Những dấu ấn lịch sử vàng son của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng

alt

Thượng toạ Thích Thanh Giác

(Uỷ viên HĐTS- Phó Trưởng ban Thường trực Ban Hoằng pháp TƯGHPGVN

Phó trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN thành phố Hải Phòng)

- Cách đây 710 năm ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16, đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn tại Am Ngoạ Vân, trên non thiêng Yên Tử, thọ 51 tuổi. Ngài là vị vua thứ ba của triều Trần (1225-1400) đầy hiển hách. Trong suốt 15 năm trị vì đất nước (1278-1293). Hoàng đề Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278) Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284). Trùng hưng (1285-1293). Năm 1293 Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, nhưng Ngài vẫn chỉ đạo và giám sát nhà vua. Vốn sùng kính Đạo Phật từ nhỏ. Năm 1295 Ngài đã đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc thôn Vũ Lâm xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) tập sự xuất gia (1). Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299) năm 41 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được Quốc sư Huệ Tuệ thọ giới lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài được nhận là người truyền thừa chính thức của thiền phái Yên Tử thuộc thế hệ thứ sáu sau Thiền sư Huệ Tuệ. Việc xuất gia lần này của Trần Nhân Tông đã tạo lên một sự chấn động lớn, một sự bàng hoàng trong dân chúng, bởi đây là hiện tượng có một không hai, không chỉ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới. Tiếp đó Ngài đã thu nhận Đồng Kiên Cương (Pháp Loa) và Huyền Quang... làm đệ tử. Trước khi viên tịch, Ngài truyền y bát cho Pháp Loa làm Đệ Nhị Tổ. Pháp Loa truyền y bát cho Huyền Quang thuộc thế hệ thứ ba. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được hậu thế tôn vinh là “Trúc Lâm Tam Tổ”. Do uy tín, đức độ, trí tuệ siêu việt của Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã quy tụ được các tông phái Phật giáo Đại Việt thời bấy giờ thành một tổ chức Phật giáo thống nhất.

- Sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với dân tộc nổi trội trên ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước. Trên cả ba lĩnh vực, Ngài đã có những đóng góp hết sức đặc biệt. Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới một người như Phật hoàng Trần Nhân Tông hiếm thấy xuất hiện. Dưới sự lãnh đạo tối cao của Ngài, dân tộc ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (1285 và 1287 - 1288) giữ vững nền tự chủ đất nước trước tham vọng xâm lăng của đế chế Nguyên Mông, một đế chế hung hãn nhất thời đại hầu như chưa chùn bước trước bất cứ một đối thủ nào ở cả hai lục địa Á - Âu. Đơn cử như trên đất Hải Phòng; khi Ngài còn làm tổng chỉ huy đích thân xông pha trận mạc chống giặc Nguyên Mông xâm lược, Ngài và quân đội nhà Trần đã nhiều lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân và Tăng Ny Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển sông Bạch Đằng. Giữa lúc nguy khốn nhất bị giặc baoo vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trần Lịa người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo xấu, dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người bí mất đưa Ngài và Thượng hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phân công chiến lược. Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ). Chùa Vẽ (Linh Hoa Tự) ở làng Đoạn Xá giúp đỡ việc quân lương. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sỹ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288. Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Đặc biệt là các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở huyện Thái Thuỵ, tức cung điện dã ngoại (gọi là Cung Trần Vương) của vua Trần Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hoá đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo.

- Đề cập tới động cơ tu hành của Điều Ngự Giác Hoàng đệ nhất Tổ Trúc Lâm, không thể không nhắc đến vai trò ảnh hưởng to lớn của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đạo hiệu Tuệ Trung Thượng Sỹ. Sách Tam Tổ Thực lục chép rằng: “Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thu lượm được nhiều tinh hoa của Đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung làm thấy”. Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (mẹ của Trần Nhân Tông). Trần Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã nhiều lần làm sứ giả đến trại giặc đề nghị hoà và thám thính ở Tổng hành dinh Thoát Hoan. Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ động “Toàn dân duy binh, tông tử duy thành” (Toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là pháp cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên rậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên Mông (từng được cử làm Phó tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc Công Tiết chế Trần Hưng Đạo đâm trách), nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đã được vua Trần giao trấn thủ miền biên ải Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Trước đó Hưng Ninh Vương Trần Quốc Rung được ban thái ấp Vạn Niên, hiện chưa xác định được địa điểm cụ thể. Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, có lẽ ấp Vạn Niên gần ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo. Ở vùng Dưỡng Chính xã Chính Mỹ của Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung. Các bậc cao niên địa phương giải thích về tên làng Dưỡng Chân vốn được bắt nguồn từ sự kiện đạo quân của nhà Trần, trong 1 lần hối hả hành quân ra vùng cửa biển để xây dựng thế trận Bạch Đằng năm 1288 đã dừng chân nghỉ đêm tại đây. Tịnh thất này nằm trên địa bàn ấp Thang Mộc An Sinh, An Phụ, An Dưỡng, An Bang của An Sinh vương Trần Liễu được cấp sau vụ ông gây bạo loạn “Sông Cái” cuối năm 1236. Tương truyền có lúc hai đức vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã họp bàn kế sách chống giặc với các thân vương, cũng như tham vấn ý kiến của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung tại tịnh thất này. Do có nhiều công lao lớn, nên Hưng Binh vương Trần Quốc Tung được vua Trần ban cho đất đai thực ấp ở làng Dưỡng Chân (sau đổi thành Dưỡng Chính) ở huyện Thuỷ Đường, nay là xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vẫn còn vết tích tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sỹ.

- Ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm bắt nguồn từ mối quan hệ thân tộc giữa Tuệ Trung Thượng Sỹ với đức vua Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã từng được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi bằng Sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho Ngài dạy dỗ. Như chúng ta đã biết Trần Nhân Tông tìm đến Đạo Phật không chỉ với mục đích “Độ” cho mình thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, mà còn tìm những điều giải đáp cho hàng loạt câu hỏi lớn: Con người là ai? Thế giới này có hay không? Thật hay ảo? Vấn đề sinh tử? Sắc không? Việc xuất gia tu hành của Ngài không chỉ đơn thuần giải thoát cho cá nhân mà cả dân tộc. Ngài chủ trương rằng: “Thông qua giáo lý của Đạo Phật để nuôi tâm đạo đức, dạy trí làm người, bồi đắp tinh thần độc lập tự cường, phát huy sự hoà thuận trong nhân tâm trăm họ, tạo ra sự hoà hợp quốc gia, hoà hợp vua tôi, hoà hợp cha con, hoà hợp vợ chồng, hoà hợp gia đình xã hội  tạo cội rễ sức mạnh lâu bền cho quốc gia Đại Việt”. Chính từ động luwcju ấy đã thôi thúc Ngài thực hiện thành công rực rỡ sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Đó chính là tư tưởng chủ đạo vĩ đại nhất trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Ngài.

- Được kế thừa những tinh hoa tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng Sỹ với hai vấn đề cơ bản “Phật tức tâm” và “Lý không” được cô đọng khúc triết trong Cư Trần Lạc Đạo phú (2) bằng chữ Nôm của Ngài.

Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bổn (3)

Ta nên tìm Phật

(Hội thứ 5 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Hay:

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền

(Bài kệ Hội thứ 10 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Và trong bài kệ trả lời Pháp Loa:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thụ đảo,

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng cầu ký não.

Ngài thể hiện rõ ràng lập trường “Lý bất nhị” đập tan thuyết Lưỡng nguyên “Có có - không không” gạt bỏ thuyết đối lập giữa Niết Bàn và sinh tử, chúng sinh và Phật. Theo Ngài “có có – không không” mà cũng chẳng không, chẳng có. Vì các mặt của sự vật quyện chặt vào nhau như dây bìm bìm quấn vào cây.

Thử hữu cố bi hữu

Thử vô cố bỉ vô

Thử sinh cố bi sinh

Thử diệt cố bỉ diệt

Tạm dịch:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì các kia không

Cái này sinh thì cái kia sinh

Cái này diệt thì cái kia diệt

Với cái nhìn phóng khoáng, không bị ràng buộc câu thúc về đạo hay đời. Đạo và đời tuy hai mà một, hoà quyện vào nhau như nước với sữa. Đó là tư tưởng “Tuỳ tục”, “Hoà quang đồng trần”, cùng là kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời hành đạo của Ngài và để lại cho muôn đời sau. Trúc Lâm cũng như Trần Thái Tông rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức thực hiện sự giải thoát, đạt đạo. Ngài đã tận dụng thời gian trong mọi hành động, cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán thiền đạo, không để cho nó trôi qua một cách vô ích, qua bài kệ:

Thân như hơi thở qua buồng phổi

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa

Chim quyên kêu rõ bao ngày tháng

Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (4)

Về sự nghiệp hoằng pháp của Ngài. Sử liệu có ghi: Năm 1034 Ngài chủ trương mở rộng công cuộc giáo hoá, bằng việc “Vân du” khắp nơi, đến tận những vùng quê xa xôi hẻo lánh, để vận động nhân dân xoá bỏ dâm từ (những nơi thờ tự các thần loã thể và sinh thực khí), dạy cho dân biết sống và thực hành giáo lý “Thập thiện” (không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, không tham dục, không sân khuể, không tà kiến). Thủ pháp giáo hoá của Ngài tuy thật đơn giản, nhưng lại trúng với tâm Phật và lòng dân. Bởi cỗi gốc khổ đau hay an lạc của con người đều bắt nguồn từ ba nghiệp thân khẩu ý.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh,

Thanh tịnh, không thanh tịnh

Không ai thanh tịnh ai

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Tự ngã thứ 12)

“Giáo lý nhập thế căn bản của Đạo Phật, đặt trên nền tảng ba nghiệp: Thân – Khẩu - Ý của con người. Từ ba nghiệp tạo lên một mẫu người đạo đức lý tưởng và hài hoà, những con người ấy sẽ tạo thành một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ được những tệ nạn tràn lan. Việc làm của ông phản ánh nguyện vọng của dòng thiền Trúc Lâm muốn xây dựng 1 xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, nhà vua và hoàng tộc đều là Phật tử tại gia và xuất gia, và các dòng phái Phật giáo bấy giờ hội tụ thống nhất trong dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sự kiện này là đỉnh cao của Phật giáo thời Trần. Do vậy vua Trần Nhân Tông còn được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng” (5)

Nhận định về sự nghiệp hoằng pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhà sử học nổi tigến Lê Mạnh Thát đã nhận xét: “Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện để dạy dân chúng, rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt Nam, mà trước đó hơn ngàn năm đã được thi vào trong Kinh Lục Độ tập. Bản kinh này có thể nói là một bài kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tập hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện để làm “Pháp luật quốc gia” (Pháp quốc) làm “Chính sách quốc gia” (Quốc chính) và đây cũng là lần đầu tiên ta thấy Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này” (6)

