 đến 18 tháng Giêng Âm lịch nhằm tôn thờ Đức Vương Ngô Quyền cùng các tướng lĩnh được phối thờ như Nguyễn Tất Tố, Đào Nhuận, hay tại chùa Hoàng Pha (xã Hoàng Động-Thủy Nguyên) phối thờ Thành hoàng làng được dân sở tại tôn thờ là Ba anh em họ Lý tên là Lý Minh, Lý Khả, Lý Bảo có công giúp Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938.

Hội làng Trinh Hưởng (xã Thiên Hương - Thủy Nguyên) tôn thờ 3 anh em họ Đào (Đào Tế, Đào Lai và Đào Độ) là những người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược do vua Lê Hoàn lãnh đạo trên sông Bạch Đằng năm 981 (bắt đầu từ ngày 11 tháng 1 đến hết ngày 13 tháng 1 âm lịch). Trong đó, ngày 12 tháng Giêng là ngày lễ chính của làng, đó là ngày các vị thắng trận trở về quê hương, khao thưởng dân làng.

Lễ hội chạy đá của làng Kỳ Sơn (xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy) trước đây thường được mở vào mồng 5 tháng Giêng âm lịch hằng năm, nay chuyển sang mồng 9 tháng Giêng xuất phát từ tích sử sau:

Kỳ Sơn vốn là dải đất ven biển miền duyên hải Bắc Bộ có từ thời Tiền Lý (544-602). Đình Kỳ Sơn thờ vị Thành hoàng là võ tướng thời Tiền Lý, tên thật là Đào Hạo có công đánh giặc ngoại xâm, dẹp loạn, được vua ban thực ấp, trấn giữ phủ Kinh Môn. Lúc thiếu thời, tướng Đào Hạo thông minh, tinh nghịch. Khi đi học, ngài thường bày trò giấu đá xuống ao, hồ rồi cùng đồng môn xuống mò tìm, ai nhanh nhẹn đưa được đá lên bờ thì người ấy thắng. Sau này, khi trở thành tướng giỏi của triều Lý, ngài thường dùng cách này để luyện quân, tạo cho quân tướng có sức khỏe, khả năng chịu đựng gian khổ trong mùa đông giá rét, sức dẻo dai mới giành chiến thắng. Khi ngài mất, đình làng Kỳ Sơn vẫn thờ một viên “đá thần” cho tới ngày nay. Lễ hội chạy đá cũng bắt nguồn từ đó. Ngày mở hội, một cụ cao niên khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, mặc trang phục tế chỉnh tề, trịnh trọng vào đình, thành tâm khấn xin được rước đá thiêng ra ngoài. Đi đầu là đội trống và kiệu rước, một người cầm cây nêu đi theo. Đá rước từ đình ra bến Đầm (nay là giếng làng) rồi được cụ cao niên trong làng thả xuống nước. Những thanh niên tham gia chạy đá được cử ra từ hai xóm, mỗi xóm cử 5-7 người làm lễ tại đình và được chủ tế ban cho mỗi người một chén rượu, một miếng trầu ăn cho ấm bụng rồi tham gia chạy đá. Khi dứt 3 tiếng trống lệnh, những thanh niên hướng về giếng mà mò tìm đá. Cuộc mò tìm kết thúc khi ai tìm được đá đưa về đình là thắng cuộc. Người xưa quan niệm, ai mò được đá thì năm ấy gia đình và dòng họ làm ăn phát tài, phát lộc. Chạy đá còn có ý nghĩa rèn luyện tinh thần, khí chất của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Phiến đá to nặng, nhẵn, trơn, đòi hỏi người tham gia có sức khoẻ, sự mưu trí, nên “chạy đá” mang đậm tinh thần thượng võ.

Địa bàn thành phố Hải Phòng còn một số lễ hội tại các nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các tướng lĩnh có công đánh tan quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288, tiêu biểu là lễ hội đền Phú Xá. Đền Phú Xá (nay thuộc phường Đông Hải 1 - quận Hải An) là nơi tích trữ lương thảo chuẩn bị cho chiến dịch Bạch Đằng năm 1288, đồng thời diễn ra cuộc khao thưởng quân sĩ có công trước khi kéo quân về căn cứ Vạn Kiếp. Đền còn phối thờ bà Bùi Thị Từ Nhiên,  người con dâu họ Phạm làng Phú Lương (nay là Phú Xá), được phong là nữ tướng hậu cần. Bà có công lao to lớn vận động nhân dân đóng góp lương thảo và chế biến lương thực phục vụ cho quân sĩ trong trận Bạch Đằng.

Lễ hội tổ chức từ ngày 18 đến 20 tháng 8 (ÂL) để tri ân công lao của đức Thánh Trần và nữ tướng Bùi Thị Từ Nhiên.

Địa bàn huyện Thủy Nguyên, nhân dân xã Liên Khê hàng năm vào ngày 20 tháng 8 (ÂL) cũng tổ chức lễ hội đền Thụ Khê (xã Liên Khê) thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc. Tương truyền Hưng Đạo Đại Vương đã đặt Đại bản doanh chỉ huy trận Bạch Đằng tại đây tiêu diệt quân xâm lược Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288.

Hiện nay, tại nhiều đình, đền trên địa bàn thành phố thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo và các danh tướng, người có công trong trận Bạch Đằng đều tổ chức lễ hội tri ân công lao các anh hùng, nghĩa sĩ như: Hoàng tôn Trần Quốc Bảo, Tây Giang hầu Phạm Hữu Điều, Đông Giang hầu Vũ Nạp (đền Tràng Kênh); Lễ hội đình Từ Lâm xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo thờ vị thành hoàng Hoa Duy Thành, danh tướng có công trong kháng chiến chống Nguyên Mông thời Trần…

Lễ hội với trò chơi dân gian nhằm ôn lại tích xưa gắn với giai thoại luyện quân của các danh tướng:

Tiêu biểu như lễ hội vật cầu, chạy đá ở làng Kỳ Sơn (nêu trên). Lễ hội vật cầu thường tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng tại sân đình Kim Sơn. Tương truyền, vật cầu vốn là hình thức luyện quân do tướng Phạm Ngũ Lão (đời Trần) đặt ra để rèn luyện quân sỹ.

Loại lễ hội luyện quân này cũng có ở huyện Cát Hải (tiêu biểu là hội kéo Xa mã ở xã Hoàng Châu).Đình Hoàng Châu tôn thờ các vị thành hoàng: Liễu Hạnh Công chúa Thượng đẳng thần, Đô Nguyên soái Tuyên Nghi chi thần và Phó Nguyên soái duy Bùi Đại Vương. Ngoài ra còn phối thờ Đức vua Đông Hải đại vương, Đức vua bà Nam Hải Quốc mẫu đại vương và các vị hậu thần. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, Mẫu Liễu Hạnh là đệ nhất Thượng thiên thánh Mẫu - thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt và là một trong bốn vị thánh bất tử trong tâm thức dân gian; Hai vị nhân thần gồm Đô Nguyên soái Tuyên Nghi Đại Vương và Phó Nguyên soái duy Bùi Đại Vương là những võ quan thời Hậu Lê, có công lớn trong tiễu trừ hải tặc, đã nhiều lần hiển linh giúp nước, che chở bảo vệ dân vùng ven biển. Hàng năm, người dân Hoàng Châu mở lễ hội Xa mã – rước kiệu từ ngày mùng 9 đến 12 tháng 6 (Âm lịch), trong đó chính hội là ngày mồng 10 tháng 6 (âm lịch). Trong Lễ hội, ngày mồng 9 tháng 6 diễn ra nghi lễ rước nước, lễ cáo yết.