- Bài pháp vi diệu này cũng là bức thông điệp tâm linh đã lan toả khắp đất Việt, đặc biệt là xứ Đoài xứ Đông, trong đó có Hải Phòng. Tiêu biểu như chùa Phúc Lâm (Dư Hàng), chùa Nguyệt Quang (Đông Khê), chùa Hàm Long, chùa Thiên Vũ, chùa Linh Sơn (Mỹ Cụ), chùa Vẽ (Hoa Linh Tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bản... Trong đó đáng chú ý là công chúa Thiên Thuỵ chị gái của vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang đắp đê ngăn nước mặn mở mang nhiều làng xã ở Kiến Thuỵ và An Lão Hải Phòng ngày nay. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (tức công chúa Quỳnh Trân đạo hiệu là Đại uy Thiên Thánh) đã cho dựng ngôi chùa ở trang ấp Nghi Dương (xã Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ) gọi là chùa Mõ (còn gọi là chùa Nghi Dương). Điều Ngự Giác Hoàng đã nhiều lần về vùng đất này hoằng dương Phật pháp và tới chùa Mõ. Tục truyền, trước khi viên tịch vài ngày, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã về chùa Mõ thăm chị ốm nặng và sau đó công chúa Thiên Thuỵ thác hoá trước Ngài một ngày. Một người chị khác nữa của Ngài là công chúa Chiêu Chinh, cũng bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, đúc chuông, tô tượng, mở chợ bến đò và khai hoang ở vùng đất vẹn sông Lạch Tray (quận Kiến An ngày nay). Theo Ngọc phả đền Kha Lâm: Bà đã để lại cho dân làng 171 mẫu ruộng. Công chúa Chiêu Hoa con vua Trần Thánh Tông cùng chồng là Thái học sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến An) đã dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn, làng Tiểu Trà được nhân dân rất sùng kính. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương toàn hạt dư địa chí, Mục từ miếu huyện Tiên Minh chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua để đi tu ở Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước. Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là “Diên Lão”, lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lá thì rước về thờ sẽ được ch chở. Khi Nhâ Tông nằm trên phiến đá thác hoá, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông, nhớ lời dặn bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông Từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông) rất linh ứng, hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”. Đó là những dấu ấn lịch sử vàng son vô cùng thiêng liêng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng.

- Tóm lại: Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là 1 vị vua anh hùng, là vua Phật của Việt Nam, một con người nhân hậu, một thiền sư yên bác năng động. Nói cho đủ hơn, con người Đức vua Trần Nhân Tông là 1 tổng hợp uyển chuyển của các tác phẩm bậc “Trí sỹ”, tư tưởng của Ngài thể hiện tính nhất quán giữa đạo và đời, xuất thế và nhập thế không ngăn ngại. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác...”. Tư tưởng ấy thuộc về Phật giáo Đại thừa, mà các Đại sỹ Bồ tát đã thể hiện trong các kinh: Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Địa Tạng v.v... với chủ trương “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh”.

- Tư tưởng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông không chỉ dừng ở thành tựu thế tục “Dĩ nhân tâm vi kỳ tâm” để đạt cho được mục đích tối hậu “Non sông muôn thuở vững âu vàng”, mà nó còn vươn tới tầm cao hơn, xa hơn, siêu việt hơn. Đó là thủ pháp sử dụng giáo lý Đạo Phật để tịnh hoá con người và xã hội. Cụ thể là đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của tất cả mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ngoài đời, miền là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏ những hủ tục mê tín, thực hành giáo lý Thập thiện, nhằm xây dựng một mẫu người tốt, gia đình tốt, xã hội tốt, đất nước tốt, tràn đầy an vui hạnh phúc. Tư tưởng ấy đã lan toả toàn cõi Việt, trong đó có Hải Phòng chúng ta ngày nay được thừa hưởng những tinh hoa giá trị ấy.

- Với những thắng duyên ấy, người dân Hải Phòng nói chung và Tăng Ny Phật tử Hải Phòng nói riêng phải chung sức đồng lòng giữ gìn và phát huy làm sao cho thật xứng đáng: “Hải Phòng nơi dấu ấn lịch sử vàng son của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông” ngày càng rực sáng.

TTG

(1) Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo sử luận - Nhà xuất bản Lá Bối - Paris. Tr.335

(2) Cư Trần Lạc Đạo phú - Lê Mạnh Thát, Sđd. Tr.400-418.

(3) Khuấy bồn: Quên gốc

(4) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sđd, tr. 374

(5) Phạm Thế Dương, Sđd, tr. 49-58

(6) Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.208

CLB Hải Phòng học tọa đàm tại Di tích lịch sử cách mạng số 49 phố Lạch Tray

Sáng ngày 27/4/2018 theo lịch hẹn trước với họa sĩ Nguyễn Thị Sơn Trúc (con gái nhà tư sản yêu nước Nguyễn Sơn Hà) - người đang trông coi ngôi biệt thự cũ của gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà ở số 49 phố Lạch Tray, TP Hải Phòng, câu lạc bộ (CLB) Hải Phòng học đã có chương trình tọa đàm về địa chỉ đỏ này. Cuộc tọa đàm nhằm đề xuất phương án lưu giữ, tu tạo cảnh quan ngôi biệt thự của doanh nhân Nguyễn Sơn Hà để nó trở thành di tích lịch sử đẹp và là nơi tham quan của du khách khi đến với Hải Phòng, đồng thời giáo dục lòng yêu nước trong nhân dân.

alt

Ngày 2-4-2010 ngôi nhà 3 tầng ở số 49 Lạch Tray được công nhận là di lích lịch sử cấp thành phố. Theo họa sĩ Nguyễn Sơn Trúc - con gái thứ 9 của cụ Nguyễn Sơn Hà, ngôi nhà được xây dựng từ năm 1939 với sự thiết kế của kiến trúc sư Phạm Bá Chi và từng được tặng giải nhất cuộc thi thiết kế biệt thự Đông Dương thời Pháp thuộc. Ngôi biệt thư xưa là một quần thể nhà ở, vườn hoa, bể bơi đẹp. Rất tiếc, thời gian và hoàn cảnh lịch sử đã làm biến dạng khu biệt thự của nhà tư sản yêu nước Nguyễn Sơn Hà, bể bơi, vườn hoa nay không còn nữa, ngôi nhà cũng xuống cấp nhiều và bị vây lấn bởi các khối khách sạn, nhà dân.