Ngày mùng 10 tháng 6 là ngày nghinh thần. Từ rất sớm, Chủ tế và Cai đám đã phải ra đình thắp hương xin phép các vị thánh thần cho làng vào lễ hội. Tiếp đến, 6 Đình phe gồm các trai tân, có sức khoẻ (4 người cầm cờ, 2 người cầm chiêng), tay cầm cờ thần, đầu chít khăn mỏ rìu đỏ, áo thụng vàng, thắt đai đỏ, quần bó ống vái thánh thần 4 vái, tay múa cờ, miệng reo hò: “Ơ, giai bản xã rước chư vị ra ban cho phải”. Sau đó Đình phe vào đình rước 2 ông xa mã ra ngoài sân hội. Đội nam quan, nữ quan (đội hình phù giá) vào rước lần lượt kiệu long đình, long ngai Đức Đô Nguyên soái, Phó Nguyên soái, long ngai hai vị Đức vua Đông Hải và Đức vua bà Nam Hải (thường gọi là long ngai, kiệu Chào) và kiệu Thánh mẫu Liễu Hạnh ra trước cửa đình để bắt đầu cho nghi lễ Xa mã – rước kiệu vào lúc 10 giờ. Trong rước kiệu đình Hoàng Châu, vai trò của những Đình phe rất quan trọng. Đình phe cầm cờ múa trước khi rước kiệu là để cho các thế lực hắc ám không thể tranh chỗ ngự trên kiệu của các Thánh. Hơn thế trong lúc rước kiệu, nếu thấy có kiệu rước nào mệt, không thể tiếp tục được nữa nhưng các Thánh vẫn ngự và bay tiếp thì lúc đó chỉ có Đình phe mới có thể dừng kiệu lại được và đổi vai để cho đám phù giá khác vào thay hoặc dừng hẳn kiệu lại.

Nét đặc biệt của nghi lễ rước kiệu đình Hoàng Châu mang dấu ấn văn hoá riêng của vùng biển. Nó không giống với lễ rước của các làng quê khác phải có cờ thần, cờ tiết mao, chấp kích, bát bửu, phường bát âm, chiêng, trống đi theo một trật tự nhất định mà trong không gian và thời gian linh thiêng, con người được hoà vào cùng đội rước, được chứng kiến những cỗ kiệu bay, kiệu quay trên đôi vai của những nam thanh, nữ tú phù giá. Thông thường kiệu long đình được rước trước, rồi mới đến kiệu mẫu Liễu Hạnh và các cỗ kiệu khác. Nhưng trong khoảnh khắc của sự siêu linh đạt độ đỉnh điểm thì đôi khi các cỗ kiệu cùng phù giá cũng phiêu linh cùng Thánh thần, không còn theo một trật tự hay quy luật nào.Trên đôi vai của những phụ giá, kiệu Thánh có thể du ngoạn khắp chốn trong vùng như chùa, miếu; bay ra cánh đồng, bờ biển để vãn cảnh sơn thuỷ.

Bên cạnh nghi lễ rước kiệu bay, lễ hội truyền thống đình làng Hoàng Châu không thể thiếu nghi lễ, trò diễn xa mã - kéo ngựa. Trò diễn này nhằm tưởng nhớ hai võ tướng Đô Nguyên soái và Phó Nguyên soái mà người dân Hoàng Châu bao đời phụng thờ tại đình và 2 miếu giáp Đông, giáp Tây của làng. Xa mã gồm có ngựa và cỗ xe. Ông ngựa được tạo tác bằng gỗ, thân sơn nâu, có dây cương, yếm hoa, yên ngựa chạm trổ hoa văn, đeo hoa tai hình lá đề, cổ đeo lục lạc.

Trò diễn với sự tham gia của hai đội đại diện cho giáp Đông và Tây trong trang phục truyền thống, quần chít ống như các quân sĩ xưa. Giáp Đông trang phục màu đỏ, giáp Tây trang phục màu vàng. Xa mã mỗi giáp từ 15 đến 20 người, trong đó có 3 Đình phe mặc áo nâu vàng, đầu chít khăn mỏ rìu đỏ, thắt đai đỏ và các trai đinh trong trang phụng áo nâu, quần thụng. Hai ông Đình phe đứng trên xa mã một tay ôm cổ ngựa, một tay rung lục lặc để tạo khí thế xung trận, một ông Đình phe ngồi khom lưng phía cuối xa mã múa cờ thần. Các trai đinh thì chia đều làm đôi để phân bổ theo hai bên dây kéo, một người cầm đầu dây (người cầm chịch), bên cạnh đó có người cầm chiêng gõ tưng bừng.

Khi hai giáp vào vị trí, các đội cùng hò reo: “Ơ giáp Đông ta đàn dây cho đều. Ơ giáp Tây ta đàn dây cho đều”. Cuộc chơi bắt đầu, hai cỗ xe ngựa dưới sự điều khiển khéo léo, nhịp nhàng của người chỉ huy chuyển động nhanh chậm, lượn vòng thật điệu nghệ. Xa mã giáp Đông sẽ di chuyển từ Đông sang Tây; Xa mã giáp Tây sẽ di chuyển ngược lại từ Tây sang Đông. Bên nào muốn giành giải thưởng của làng phải kéo ngựa chạy đủ ba vòng, không chạm vạch. Đội thắng cuộc phải ở vòng trong.

Ngoài những lễ hội lịch sử như trên, Hải Phòng còn có lễ hội mang ý nghĩa kinh tế như lễ hội rước lợn ông Bồ ở làng Kỳ Sơn huyện Kiến Thụy được tiến hành vào ngày 10 tháng Giêng hay lễ hội Lễ hội xuống biển, được tổ chức tại làng chài Trân Châu từ ngày 4 – 6 tháng giêng hàng năm. Lễ hội tiến hành như sau: Sau khi lễ tế thủy thần, long vương, một hồi trống hiệu lệnh vang lên, hàng trăm trai tráng tay cầm chèo hò reo chạy tới thuyền của mình để kịp ra nơi quy định nhanh nhất. Một người chèo, một người tung lưới và gõ nhịp vào nơi mạn thuyền. Gõ càng mạnh, càng dồn dập, cá càng hoảng sợ chạy vào lưới càng nhiều. Đến trưa nổ pháo lệch thu quân, mọi người khiêng cá vào đình để các bô lão chấm thi. Con cá ngon nhất được chọn nướng ngay trên đống than rực lửa đỏ giữa sân để tế thần, còn lại chia cho mọi người lấy lộc. Ai đánh được cá to nhất hoặc nhiều cá nhất được trao giải.

Lễ hội tưởng nhớ những phúc thần có công mở ấp, dựng làng, chữa bệnh, truyền nghề, dạy học …cho dân:

Tiêu biểu là Lễ hội Minh Thệ vào ngày 14 tháng Giêng ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy nhằm tri ân Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn. Bà là người đã lập ra ấp Lan Niểu (nay là làng Hòa Liễu) và lập ra hội thề chí công vô tư (hội minh thề) lưu truyền đến ngày nay.

Lễ hội tưởng niệm người có công truyền nghề làm bánh đa cho dân ở thôn Lạng Côn, xã Đông Phương (Kiến Thuỵ) xuất phát từ thần tích sau:

Vào thế kỷ 10, Chu Xích công là người Hoa đến trang Đại Trà làm nghề thuốc và dạy học. Sau, ông được tiến cử vào triều Tiền Lê và được Lê Hoàn tin dùng làm tướng. Khi giặc Chiêm đến xâm chiếm, ông được theo nhà vua đi đánh trận. Ông làm bánh đa nhúng vào nước sôi, thêm chút muối cho vừa miệng, trở thành món ăn cho quân lính chinh chiến nơi xa. Còn có loại bánh đa tráng mỏng, phơi khô, nướng trên than hoa, ăn giòn tan, vị ngọt bùi vừa dễ ăn lại có thể để được rất lâu. Sau khi lập công lớn, thắng trận, ông được phong chức Thượng thư và ban thực ấp ở tổng Đại Trà. Trở về làng, ông đem theo bí quyết làm bánh đa dạy cho dân làng. Khi ông mất, dân làng tôn làm thành hoàng làng, lập miếu thờ.

Đến thế kỷ 13, trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, Phò mã Đô úy Trần Quốc Thi cũng góp phần vào chiến thắng lẫy lừng của quân - dân nhà Trần. Ông còn có công giúp dân tổng Đại Trà khai hoang, mở ấp mới. Sau khi ông mất, dân làng đưa ông vào miếu thờ như một vị thành hoàng cùng với Chu Xích công.

Có lễ hội cầu mưa thuận, gió hòa, may mắn trong làm ăn, có thể kể ra đây là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn với nghi thức chọi trâu và hiến sinh dâng thủy thần mong thần Điểm Tước phù cho thuận gió ra khơi, bình an, đánh bắt được nhiềm tôm cá.

Lễ hội rước Ngũ Linh Từ và bơi thuyền cầu đảo ở huyện Tiên Lãng tiêu biểu cho tục cầu nước trong tín ngưỡng thờ thủy thần của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc bộ.

Theo dân gian, huyện Tiên Lãng có 5 ngôi đền thiêng (Ngũ Linh Từ) đó là:

- Đền Để Xuyên (di tích lịch sử cấp Thành phố) thuộc thôn Để Xuyên xã Đại Thắng thờ 5 vị Thành Hoàng: Duy Linh, Nam Hải, Xa Lâu, Đống Thung, Á Thành Hoàng Thụy.

- Đền Hà Đới thuộc thôn Hà Đới xã Tiên Thanh thờ tướng quân Trần Quốc Thành và Băng Ngọc công chúa (Di tích lịch sử cấp Quốc gia).

- Đền Canh Sơn thuộc thôn Vân Đôi xã Đoàn Lập thờ 2 vị Thành Hoàng là Kinh Sơn và Trí Minh có công giúp vua Hùng đánh quân Thục (Di tích lịch sử-văn hóa Thành phố)

- Đền Long Bì thôn Tử Đôi xã Đoàn Lập thờ Bạt Hải có công giúp Vua Lê Đại Hành đánh Tống và tiến sỹ Vệ Đàn đời vua Lê Tương Dực (làm tới chức Thượng thư bộ hình) là Di tích lịch sử cấp Thành phố.

- Đến Gắm thờ Thượng tướng quân Thái phó Ngô Lý Tín (đời Lý) được phong tặng Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Gặp năm nào trời hạn hán, không mưa nhân dân lại tổ chức lễ hội rước Ngũ Linh Từ và tổ chức hội bơi thuyền cầu đảo. Lễ hội thường được tổ chức vào khoảng tháng 7, trong thơ ca dân gian còn lưu truyền câu ca dao:

Lụt lội thì tháo cống Đôi

Trời làm hạn hán thì bơi đầm Bì.

Theo kể lại của các bậc cao niên, năm nào trời làm hạn hán, nhiều tháng không mưa quan tri huyện sức cho chánh tổng, lý trưởng các tổng có các làng Để Xuyên, Hà Đới, Vân Đôi, Tử Đôi, Cẩm Khê rước các thánh về đình Cựu Đôi (tại Trung tâm huyện Tiên Lãng hiện nay) để tế đảo vũ cầu mưa. Đội hình rước thánh về đình để tế đảo vũ đi trước là đội cờ gồm 8 lá cờ vuông và cờ đuôi nheo, đi đầu là cờ thanh long (tiền thanh long) cuối cùng là cờ bạch hổ (hậu bạch hổ), các màu cờ khác thuộc ngũ hành đi ở giữa có nô dịch đi cùng (trong đội hình rước không có nữ) tiếp đến là phường bát âm, sau đó là kiệu và cuối cùng là các bô lão và chức dịch tại các tổng.

Việc tế lễ tại đình Cựu Đôi do tri huyện đứng ra làm chủ tế, được tổ chức 3 ngày, nếu trời mưa thì việc tế lễ đã hoàn tất, nếu trời không mưa thì tri huyện sức cho tổng Tử Đôi tổ chức bơi thuyền cầu đảo.

Nhận sức của tri huyện, chánh tổng, lý trưởng và kỳ hào ở các thôn trong tổng Tử Đôi bèn họp bàn tổ chức việc tế, việc tổ chức tế lễ được giao cho 2 thôn Vân Đôi và Tử Đôi tổ chức, kinh phí được lấy từ quỹ công của Tổng. Việc tế lễ do chánh tổng và lý trưởng điều hành. Tế liên tục 3 ngày, buổi sáng tại đến Kinh Sơn, buổi chiều tại đền Bì, các gia đình trong các làng sắm lễ dâng cúng tại đền Kinh Sơn, nếu 3 ngày đầu không mưa, tế tiếp 3 ngày nữa, trời vẫn không mưa thì tổ chức bơi thuyền cầu đảo tại đầm Bì. Đầm Bì còn có tên gọi  là đầm Cửa trước ở cửa đền Kinh Sơn và Đền Bì, mặt đầm khá rộng, có độ sâu từ 2 - 3m. Đây là con đầm tiêu nước cho cả một vùng rộng lớn của nhiều xã. Điểm bơi xuất phát từ đền Bì bơi đến cầu Nhân Vực

Trên mặt đầm Bì cắm 9 giáo xuất phát, các đội bơi tập trung tại giáo xuất phát. Khi có trống lệnh của ban tổ chức thì đẩy cho thuyền đi (không có các đội bơi thuyền nữ tham gia), gần đây khi tổ chức khôi phục lại lễ hội bơi thuyền Ban Tổ chức có cho các đội nữ tham gia), 9 đội bơi cùng một lúc tạo nên không khí náo nức, sôi động. Các đội bơi một vòng khép kín, quay về lấy thẻ ở giáo xuất phát và hoàn thành vòng đua. Giải được tính theo ngày, nếu bơi 3 ngày thì thành tích sẽ là kết quả trung bình cộng, nếu ngày thứ nhất, hoặc ngày thứ hai có mưa thì cuộc bơi thuyền cầu đảo cũng kết thúc.

Sau 67 năm gián đoạn (lễ hội được tổ chức lần cuối năm 1946), ngày 1/9/2013

UBND huyện Tiên Lãng tổ chức khai mạc lễ hội rước ngũ linh từ tại đình Cựu Đôi, thị trấn Tiên Lãng. Lễ hội này sẽ được tổ chức 5 năm một lần với các nghi thức rước, tế dân gian truyền thống.