Gian chính biệt thự tại tầng 2 là nơi thờ tự của gia đình với đôi câu đối do nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu tặng doanh nhân Nguyễn Sơn Hà với nội dung: “Hóa học bác âu trường tô điểm sơn hà tâm hữu tất/ Công khoa tồn việt chủng chuyển di thời thế thủ vi cơ”. Nghĩa là: Lấy hóa học của người Âu tô điểm cho núi sông bởi lòng son sẵn có/ Công nghệ và khoa học thay đổi thời thế do trí tuệ làm nên. Hiện trên tường có treo 3 bức ảnh kỷ niệm: bên phải là doanh nhân Nguyễn Sơn Hà, bên trái là bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi (vợ thứ của doanh nhân) và bức ảnh chính giữa là nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu chụp kỷ niệm với bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi. Bức ảnh do chính doanh nhân Nguyễn Sơn Hà bấm máy. Tại tầng 2 ngôi nhà còn lưu giữ nhiều bức ảnh, tư liệu, kỷ vật của gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà qua các thời kỳ; các bài báo viết về những đóng góp của cụ Nguyễn Sơn Hà cho Cách mạng Việt Nam.

Tại ngôi nhà này từng diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, đón tiếp có ý nghĩa lịch sử. Đó là nơi Trung tướng Nguyễn Bình- Chỉ huy Chiến khu Đông Triều tới liên hệ, nhận sự giúp đỡ tài chính cho phong trào cách mạng; nơi nấu và phát cháo cứu đói cho đồng bào trong  nạn đói năm Ất Dậu 1945. Căn nhà cũng được Bác Hồ đề nghị ông Nguyễn Sơn Hà giúp làm nơi đón tiếp ông Tutenge – phái viên Chính phủ Pháp đưa Bác Hồ từ hội nghị Phông-ten-nơ-blô về nước tháng 10 năm 1946…

Với tài năng và uy tín của mình, cụ Nguyễn Sơn Hà từng được bầu là Phó Thị trưởng thành phố Hải Phòng thời Pháp tạm chiếm và sau khi cách mạng thành công (năm 1946) cụ liên tiếp được nhân dân tín nhiệm bầu là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI. Năm 1986 cụ từ trần.

Tham dự cuộc tọa đàm có Ban VHXH Đài PTTH Hải Phòng ghi hình, phỏng vấn để phát sóng trên chương trình thời sự của Đài PTTH Hải Phòng. Phóng viên đã tiến hành phỏng vấn ông Nguyễn Khắc Phòng – nguyên Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, người am hiểu nhiều về ngôi nhà lịch sử này và về những đóng góp của gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đồng thời hỏi bà Nguyễn Sơn Trúc – con gái cụ Nguyễn Sơn Hà về những ký ức xưa và nguyện vọng của gia đình.

Theo bà Nguyễn Sơn Trúc, các thành viên trong gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà đều mong muốn tu bổ căn nhà cho đẹp như xưa, phục dựng lại cảnh quan biệt thự như nó vốn có và giữ nguyên trạng để nơi đây trở thành địa chỉ đỏ, cung cấp cho các thế hệ trẻ những tư liệu quý về một nhân vật lịch sử của thành phố đã có nhiều đóng góp quý báu cho cách mạng Việt Nam.

Phạm Văn Thi.

Năm năm hoạt động của CLB Hải Phòng học

Tính đến ngày 5-8-2017 này (ngày thành lập), Câu lạc bộ (CLB) Hải Phòng học đã sinh hoạt được tròn 5 năm. Tới thời điểm này, CLB đã có trên 70 hội viên, là những cán bộ hoạt động trong mọi lĩnh vực, từ văn hóa xã hội đến khoa học kỹ thuật, đã nghỉ hưu. Với nguồn lực phong phú ấy, CLB đã thu được những kết quả đáng tự hào trong hoạt động.

Đã có tới trên 200 bài nghiên cứu, sưu tầm của các hội viên được đăng tải trên trang webblogs của CLB. Trong đó, về Dư địa chí có 55 bài, danh nhân Hải Phòng: 24 bài, lịch sử các địa phương thuộc Hải Phòng: 63 bài, kinh tế: 15 bài, văn hóa và tôn giáo: 22 bài. Hàng vạn độc giả đã đọc và đánh giá cao những thông tin, hình ảnh được giới thiệu, trong đó có rất nhiều những độc giả đang sinh sống trên khắp thế giới.

alt

Trong 5 năm qua, CLB đã tổ chức được hàng chục buổi sinh hoạt chuyên đề khoa học thiết thực và bổ ích. Mời được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu có uy tín như GS. Vũ Minh Giang, GS. Hồ Ngọc Đại, GS. Nguyễn Lân Dũng, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải... nói chuyện về các chuyên đề khoa học thiết thực. Ngoài ra, ngay trong CLB, các hội viên cũng luôn chủ động báo cáo những chuyên đề theo thế mạnh của từng người như: Tiến sĩ Lã Trọng Long trình bày về vấn đề sinh học, ứng dụng sinh học trong cuộc sống; PGS. TS Trần Đức Thạnh trình bày về Biển và Khoa học biển. Thượng tọa Thích Thanh Giác trình bày về Thơ Thiền, hướng dẫn thủ tục thờ cúng gia tiên, thủ tục lên chùa thắp nhang cúng Phật: Kỹ sư Nông học, nhà văn Đinh Quyền trình bầy về vấn đề lúa gạo và nhu cầu lương thực của nhân loại trong tương lai; Kỹ sư Trịnh Hoãn thuyết trình về tình hình sông ngòi và thủy điện Việt Nam; Bác sĩ Lê Trung Dũng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt-Tiệp nói về Sức khỏe người cao tuổi, phương pháp phòng, chữa bệnh cho người cao tuổi. Nhà Sưu tầm Phạm Tuệ trình chiếu và thuyết minh hàng trăm tấm ảnh về thành phố Hải Phòng từ ngày mới phôi thai. Cứ nhân Vũ Đình Mai giới thiệu cuốn sách rất nổi tiếng “Lưới trời ai dệt” của Ts. Nguyễn Tường Bách - nhà nghiên cứu Phật giáo ….