Dạng lễ hội cầu mưa cũng thể hiện rõ trong lễ hội đền Bì dưới ở thôn Tử Đôi, xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng và đền Bì trên ở thôn Vân Đôi gọi là đền Canh Sơn (hay Kinh Sơn). Gặp năm nào trời hạn hán, thiếu nước nhân dân lại tổ chức cầu đảo tại các nơi này rất linh ứng. Lễ hội đền Bì dưới được tổ chức từ ngày 1 tháng 11 đến 15 tháng 11 (âm lịch) nhưng chỉ tế lễ một ngày 10 tháng 11. Trước khi lễ hội người ta rước tượng ngài Trần Vệ Đàn ở miếu, ngài Bạt Hải long vương Đại vương ở nghè về đình làng dự lễ hội.

Tại đền Canh Sơn xưa, hàng năm làng có hai lần tế tự tại đền vào tháng 2 và tháng 8. Đến nay lễ hội cầu đảo được nhân dân thôn Vân Đôi xã Đoàn lập tổ chức thành lễ hội truyền thống 2 năm/lần vào ngày 2/9 (dương lịch).

Theo hồ sơ thần tích, “đền Bì là một trong 5 đền linh thiêng ở huyện Tiên Lãng, khi nào có hạn hán thì nhân dân địa phương lập đàn cầu mưa”. Theo các cụ cao niên trong làng, đền Bì rất linh thiêng, vào những năm hạn hán kéo dài, kênh mương cạn kiệt, đồng ruộng thiếu nước, người dân địa phương lập đàn làm lễ cầu đảo. Ngay sau khi dân làng hoàn thành lễ tế trời đất cầu cho mưa thuận, gió hòa thì trời liền đổ mưa, hoặc chỉ sau một vài hôm cầu đảo là có mưa.

Những năm gần đây, ở Hải Phòng còn có những lễ hội tôn thờ những danh nhân văn hóa nổi tiếng của địa phương, làm rạng danh cho quê hương - đất nước như lễ hội đền Trạng Trình tại Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt (thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) vào các ngày 6, 7, 8 tháng 1 (dương lịch) hàng năm; Lễ hội đền thờ trạng nguyên Lê Ích Mộc tại thôn Thanh Lãng, xã Quảng Thanh, Thủy Nguyên vào ngày 15 tháng 2 âm lịch nhằm tưởng nhớ công ơn dạy học, giúp dân địa phương phát triển kinh tế của quan Trạng. Thông qua những lễ hội này người ta còn giáo dục truyền thống hiếu học, tôn vinh người tài khoa cử.

Ở đâu cũng vậy, lễ hội dân gian bao giờ cũng gồm 2 phần: lễ và hội.

Phần lễ do sắc mục, lý dịch phụ trách và do các Chủ tế, phụ tế, đội tế, trai đinh (khiêng kiệu) và Đình phe (cầm cờ) trong làng thực hiện theo nghi thức nghiêm ngặt của nhà nước phong kiến.

Phần hội thường diễn ra trên sân đình với các cuộc vui chơi như ca hát, diễn tuồng, chèo và trò chơi như tam cúc điếm, bắt vịt (tại đền Phú Xá và một số di tích lịch sử huyện An Dương), bắt cá trạch trong chum, bịt mắt bắt dê, đánh đu, đi cầu thùm, cờ tướng, cờ người, đi cà khoeo (ở một số địa phương ven biển), kéo co, chọi gà…

Ở Hải Phòng ngày nay, trong phần hội, ngoài trò chơi dân gian (ít dần), người ta còn tổ chức các trò chơi hiện đại như thi đấu cờ vua, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, bóng bàn, vật..v.v.. thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

Có thể nói lễ hội dân gian là hoạt động văn hóa quần chúng vừa có tính chất văn hóa tâm linh, vừa là hoạt động tinh thần sôi động, có tác dụng cố kết cộng đồng, tạo nên không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân. Những lễ hội thể hiện bản sắc văn hóa tốt đẹp cần được bảo lưu, kế thừa trong nhân dân nhằm làm phong phú thêm đời sống tinh thần nhân dân, góp phần giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước và tự hào dân tộc.

Thi Văn – Lê Thế Loan (Hội Văn nghệ Dân gian HP) 

sưu tầm, biên tập.

Chọi trâu Đồ Sơn - một trong những lễ hội tiêu biểu Việt Nam

alt

Chọi trâu Đồ Sơn được coi là một trong 15 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Việt Nam và đã đi vào văn học dân gian nước ta với câu ca dao:

Dù ai buôn đâu, bán đâu,

Mùng 9 tháng 8 chọi trâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Mùng 9 tháng 8 thì về chọi trâu.

Tục chọi trâu Đồ Sơn có từ bao giờ thì hiện chưa có chứng cứ xác thực, nhưng nhiều khả năng có từ thời Trần. Cơ sở của nó như sau:

Từ thời Hậu Lê, tám vạn chài Đồ Sơn đã tôn thần “Điểm tước Thần vương” làm Thành hoàng và xây đình Chung để thờ. Nếu biết rằng tục chọi trâu là nghi lễ dâng thần và trước khi diễn ra lễ hội bao giờ người ta cũng tế cáo thần tại ngôi đình của cả vùng Đồ Sơn này thì có thể cho rằng tục này ít nhất có từ thời nhà Trần. Tại gian giữa nhà tiền tế đình Chung (sau chuyển về trung tâm của tổng Đồ Sơn và đổi thành đình Công) có bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng ghi dòng chữ: “Cựu lịch Trần – Lê khai vọng quốc” được nhiều người dịch là: nhớ nước do nhà Trần xưa và nhà Lê khai mở (sự hoài cổ đối với hai vương triều vẻ vang trong lịch sử nước nhà).

Ngoài ra, trong sách “Lịch sử người Hà Nội” tác giả Hà Ân viết: “Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng đến xem hội chọi trâu Đồ Sơn đã gặp Kỳ Vỹ, người đã cứu Nhượng Vương thoát chết khỏi nạn cướp nên đã kết nghĩa làm anh em”. (Hưng Nhượng Vương là con trai thứ ba của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn)

Tuy hơi khiên cưỡng, nhưng nếu tác giả cuốn sách trên nói có cơ sở thì phải khẳng định là tục chọi trâu ở Đồ Sơn ít nhất phải có từ đời Trần.

Rồi từ đó tục lệ này kéo dài mấy trăm năm, tuy có lúc gián đoạn do thiên tai, chiến tranh, đến năm 1945 thì dừng hẳn (cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ). Tuy nhiên từ năm 1955-1989 Đồ Sơn có 3 lần chính thức mở hội vào các năm 1960, 1973, 1975 (nhưng không năm nào trọn vẹn). Năm 1990, do chính sách đổi mới của Đảng, Thành ủy và UBND thành phố Hải Phòng quyết định phục hồi lễ hội chọi trâu Đồ Sơn và được nhân dân địa phương đồng tình ủng hộ. Từ đó đến nay lễ hội này liên tục được tổ chức hàng năm.

Ở nước ta nhiều nơi có tục chọi trâu, tiêu biểu như: Chọi trâu làng Bạch Lưu (xưa kia gọi là Bạch Ngưu) tức thôn Bạch Lưu Hạ, nay thuộc xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Chọi trâu Phù Ninh (xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ) và chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng). Đó chưa kể các hội chọi trâu mới phát sinh ở Bắc Giang, Tuyên Quang, Bắc Ninh…mà hiện nay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải hạn chế cấp phép bởi đó không phải là các lễ hội truyền thống, lại mang tính bạo lực, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế.

Câu hỏi đặt ra, tại sao lễ hội chọi trâu Đồ Sơn lại được Bộ Văn hóa vinh danh là một trong 15 lễ hội tiêu biểu cấp quốc gia (năm 2013)?. Lý do của nó, theo tôi là:

Trước hết lễ hội chọi trâu Đồ Sơn mang ý nghĩa triết lý nhân sinh cao gắn với hình tượng mặt trăng.

Trăng có vai trò rất quan trọng với đời sống. Với sức hút vật lý, nó là nguyên nhân gây ra hiện tượng thủy triều, tạo nên con nước lên xuống, ảnh hưởng đến nghề nuôi và đánh bắt hải sản của cư dân ven biển. Thủa hồng hoang, con người không hiểu hiện tượng vật lý này nên coi mặt trăng là một đối tượng thiêng liêng cần tôn thờ. Hình ảnh đôi trâu chọi nhau dưới ánh trăng trên bãi biển trong truyền thuyết về hội chọi trâu ở Đồ Sơn đã phản ánh mối liên hệ nào đó giữa mặt trăng với biển cả. Mặt khác, hình ảnh sừng trâu cong cũng chính là hình tượng của mặt trăng khuyết, có mối liên hệ với thần Độc Cước (vị thần một chân) mà người dân miền biển vẫn tôn thờ. Vậy phải chăng chọi trâu còn là nghi thức tôn thờ mặt trăng của cư dân miền biển ?. Ở đây, trâu không chỉ là vật hiến sinh của cư dân nông nghiệp mà còn là vật hiến tế thủy thần của ngư dân.

Vì lẽ đó mà thời xưa, con trâu chiến thắng trong hội chọi trâu sẽ được đưa lên thuyền, mang ra khơi xa rồi hất xuống biển để tế thần (từ thời Nguyễn đến trước cách mạng tháng Tám trâu vô địch được mổ, thui vàng cho lên ván cúng dâng Thành hoàng ở đình hàng tổng). Thời nay, làng nào có trâu giải nhất trận chung kết được rước bát hương đền Nghè (thờ thần Điểm Tước) và rước cờ “Thượng đẳng thần” về làng, còn trâu được giết thịt làm lễ hiến sinh dâng Thành hoàng, xin ngài cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, cho mùa cá bội thu, cho việc làm ăn năm của dân làng được may mắn, thuận lợi.

Chọi trâu Đồ Sơn ngoài ý nghĩa tôn thờ thủy thần còn biểu dương tinh thần thượng võ, truyền thống quật cường của nhân dân Đồ Sơn - Hải Phòng, là sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước.

Đấu ngưu Đồ Sơn còn được ghi trong sử sách triều Nguyễn:

“Ở chân núi Đồ Sơn, huyện Nghi Dương, có đền thờ Thủy Thần. Tương truyền có người bản thổ đêm đi qua dưới đền thấy hai con trâu đang chọi nhau, nên hàng năm lấy ngày 9 tháng 8, có tục chọi trâu để tế thần” (sách Đại Nam nhất thống chí quyển VIII của Quốc sử quán triều Nguyễn).

Chọi trâu Đồ Sơn từ lâu đã được các phương tiện truyền thông quốc tế quan tâm, quảng bá:

Năm 1960 hãng truyền hình NHK Nhật Bản đã ghi hình cuộc chọi trâu Đồ Sơn tổ chức vào ngày mùng 4 Tết và phát sóng toàn quốc ở Nhật, trong đó có hình ảnh cụ Vệ Ghẻ ở tuổi 55 – 57, tay trái nắm sừng trái trâu, xoãi chân về phía sau, kê vai vào cổ một con trâu chọi để kìm dựng nó lại trong khi nó đang bỏ chạy như bay. Hình ảnh này đã làm khán giả Nhật Bản thán phục sức khỏe và tinh thần thượng võ của người dân vùng biển Việt Nam.

Cũng năm 1960 các nhà quay phim Liên Xô và Việt Nam đã đưa hình ảnh chọi trâu Đồ Sơn vào phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” giới thiệu với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế về một sinh hoạt văn hóa mang bản sắc Việt Nam.

Với những nét văn hóa truyền thống độc đáo đó, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đã vượt khỏi quy mô cấp vùng và được khẳng định ở tầm quốc gia, góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Mấy ai từng thắc mắc: tại sao lễ hội chọi trâu Đồ Sơn lại được tổ chức vào thượng tuần tháng 8 âm lịch?.

Truyền thuyết kể rằng cách nay hơn 18 thế kỷ một nhóm ngư dân nguyên quán ở đào Thần Hòa theo gió mùa đông nam ra biển đánh cá, bị bão dạt vào chân núi Tháp Sơn ở Đồ Sơn rồi ở lại lập nghiệp, trở thành những cư dân đầu tiên của vùng này. Đồ Sơn ngày một đông đúc hơn khi dân cư các nơi về khai khẩn đất đai, đánh bắt tôm cá. Họ lập ngôi miếu thờ thần biển ở chân núi Tháp cách cửa Đại Bàng (cửa sông Họng nay đã bị bồi lấp nằm giữa cửa sông Lạch Tray và Văn Úc) về phía tây khoảng 1 km. Ngư dân khi ra biển đánh cá thường vào đây cầu khấn hay cúng tạ khi an toàn trở về hoặc khi gặp may đánh bắt được nhiều hải sản tuy họ chưa biết duệ hiệu thần là gì. Một năm trời đại hạn, cây cỏ héo khô, sông, suối cạn nước. Cư dân trên đảo khẩn cầu thần linh thương xót ban mưa cứu mùa màng và họ thoát nạn đói.

Vào một đêm trăng thượng tuần tháng 8, một số người nhìn thấy trên mặt biển có một lão nhân đầu tóc bạc phơ, ngồi trên sập đá, tay cầm gậy trúc xem đôi trâu đang chọi nhau. Hình ảnh này hiện lên rồi biến mất trong khoảnh khắc. Sau đó một trận mưa lớn đổ xuống, cây cối đang khô héo được hồi sinh, sông suối đầy nước, con người được cứu sống.

Qua hình ảnh lão thần nhân xem trâu chọi, cư dân vạn chài cho rằng thần giáng hạ báo cho họ biết để mà thờ phụng. Sau đó, với vết chân chim hằn trên mâm bột cúng thần ở miếu Nghè, thần đã gián tiếp báo cho dân Đồ Sơn biết duệ hiệu của mình và người ta đã tôn thần là Điểm Tước Đại vương. Để làm hài lòng thần, từ đó dân Đồ Sơn tổ chức những cuộc chọi trâu dâng thần và tục lệ này được lưu truyền đến ngày nay. Đó là theo truyền thuyết, còn thời điểm tổ chức chọi trâu 2 kỳ, vào tháng 6 (vòng loại) và tháng 8 (chung kết) có lẽ còn do nguyên nhân sau:

Thời gian chính mở hội đấu ngưu là giai đoạn chuyển từ vụ cá nam sang vụ cá bắc, là lúc ít mưa bão và là thời điểm ngư nhàn để người dân thảnh thơi tham gia (đầu tháng 8 âm lịch).

Không đâu như ở Đồ Sơn, để có trâu tốt, cuộc đấu hay người ta phải trải qua một quá trình tìm mua và nuôi dưỡng, huấn luyện trâu công phu, tổ chức nghi lễ tôn thờ thần hoàng nghiêm cẩn, tuân thủ chặt chẽ những điều kiêng kỵ như nơi đây.