Ngoài ra, CLB còn tự tổ chức hoặc kết hợp với các đơn vị khác tổ chức nhiều cuộc tọa đàm và hội thảo khoa học về các lĩnh vực liên quan đến kinh tế, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn Hải Phòng; Tham gia những cuộc Hội thảo lớn như: “Di sản Văn hóa Phật giáo xứ Đông”, “Chùa Mét, những giá trị lịch sử và văn hóa”, về chùa Đót Sơn, về Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các danh nhân văn hóa khác…

Song song với việc tổ chức các buổi nói chuyện khoa học, văn hóa, CLB còn coi trọng việc tổ chức các chuyến đi điền dã kết hợp với du lịch như chuyến đi về các vùng Nữ tướng Lê Chân hoạt động dưới cở khởi nghĩa của Hai bà Trưng (từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, sang cả Quảng Tây Trung Quốc). Qua chuyến điền dã này, các thành viên CLB càng thấy được công lao to lớn của Nữ tướng Lê Chân, không chỉ đối với Hải Phòng mà đối với cả nền độc lập của đất nước. Qua đó, CLB đã cùng với các đơn vị liên quan kiến nghj Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch nâng cấp Lễ hội nữ tướng Lê Chân thành Lễ hội cấp Quốc gia. Đặc biệt có những chuyến đi dài ngày, xuyên Việt, sang Căm Pu Chia, đến tận hai ngôi đền lớn Ăng Co Thom và Ăng Co Vát. Xuống tận cùng phía tây nam của đất nước Chùa tháp và nhiều chuyến đi khác. Qua những chuyến đi này, ai cũng thấy tầm hiểu biết của mình được mở rộng. Mỗi chuyến đi là một chuyến khám phá mới, tích lũy kiến thức mới.

Là thành viên của Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, CLB đã tham gia tổ chức các hoạt động từ thiện như tặng phần thưởng cho các học sinh giỏi môn Lịch sử tại các quận, huyện: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Lê Chân, Thủy Nguyên…Tặng quà đồng bào bị lũ lụt tại huyện Cát Hải trị giá hàng trăm triệu đồng.

Câu lạc bộ Hải Phòng học còn là đơn vị có nhiều ý kiến xác đáng, phản biện cho các dự thảo văn kiện của Hội đồng Nhân dân thành phố trước các kỳ họp. Điển hình trong số đó có: Tiến sĩ Lã Trọng Long, Kỹ sư Đinh Quyền, Bác sĩ Lê Trung Dũng, Kỹ sư Trịnh Hoãn…

Hiện tại CLB có hàng ngàn cuốn sách, không chỉ phục vụ các hội viên mà còn cho nhiều đối tượng khác, trong đó có những nghiên cứu sinh đến tham khảo làm luận văn cao học.

Khoảng thời gian 5 năm chưa phải là dài, nhưng nhìn lại những hoạt động vừa qua của CLB mọi thành viên đều cảm thấy khá hài lòng. Mong rằng, với tình yêu quê hương, với năng lực tri thức của mình, các thành viên CLB sẽ có nhiều đóng góp hơn nữa việc nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật…của thành phố Cảng thân yêu.

Ths. Vũ Minh Đức

(Phó Chủ nhiệm TT CLB Hải Phòng học)

Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Mạc

alt

Phật giáo Việt Nam từng có giai đoạn phát triển cực thịnh khi đạo Phật trở thành Quốc giáo (triều tiền Lê, triều Lý) và có những Quốc sư như Pháp Thuận, Ngô Khuông Việt và Minh Không mà nhà Vua cũng phải kính trọng và tham vấn việc trị quốc, an dân. Do nhiều nguyên nhân, dần dần đạo Phật suy giảm vị thế và đến khi nhà Hồ (Hồ Quý Ly) thay thế nhà Trần rồi nước ta bị nhà Minh đô hộ thì đạo Phật không còn vị trí đáng kể trong xã hội Đại Việt.

Kể từ khi Lê Hoàn lên ngôi năm 980 mở đầu cho thời kỳ đạo Phật thịnh và đến năm 1407 khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ để thống trị nước ta và thi hành âm mưu đồng hóa Văn hóa Việt thì phật giáo suy vi.

Giai đoạn cuối thời Hậu Lê khi triều chính suy đồi, kỷ cương hỗn loạn, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi với một số lãnh tụ cát cứ các địa phương thì Vua cũng trở lên bất lực không duy trì được vai trò trị quốc. Trong tình hình ấy, với thế lực mạnh và thực quyền của mình, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, lập lên nhà Mạc (tháng 6 năm 1527).

Trong 65 năm tồn tại chính thức (1527-1592) khi định đô ở Thăng Long và xây dựng Dương Kinh (xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy nay) quê hương mình làm kinh đô thứ hai, nhà Mạc đã thực thi một số chính sách thúc đẩy kinh tế, thương mại, mỹ thuật dân tộc, kích thích Phật giáo và nhất là mở mang thi cử tuyển chọn nhân tài giúp nước.

Triều Mạc tuy trị vì ngắn ngủi nhưng cũng mang lại cho đất nước bước khởi sắc về trật tự xã hội, kinh tế và văn hóa trong đó có việc chấn hưng Phật giáo.

Nhà Mạc không ban hành chính sách cụ thể về tôn giáo tín ngưỡng nhưng dựa trên những việc làm thực tế của vua quan, các thành viên hoàng tộc trong việc cúng tiền, tặng đất hưng công, xây dựng chùa chiền, tạc tượng chứng tỏ triều đại này rất quan tâm tới việc phát triển đạo Phật.

Ngay sau khi nắm quyền, Mạc Đăng Dung đã cho sửa sang lăng miếu của vua Lê ở Nam Kinh và định kỳ cúng tế. Có quan điểm cho việc làm này chỉ là mị dân, che mắt thế gian, mong yên lòng người, tránh sự phản kháng của quần thần nhà Lê. Nhưng đánh giá như vậy có thật khách quan không? Nếu Mạc Đăng Dung không phải người nhân đức trung nghĩa thì sao lại làm vậy? Lịch sử Việt Nam đâu phải không có chuyện, để độc bá thiên hạ, các triều đại sau đã triệt phá dấu tích của các vương triều trước. Nên xem việc duy trì lễ cúng tế tông miếu nhà Lê của Mạc Đăng Dung không phải chỉ để tri ân một triều đại đối với đất nước. Lớn hơn thế, việc ông làm là để tôn vinh công trạng của nhà Lê với lịch sử dân tộc trong quan điểm “uống nước nhớ nguồn”.

Tiếp đó Mạc Đăng Dung lệnh cho trưởng thái giám hiệu Thụy Trúc thiền sư xây dựng chùa bà Đanh (chùa Thiên Phúc) ở Kiến Thụy - Hải Phòng. Có thể coi việc làm này là sự mở đầu cho công cuộc sửa sang, xây dựng lại những ngôi chùa đã bị phá bỏ trong thời kỳ thuộc Minh và lãng quên bởi nhà Lê sơ, tạo tiền đề cho sự phát triển của đạo Phật. Tư liệu văn bia thời Mạc là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ trở lại của đạo phật. Trong số 146 bia thời Mạc còn lại tới nay có tới 109 bia chùa với nội dung về ruộng đất chùa, việc xây dựng và người hưng công.

Đi tiên phong cho việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông là các thành viên của hoàng tộc nhà Mạc, tiếp đó là những người hiển danh có điều kiện kinh tế, cuối cùng là nhân dân địa phương. Theo tư liệu văn bia, có hàng trăm thành viên trong hoàng tộc và các đại thần của triều đình tham gia tu bổ và xây chùa phật.

Trong số những thành viên của hoàng tộc cung tiến tiền của xây dựng chùa trước hết phải kể đến các vị đương kim hoàng thượng như: Mạc Phúc Nguyên, đã ban “Cấm tiền” cho chùa Linh Cảm (Từ Sơn – Bắc Ninh, năm 1557), Mạc Mậu Hợp cúng 20 lạng bạc vào chùa Hoa Tân (Hải Phòng, năm 1582). Đặc biệt, Thài Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng bạc tiền cho trên chục ngôi chùa ở khu vực Dương Kinh (Kiến Thụy nay) và vùng phụ cận. Do công đức xây chùa, bà được dân gian tôn phong là “mẫu nghi thiên hạ, là Phật sống trên trần gian”. Chính vì lẽ đó bà Thái Hoàng Thái Hậu được dân làng nhiều nơi tạc tượng thờ còn để lại đến ngày nay ở một số chùa thành phố Hải Phòng.

Vị Thái hoàng Thái Hậu này còn tham gia xây chùa Thiên Phúc (như đã nói ở trên) cùng các thành viên hoàng tộc khác như: Hoàng Thái Hậu họ Phan, Khiêm Thái Vương họ Mạc, Tĩnh Quốc Thái phu nhân họ Nguyễn, Tu Hòa Thái Trưởng công chúa họ Mạc, Bảo Gia thái trưởng công chúa họ Mạc, Phúc Thành thái Trưởng công chúa họ Mạc, Khiêm Thái Vương phi họ Mạc,…..Tổng cộng 33 người. Đặc biệt bà Quận công Mạc Ngọc Liễn và Phúc Thành Thái trưởng công chúa tham gia xây dựng hàng chục ngôi chùa, quán, trong đó có Ninh Tiên. Tình cảm và niềm tin tôn giáo khiến họ trở thành tín đồ có pháp danh: Đức Quảng (Mạc Ngọc Liễn) và Từ Đức (phúc Thành) như nhà tu hành thực thụ. Các thành viên trong hoàng tộc đã công đức xây khoảng 80/168 ngôi chùa được xây dựng thời kỳ này.

Sự hưng khởi của đạo Phật vào thời nhà Mạc còn thể hiện ở chính sách ruộng đất. Nhà nước cho phép cá nhân cúng ruộng vào chùa dưới dạng làm công đức và đặt hậu. Chính vì vậy, dưới thời Mạc hầu như chùa nào cũng có ruộng, trong đó nhiều chùa có số ruộng lớn hàng chục mẫu như: chùa Pháp Vũ (Thường Tín – Hà Nội) 70 mẫu, chùa Hoa Tân (Hải Phòng) 50 mẫu, chùa Nghiêm Quang ( Hải Phòng) 31 mẫu, chùa Thiên Phúc (Hải Phòng) 25 mẫu 1 sào 2 thước.

Còn ở những nơi xa kinh kỳ như Ninh Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, việc xây dựng chùa đều do các quan địa phương khởi xướng với sự tham gia đóng góp của nhân dân trong làng xã.

Vào thế kỷ XVI, trong phạm vi kiểm soát của Bắc triều (Triều Mạc làm chủ từ vùng đất Ninh Bình trở ra Bắc), Phật giáo lại có điều kiện hưng khởi. Khắp vùng Hải Dương, An Bang, Sơn Tây, Kinh Bắc chùa chiền mọc lên khá nhiều. các chùa Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu thuộc Kinh Bắc đã được trùng tu. Trên đất Hải Dương các chùa Quỳnh Lâm, Sùng Quang, Đông Sơn được tu bổ lại to lớn, đẹp đẽ hơn.

Tư liệu về mỹ thuật đời mạc đến nay rất nghèo nàn vì chiến tranh và sự trả thù, thủ tiêu của tập đoàn Lê-Trịnh:

Năm 1592 khi truy kích quân Mạc ở huyện Thanh Hà thì nhà cửa tại các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn bị quân Lê-Trịnh đốt cháy gần hết.

Khi Chúa Trịnh giúp vua Lê khôi phục kinh sư đã đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai Hải Phòng, hủy bia đá ở mộ các thân vương nhà Mạc, chặt hết cây trồng trong lăng.

Tuy nhiên nhân dân nhiều nơi, nhất là người xứ Đông (gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình) vốn rất cảm tình với nhà Mạc đã gìn giữ được một số di vật quý giá mà từ trước năm 1945 ta đã biết là các bia đá và chân đèn gốm khắc rõ các niên hiệu thời Mạc, sau đó lại biết tượng Mạc Đăng Dung và bà bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản (vợ Mạc Đăng Dung) ở chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy, Hải Phòng); Tượng Mạc Đôn Nhượng ở chùa Phúc Linh (thôn Nhân Trai, xã Đại Hà, Kiến Thụy).