Tìm chọn, nuôi và huấn luyện trâu:

Để chuẩn bị cho Hội, trước đây các Giáp (bây giờ là cá nhân, dòng họ) ở Đồ Sơn ngay từ sau Tết Nguyên đán đã bàn bạc, thu tiền đóng góp của suất đinh và chọn người đi tìm mua trâu tốt. Người đi mua phải là người nắm vững các tiêu chuẩn của một con trâu chọi hay, có kinh nghiệm tìm trâu và biết cảm nhận tinh tướng của trâu và độ can trường của nó. Mặt khác người được chọn đi tìm trâu còn là người mà gia đình đạo đức, con cháu đề huề, không có tang trở, không vận hạn, hết lòng vì việc công và trung thực.

Trước khi xuất hành tìm trâu, người ta phải ra đình với cơi trầu, bát nước, vàng hương, hoa quả khấn xin Thành hoàng phù hộ cho chuyến đi thuận lợi, tìm được trâu hay.

Thông thường thì sau rằm tháng Giêng người ta đã tỏa đi khắp nơi để mua trâu, có khi họ phải lặn lội vất vả hàng tháng trời đi các tỉnh Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, lên tận Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lào Cai, thậm chí tới tận vùng giáp danh Lào, Cam Pu Chia ... mới tìm được con trâu vừa ý. Trâu phải là những con trâu đực khỏe mạnh, da đồng, lông móc, một khoang bốn khoáy, hàm đen, tóc tráp (lông trên đầu cứng, dày để tránh nắng), có ức rộng, cổ tròn dài và hơi thu nhỏ về phía đầu, lưng càng dày, càng phẳng .... là trâu gan, có khả năng chống chịu được đòn của đối phương. Háng trâu phải rộng nhưng thu nhỏ về phía hậu càng nhọn càng quý. Sừng trâu phải đen như mun, đầu sừng vênh lên như hai cánh cung, giữa hai sừng có túm tóc hình chóp trên đỉnh đầu là khoáy tròn. Mắt trâu phải đen, tròng đỏ...

Trâu mua về còn phải chăm sóc, nuôi béo khỏe, luyện cho trâu quen âm thanh huyên náo, không nhát cờ, nhát trống trong mấy tháng trước khi thi đấu.

Người được trọn gửi nuôi trâu cũng phải là người có kinh nghiệm và bắt buộc phải kiêng kị: Không được cưỡi lên lưng trâu, không cho đàn bà, con gái bước qua dây dắt trâu, tránh đánh chửi nhau về nuôi trâu, tránh đám tang, tối kỵ nghĩa địa.

Chuồng nuôi trâu phải sạch sẽ, ăn cỏ sạch, cho ăn thêm đầu mía và cám ngon cho trâu chóng béo. Trâu không thả rông, tránh xa trâu cái, bảo vệ trâu không bị xâm hại bởi kẻ xấu.

Trường đấu: Trường đấu, hay sân chọi xưa kia là những bãi đất rộng, khoảng 80 x 100m (nay là sân vận động rộng tới 2000 m2) có hào nước bao quanh (bây giờ là rào chắn, tường bao). Phía trong hào có hai dãy lán làm chỗ đứng cho trâu chọi gọi là "xào xá". Ngoài ra, xung quanh có khán đài để mọi người quan sát và cổ vũ trâu thi đấu.

Hội chính tháng 8 (ÂL):

Lễ hội chọi trâu có hai phần, phần lễ và phần hội đan xen. Xưa kia, từ ngày mùng một tháng 8 các các làng có trâu chọi làm lễ tế thần Điểm Tước (vị thủy thần của Đồ Sơn) ở đình làng mình. Trước khi làm việc này họ rước nước (gắn với tục tế Thuỷ Thần) từ giếng ở miếu Nghè hoặc ở suối Rồng về đình làng mình (Lọ nước mỗi năm thay một lần) cúng tế với 10 ván xôi, 5 gà giò, 1 mâm cỗ mặn, 1 mâm cỗ chay, 5 lít rượu ngon để cúng thánh và trình làng.

Xưa kia, ngoài việc tế thánh ở làng, người ta còn tế hàng tổng trước khi khai hội với các nghi thức cầu kỳ mà chủ tế phải có chức sắc từ lý trưởng đến chánh, phó tổng trở lên.

Còn hiện nay thủ tục được đơn giản hóa như sau:

Sáng ngày chính hội (9/8 ÂL), khoảng 1 giờ sáng người ta làm lễ rước nước từ đền Nghè về đình, các chủ trâu cho trâu ra làm lễ Thành hoàng ở đây, sau khi lễ thần, trâu chọi được gọi là "Ông trâu".

Chủ tế các làng làm lễ xin phép Thành Hoàng đưa “ông trâu” đi thi đấu. Khoảng 6 – 7 giờ sáng, tổ chức lễ rước “ông trâu” ra đấu trường. Dẫn đầu đám rước là cờ ngũ sắc, trống, chiêng, long đình, long kiệu, bát bửu. Người khiêng long đình, long kiệu, trống, chiêng… chít khăn đỏ, mặc áo đỏ viền vàng, thắt lưng và quấn cạp đỏ. Người gọi loa (dịch loa) đội khăn xếp, mặc áo lương đen, thắt lưng bố hậu đỏ, quần trắng. Theo sau là các bô lão, chức sắc và thứ tự các ông trâu (theo kết quả xếp hạng đấu loại), trên lưng được chùm một tấm vải đỏ, sừng quấn một dải lụa điều. Đi bên cạnh mỗi ông trâu có hai chàng trai tay cầm cờ đuôi nheo để múa. Lễ rước các “ông trâu” vào các xào xá rộn rã trong tiếng nhạc bát âm, cờ bay phất phới ...

Khi ông trâu bước vào khu tập trung riêng, tiếng trống, tiếng loa nổi lên dõng dạc, đổ hồi tạo nên không khí náo nức của ngày hội .

Tiếp theo là nghi thức múa cờ khai hội được 24 tráng niên của làng (nay là 50 người) chia thành hai hàng trình diễn vừa uyển chuyển, vừa mạnh mẽ, biến hoá linh hoạt trong những âm thanh của trống, thanh la, thể hiện ước nguyện cầu mong thần phù hộ cho thuyền bè thuận gió ra khơi.

Múa cờ vừa dứt, từ hai phía hai “ông trâu” được dẫn vào xới. Khi hai “ông trâu” cách nhau 20 m, người dắt nhanh chóng rút “sẹo” cho trâu rồi khẩn trương thoát ra ngoài sới chọi. Hai ông trâu được tự do lao vào chọi nhau giành thắng bại. Thời Nguyễn, trâu nào vô địch được trao giải 30 đồng (tương đương giá một con trâu) và một khẩu xăm giải nhất hàng tổng (khẩu xăm là đoạn lưới dăng ngoài biển giới hạn bởi các sào cắm, nơi có nhiều cá nhất).

Xưa kia, kết thúc lễ hội, ông trâu thắng cuộc được làm lễ rước trở về đình làng có trâu giải nhất với bát hương đền Nghè và cờ đại “Thượng đẳng thần”, làng thua cũng phải rước long đình, bát biểu về đình làng có trâu thắng cuộc, sau đó mới rước về đình làng mình.

Sáng ngày 10 tháng 8, toàn bộ ông trâu tham gia lễ hội được đem giết thịt làm lễ vật tế thần ở đình, có kèm theo một đĩa đựng tiết và lông trâu (mao huyết), thịt sau đó được chia về các giáp theo suất đinh (còn ngày nay người ta bán cho những người dự hội với giá rất đắt tùy theo trâu đạt giải nhất, nhì, ba). Mặc dù bán đắt nhưng số lượng thịt vẫn không đủ cho người mua vì người ta quan niệm đó là lộc thánh, ăn vào sẽ được may mắn cả năm.

Hiện có nhiều ý kiến tranh luận về nghi lễ hiến sinh tiết và lông mao trâu thắng cuộc. Người thì cho rằng xưa kia người ta phải mang lông mao và tiết “ông trâu” đổ xuống biển, người thì cho rằng đổ xuống ao, còn ông Đinh Phú Ngà, người Đồ Sơn, tác giả cuốn “Tản mạn lễ hội chọi trâu Đồ Sơn” thì lại khẳng định rằng sau khi tế thần người ta đem đĩa tiết và mấy cái lông cổ trâu ra gốc đa hay bờ ao, bờ ruộng hất xuống đất để hiến thần theo lệ “ăn lông, ở lỗ” của người nguyên thủy. Cá nhân người viết bài này thì thấy rằng, khu nào ở xa biển thì mao, huyết được người ta đổ xuống ao, hồ. Ở gần biển như phường Ngọc Hải thì người ta mang mao, huyết đổ xuống biển hiến thủy thần

Vào ngày 16 tháng 8, làng tiến hành nghi thức “tống thần” và rã đám, kết thúc lễ hội. Có một điều rất lạ là đại đa số các năm, trước, trong hoặc sau ngày hội chọi trâu mùng 9 tháng 8 một ngày và hôm rã đám bao giờ trời cũng đổ mưa, có năm mưa rất to. Người ta cho rằng đó là lúc thần linh đến dự hội và ra đi theo mưa gió. Năm nào không có mưa thì Đồ Sơn thường gặp chuyện không hay, làm ăn thất bát.

Hiện nay, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn vẫn mang đậm bản sắc xưa và đầy đủ các nghi thức truyền thống dân gian: Rước kiệu và long đình, bát biểu; hành lễ tế Thành hoàng làng, dùng trang phục cổ, lời văn xưa và nhạc cụ dân tộc, múa cờ khai hội, tặng thưởng cho chủ trâu đạt giải nhất, nhì, ba trong trận chung kết và các giải phụ. Tuy nhiên, cũng có những cải biến nhằm thích ứng với hoàn cảnh mới.

Phạm Văn Thi, Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng.

Yếu tố phong thủy trong bài trí bàn thờ gia tiên và vật phẩm dâng cúng ngày Tết.

Yếu tố phong thủy trong bài trí bàn thờ gia tiên và vật phẩm dâng cúng ngày Tết.

Bàn thờ gia tiên là thế giới tâm linh thu nhỏ của một gia đình, nơi giao lưu tinh thần giữa người sống và người đã mất (âm và dương). Do đó bàn thờ là nơi linh thiêng, chỗ con cháu thờ phụng báo hiếu tiên tổ, ông bà, cha mẹ. Do đó bàn thờ gia tiên phải được sắp đặt đúng theo phong thủy, tuân theo quan niệm ngũ hành phương Đông để không ảnh hưởng xấu đến gia chủ và con cháu trong nhà, lại có thể mang lại may mắn, tài lộc cho gia đình.

Vũ trụ quan của người phương Đông cho rằng hai thực thể âm dương tuy tương khắc với nhau, nhưng được phối hợp theo phép điều hòa và tương đối để tạo sự cân bằng và các hành tinh Kim, Mộc, Thủу, Hỏa, Thổ (ngũ hành) cũng ảnh hưởng đến cuộc sống con người vậy nên chúng chính là cơ sở để phát sinh ra kinh dịch và bát quái đồ chi phối xã hội và con người.

Dịch lý ngũ hành quan niệm như sau:

Bên trái là dương, bên phải là âm, phía trên là dương, phía dưới là âm, phía trước là dương, phía sau là âm; Sáng là dương, tối là âm; Nóng là dương, lạnh là âm; Mặt trời là dương, mặt trăng là âm... Do vậy để phù hợp luật âm dương ngũ hành thì bàn thờ cũng phải tuân thủ cách sắp xếp cho hợp lý.

Nếu đặt vị trí bàn thờ không đúng sẽ phạm vào dịch lý ngũ hành tương khắc, mạo phạm đến tổ tiên, sức khỏe xấu đi, gia đình trục trặc, tai ương hay sa sút tiền tài, danh vọng… Luật phong thủy có các quy định chặt chẽ vị trí đặt bàn thờ trong mối tương quan với xung quanh. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ trình bày cách sắp xếp đồ thờ và các vật dâng cúng mà thôi:

1. Vị trí đặt bàn thờ:

Dịch lý chú trọng việc lấy tuổi gia chủ để chọn hướng đặt bàn thờ, bởi bàn thờ được lấy theo tuổi của người trụ cột trong gia đình mới phát huy được hiệu quả phong thủy của nó.

Từ tuổi của gia chủ có thể tra ra mệnh, từ đó theo quẻ bát quái (có sơ đồ sẵn), xác định hướng tốt xấu đối với gia chủ để chọn được hướng đặt bàn thờ hợp phong thủy.

 alt

  MỘT ẢNH MINH HỌA BÀI TRÍ VẬT DÂNG CÚNGalt 

2. Bày biện trên bàn thờ:

Trên bàn thờ của các gia đình thường có đủ các đồ vật thờ cúng thể hiện 5 yếu tố của ngũ hành:

Kim: Là giá nến, lư hương hay cốc bằng đồng, con hạc đồng

Mộc: Là bàn thờ, ngai hoặc giá nến gỗ, bài vị bằng gỗ.

Thủy: Là bình đựng nước, chai nước, chén nước thờ.

Hỏa: Là đèn dầu, đèn điện, nến thờ và nén nhang khi thắp lên.

Thổ: Là bát hương làm từ đất sét nung, tro hương

Trong việc thờ cúng, vị trí đặt tượng Thần, Phật phải sát tường mới tốt, nhưng bài vị tổ tiên thì ngược lại, không nên đặt bài vị sát tường bởi bài vị làm từ gỗ (hành mộc) tương khắc với vách tường (hành thổ).

Bát hương thờ:

Trên bàn thờ tổ tiên, ở vị trí chính giữa người ta đặt các bát hương (tượng trưng cho tinh tú) có đựng cốt (mẩu giấy ghi tên tuổi, thời gian sinh, thời gian mất của người đã khuất kèm theo lá bùa của thầy pháp, thầy cúng yểm). Thường là có 3 bát hương đặt thành hàng ngang để tạo thế tam tài (trong đó bát chính giữa thờ thần linh, các bát bên cạnh thờ ông bà – cha mẹ và bà cô ông mãnh). Tuân theo quy định phong thủy trên thì bát hương thờ đàn ông đặt phía trái hướng bàn thờ (dương) và bát hương thờ đàn bà dặt bên phải bàn thờ (âm).

Cây vàng khối: Cây vàng khối trong thờ cúng chính là vàng nén bằng giấy làm thành hình vuông có đủ 5 màu (tượng trưng ngũ hành) để thờ. Thông thường, khi sử dụng cây vàng khối thì người ta hay đặt 2 cây hai bên bát hương. Trong đó cây bên trái  (hướng bàn thờ) phải để cao hơn cây bên phải vì bên trái do rồng xanh (Tả Thanh Long) trấn giữ, bên phải do hổ trắng (Bạch hổ) trấn giữ. Thường có câu rằng “Thà cho Long cao ngàn trượng chứ không để hổ ngẩng cao đầu”.