Năm 1987 pho tượng Đức Vua (nhà Mạc) bằng đá ở chùa Hưng Khánh, thôn Trung Hành, xã Đằng Lâm (nay thuộc quận Hải An, Hải Phòng) được hai nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Hạnh và Nguyễn Anh Tuấn đoán định thuộc thời Mạc.

Năm 1992, Viện Mỹ thuật đã trở lại 3 ngôi chùa trên để thẩm định phong cách và tìm hiểu những văn tự bổ trợ góp phần làm rõ niên đại và nhân thân tượng.

Ở chùa Thiên Phúc, tượng bà Vũ Thị Ngọc Toản ở trong vòm có 2 chữ Động Phủ, phía nam có 2 dòng chữ “trung nguyên tân hội niên tứ nguyệt sơ nhất nhật” “Tăng Phúc Huyền phụng hoành” cho biết tượng được làm từ năm 1551 do nhà sư Phúc Huyền tổ chức làm. Còn tượng Đức Vua ở chùa Hưng Khánh tìm được dòng chữ “Quý mùi niên, Trung Hành xã. Phù Đông Hầu tạo - Kính chủ xa – Ngũ nhân tạo” cho biết niên đại của tượng là 1583, do ông Phù Đông, tước hầu ở xã Trung Hành đặt làm (hay tạc tượng mẫu), còn tạc trực tiếp là 5 người thợ ở xã Kính Chủ.

Trở lại chùa Phúc Linh, pho tượng đá cho là của Mạc Đôn Nhượng có tước hiệu là Khiêm Vương. Nhưng Khiêm Vương lại là tước hiệu của Mạc Kính Điển còn tước hiệu của Mạc Đôn Nhượng là Ứng Vương. Vả lại pho tượng lại có dáng hình giống như tượng Đức Vua (Thái tổ Mạc Đăng Dung) ở chùa Hưng Khánh đã nói ở trên và chùa Bạch Đa và chùa Đại Linh dưới đây. Ngoài ra ở chùa Phúc Linh còn có pho tượng gỗ Ông Thiện có dáng dấp chung gợi nhớ tượng Mạc Đăng Dung ở chùa Thiên Phúc (Trà Phương). Phải chăng pho tượng đá ở đây cũng là Đức Vua (Mạc Đăng Dung) như ở chùa Hưng Khánh, còn pho tượng gỗ mới là Mạc Đôn Nhượng.

Chùa Phúc Hải (xã Đa Phúc) có pho tượng đá đức vua to bằng người thực, đội mũ bình thiên, áo hoàng bào, cầm hốt, ngồi ngai, tạc năm 1580. Chùa Đại Linh (thôn Đại Trà, xã Đông Phương, Kiến Thụy) có hai pho tượng đá là Đức Vua và Quan âm tọa sơn, tạc năm 1570. Chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu) có khá nhiều tượng đá có thể thuộc thời Mạc. Bên cạnh bộ tượng Tam Thế phải kể đến hai tượng Ông Hoàng được tạo hình mang dáng dấp tượng Đức Vua ở các chùa

trên, chỉ khác là ngồi bục chứ không ngồi ngai.

Có thể thống kê được 7 pho tượng Đức Vua ở Hải Phòng được cho là vua Mạc (Mạc Đăng Dung hoặc Mạc Mậu Hợp). Hai vị vua này để lại dấu ấn trong dân gian vì Thái tổ Mạc Đăng Dung có công lập lên triều Mạc, còn Mạc Mậu Hợp là người giữ ngai vàng lâu nhất (1562-1592)

Chùa Minh Phúc (Thôn Minh Thị - Xã Toàn Thắng - Huyện Tiên Lãng) cũng có tượng bà Hoàng Thái Hậu Vũ Thị (Bà Hoàng Thái Hậu có tên là Vũ Thị Quỳnh là vợ ba Thái Tổ Mạc Đăng Dung) gắn vào tấm bia mang hình thức vòm động có 3 chữ “Vân Thủy Âm”. Tượng có hình khối, đường nét bố cục tương tự tượng bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản ở hai chùa Hòa Liễu và Trà Phương. Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan âm có lẽ bởi lòng thương dân và những đóng góp cho việc hưng công, cúng dàng xây dựng chùa chiền. Hội minh thề khởi nguồn ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy là một minh chứng cho thái độ chống tham nhũng, tư lợi của bà.

Cuộc nội chiến Lê Mạc kéo dài hơn 140 năm đã gây lên bao nỗi khổ triền miên cho nhân dân, khiến con người tìm đến với đạo phật như một cứu cánh tinh thần. Đạo Phật đã chỉ cho con người thấy cuộc đời là bể khổ trầm luân, giả tạm. Từ Hoàng Hậu, thân vương, công chúa triều Mạc đến dân thường đã tìm thấy ở đạo Phật niềm an ủi trong tâm hồn.

Cần phải nói rằng trong thời Mạc, giáo lý Phật giáo kém phát triển. Mặc dù dưới triều Mạc xuất hiện một thiền sư khá nổi tiếng là Chân Nghiêm trụ trì tại chùa Sùng Quang, xã Xuân Lâm, huyện Cẩm Giàng có nguyện ước bảo tồn truyền thống dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhưng nhìn chung thời này giáo lý không có gì mới. Thiền sư Chân Nghiêm cho in và công bố sách Thánh Đăng Ngữ lục và viết lời tựa cho sách này vào năm 1550 đời Mạc Phúc Nguyên. Sách ghi chép tiểu sử của 5 vị đại thiền sư đời Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và Trần Minh Tông. Hạn chế của Thánh đăng ngữ lục là có nhiều tài liệu trùng với  Tam Tổ Thực Lục và Khóa Hư Lục.