Lọ lộc bình (hay độc bình): Lọ lộc bình thường được đặt bên phía tay trái (hướng Đông) theo quan niệm của các cụ ngày xưa: “Đông bình (bình hoa), Tây quả (quả dâng cúng)”. Ngày nay thì nhiều nhà thường bố trí một đôi lộc bình để cân đối hai bên bàn thờ tổ tiên cho đẹp. Đây là điều không đúng, bởi độc bình chỉ nên là một lọ đựng hoa.

Ở hai góc ngoài cùng bàn thờ bao giờ cũng có hai cây đèn dầu hoặc nến tượng trưng cho mặt trời (dương) ở bên trái và mặt trăng (âm) ở bên phải:  Đèn lưỡng nghi. Ngoài ra còn có đèn Thái cực (đèn điện) ở hàng trên. Đây là tuân theo dịch lý bát quái: Thái cực sinh lưỡngg nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng  sinh bát quái (quẻ đồ)

Lọ đựng hương: thường sử dụng chất liệu bằng gốm (làm từ đất) đại diện cho hành Thổ. Lọ đựng hương thường được đặtLưỡng nghi  bên phải của bàn thờ (hướng của hành thổ và hành kim).

Hiện có nhiều ý kiến cho rằng không nên đặt quá nhiều đồ kim loại như đỉnh đồng, lư hương, bát hương đồng, hạc đồng, chân nến kim loại trên bàn thờ bởi theo dịch lý ngũ hành: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ. Ngược lại, Kim khắc chế Mộc và bị Hỏa khắc. Vì đồ kim loại (thuộc hành kim) tương phản với hành Mộc (là bàn thờ) sẽ dẫn đến tương khắc với việc thờ cúng. Do đó cần cân nhắc các đồ thờ sao cho hài hòa để không phạm vào việc khắc chế lẫn nhau của các hành trong ngũ hành.

Theo các nhà phong thủy, nếu đặt quá nhiều đồ kim loại lên bàn thờ thì gia chủ sẽ rất dễ bị tổn hại sức khỏe.

Trong ngày Tết nguyên Đán, người dân ta thường chú trọng các vật phẩm cúng dâng tiên tổ theo truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Lễ vật dâng cúng thường bao gồm vài bộ quần áo mã, giấy tiền, vàng mã cho các cụ (hiện nay Phật giáo khuyến cáo không dùng đồ giả dâng cúng kể cả hoa nhựa, cây vàng, lá bạc bởi dùng đồ giả là lừa dối người đã khuất), một vài chén nhỏ đựng nước, rượu (thường là 5 chén tượng trưng cho ngũ hành) và một bình trà, ngũ quả, xôi, chè, trầu - cau…

Đĩa ngũ quả: Đối với gia đình có bàn thờ nhỏ thì đĩa ngũ quả (5 loại quả) đặt ở bên phải bàn thờ - hướng tây theo quan niệm ngũ hành; Một bình hoa và một bình rượu ngon đặt sang bên trái (hướng đông theo ngũ hành) vì các cụ dặn lại “ Đông bình, tây quả”. Các thứ này được xếp sau các bát hương và đèn, nến. Gia đình có bàn thờ lớn thường đặt mâm ngũ quả ở chính giữa bàn thờ (sau các bát hương và bộ đỉnh hương, đèn lưỡng nghi – xếp hàng ngang)

Mâm ngũ quả phải đạt được tiêu chuẩn như nhiều hạt, nhiều mắt, nhiều múi, nhiều chụm, nhiều tay và mập mạp để biểu hiện cho sự sinh sôi phát triển và tươi tốt. Màu sắc của các loại quả cũng phải đạt đủ yếu tố ngũ hành là Kim (màu trắng), Mộc (màu xanh), Thủy (màu đen), Hỏa (màu đỏ) và Thổ (màu vàng) với mong muốn được hưởng ngũ phúc.

Mâm ngũ quả miền Bắc thường bao gồm: Chuối xanh hoặc dưa hấu (màu xanh thuộc hành Mộc); Phật thủ, bưởi, cam, quýt hoặc quất (màu vàng thuộc hành Thổ); Đào hoặc lê (màu trắng thuộc hành kim); Mận hoặc nho (màu đen thuộc hành Thủy);  Ớt, thanh long (màu đỏ thuộc hành Hỏa). Các loại quả được bài trí, sắp xếp màu sắc xen kẽ với nhau để đẹp mắt và hợp phong thủy. Ngoài ra trên bàn thờ còn có thể bày thêm bánh ngọt, mứt, kẹo cho cân đối và đẹp mắt.

Người miền Trung lại có cách bày trí mâm ngũ quả ngày Tết rất đơn giản, bình dị. Không quá câu nệ hình thức hay ý nghĩa mâm ngũ quả ngày Tết, chủ yếu là có gì dùng nấy, thành tâm dâng cúng tổ tiên. Do đó, mâm ngũ quả của các nhà thường đa dạng, quả gì cũng được, miễn là tươi ngon.

Còn người miền Nam thường bày mâm ngũ quả theo mong muốn “Cầu sung vừa đủ xài” với mong ước năm mới được đủ đầy, sung túc. Tương ứng với 5 loại quả là mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Ngoài ra, còn có thêm một cặp dưa hấu xanh để cầu may mắn và quả thơm (dứa) nhiều nhánh với mong muốn con cháu đầy nhà.

Các thầy pháp cho rằng, trên bàn thờ chỉ được đặt đồ chay tịnh như trà, xôi, chè, không được đặt đồ mặn. Nếu đặt đồ mặn (thường để cúng thần linh) thì phải có một bàn thờ thấp hơn bàn thờ chính (nơi thờ gia tiên) và đặt một bát hương làm bằng cốc gạo để gắn kết với thế giới thần linh.

Trong việc bài trí bàn thờ gia tiên, ngoài những thứ như hoành phi, câu đối, tượng hoặc ngai thờ, khám thờ, bài vị , lư hương, đỉnh đồng…(đối với nhà có điều kiện) thì có những thứ không thể thiếu như: Bát hương, nước sạch, đèn - nến và thoáng khí (xa nơi xú uế), không gian thanh tịnh, trang nghiêm. Bốn thứ đó tượng trưng cho tứ đại: Đất – Nước – Lửa – Gió. Đồ dâng cúng (hoa quả, tịnh tài, tịnh vật, cỗ bàn, bánh trái, trầu cau…). tượng trưng cho lòng thành hiếu kính của con cháu đối với tiền nhân. Gia chủ cúng dâng các thứ cho gia tiên, tiền chủ, thần linh, hộ pháp nhưng đồng thời cũng là thể hiện việc tuân thủ quy luật âm – dương của vũ trụ và thế giới tâm linh.

Cuộc sống nay, tùy từng điều kiện mà chúng ta sử dụng những đồ thờ cúng khác nhau. Tuy nhiên, một bàn thờ đảm bảo sự hài hòa của cả 5 yếu tố ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ như trên sẽ có tác dụng phong thủy trong việc kích hoạt tài lộc phát triển và quan trọng nhất là việc an định tinh thần cho con cháu trong nhà yên tâm, phấn chấn lao động, sản xuất, kinh doanh và học tập, công tác.

(Nguồn: Yếu tố phong thủy trong bài trí bàn thờ gia tiên và vật phẩm dâng cúng ngày Tết./Phạm Văn Thi, Hội Văn hóa Dân gian Hải Phòng//Tạp chí Khoa học & Kinh tế Hải Phòng. – Số Tết Kỷ hợi 2019; Tr. 29-31)

Video Tổng Hợp

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay84
mod_vvisit_counterHôm qua85
mod_vvisit_counterTất cả94296