Thời Mạc, ở các chùa làng có khá nhiều pho tượng Phật có giá trị lịch sử và mỹ thuật. Đặc biệt, pho Quan Âm Nam Hải ở chùa Đa Tốn (Gia Lâm-Hà Nội) có 42 tay lớn và 652 tay nhỏ. Đối với loại tượng quan âm nhiều tay thì đây là pho tượng ra đời sớm nhất ở nước ta. Mặt tượng có kiểu chân dung với vẻ đôn hậu, tươi mát của người thôn nữ Việt Nam bình dị.

Từ mật độ đình, chùa được xây dựng dưới thời Mạc và việc người dân bí mật bảo vệ hình tượng các thân vương nhà Mạc như Mạc Đăng Dung, Mạc Đôn Nhượng, 2 bà Hoàng Thái Hậu nói trên… cho thấy nhà Mạc đã biết cách lấy lòng dân thông qua hoạt động hoằng dương đạo Phật, đề cao khoa cử và như thế mới giải thích được việc tại sao khi nhà Mạc thất thế mà lòng dân xứ Đông vẫn tin theo (Nhiều tượng Đức Vua được che dấu dưới ao, giếng hay tượng bà Hoàng Thái Hậu, công chúa Mạc ẩn dưới lốt Phật bà quan âm, chúa Thượng Ngàn).

Cuối cùng, để đánh giá công lao của nhà Mạc đối với đạo Phật và văn hóa dân tộc, xin dẫn ra đây nhận định sau của các học giả: trong cuốn Mỹ thuật thời Mạc (Hà Nội, 1993), các nhà nghiên cứu khi xem xét mỹ thuật thời Mạc thể hiện trên các kiến trúc, điêu khắc, trang trí đình chùa, tượng Phật, tượng thờ, gốm sứ đã kết luận thời nhà Mạc trị vì là thời đại chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bởi chủ trương dương Nho ức Phật của nhà Lê sơ. Sự hưng khởi này đã tạo ra sức sống mãnh liệt cho một nền mỹ thuật mang đậm bản sắc dân tộc, dân gian.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Tục thờ Mẫu và nghi thức hầu đồng

Tục thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng (hay còn gọi là hầu bóng) là hoạt động tín ngưỡng dân gian chứa đựng những giá trị văn hoá tâm linh truyền thống của người Việt. Trong đó hầu đồng là nghệ thuật trình diễn tổng hợp, có âm nhạc, có lời ca, điệu múa và sự cộng hưởng cảm xúc thăng hoa của những người diễn xướng và tham dự. Trải qua thời gian thăng trầm, tục thờ mẫu và nghi lễ hầu đồng vẫn tồn tại đến ngày nay và giờ đây đã được chính thức ghi nhận bởi cơ quan quản lý văn hóa như một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống Việt Nam. Năm 2013 đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng với những giá trị văn hoá đặc sắc, đã được lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể.

alt

Thờ Mẫu là tập tục có từ lâu đời ở Việt Nam, bắt nguồn từ tục thờ các vị nữ thần có từ thời nguyên thủy, đại diện cho thiên nhiên như Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa…sau này nhân gian còn suy tôn các vị nữ anh hùng, các công chúa, Hoàng hậu, hay bà Tổ nghề của một làng nghề.. là Thánh Mẫu. Vậy là thánh Mẫu có thể là thiên thần có quyền năng màu nhiệm, huyền bí và cũng có thể là nhân thần có công lớn với dân với nước như người mẹ bao dung chở che, phù trì cho con người. Có lẽ vì vậy mà trong tâm thức dân gian người Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân vừa là Thành hoàng Hải Phòng lại vừa là một vị thánh Mẫu (thánh Chân công chúa).

Đối với người dân Việt Nam, vị nữ thánh tối cao được tôn thờ là thánh mẫu Liễu Hạnh. Theo truyền thuyết bà là công chúa-con của Ngọc Hoàng thượng đế, do có lỗi với Ngọc Hoàng mà bị vua cha đày xuống trần gian đầu thai (2 lần ở Nam Định, 1 lần ở Thanh Hóa). Dưới trần bà thể hiện là người phụ nữ giỏi công, dung, ngôn, hạnh, tài cầm, kỳ, thi, họa và thi triển nhiều phép nhiệm mầu cứu giúp nhân dân khỏi tai ách cũng như trừng trị bọn người xấu, quan lại độc ác. Sau khi hóa, bà còn âm phù giúp vua, chúa chống giặc ngoại xâm. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Hậu Lê đến triều Nguyễn đều phong mỹ tự và sắc phong danh hiệu thượng đẳng tối linh thần cho bà. Đền thờ chính thờ công chúa Liễu Hạnh ở Phủ Dầy (Nam Định). Ngoài ra nhiều nơi khác cũng có đền thờ bà như ở phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng (Thanh Hóa), phủ Lạng Sơn - là những nơi bà đã từng hiển linh… Ở Hải Phòng có một địa điểm thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh là phủ Thượng Đoạn (ở thôn Thượng Đoạn, xã Đông Hải, huyện Hải An xưa), nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An, Hải Phòng. Tương truyền, đây là nơi mẫu Liễu đã từng vân du làm việc thiện, được dân gian ghi nhớ công ơn lập đền thờ.

Theo tín ngưỡng dân gian, vũ trụ được chia ra làm ba miền (ứng với tam phủ) hoặc bốn miền (ứng với tứ phủ) và mỗi miền lại được biểu tượng hóa bằng màu sắc. Tam phủ gồm: Thiên Phủ (cõi trời-màu đỏ), Địa phủ (cõi đất-màu vàng) và Thoải phủ (cõi nước - màu trắng). Còn Tứ phủ ngoài Thiên Phủ, Địa phủ, Thoải phủ còn có thêm Nhạc phủ (miền rừng núi-màu xanh). Bởi vậy ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy có gian thờ Mẫu, trong đó có thờ tam tòa Thánh Mẫu hay Tứ Phủ với các bức tượng nữ thần trong trang phục màu đỏ (tượng trưng mẫu Thượng Thiên tối cao sinh ra muôn loài), trang phục màu vàng (địa phủ - Mẫu đất, cai quản thế giới âm), trang phục màu trắng (Thoải phủ - mẫu nước, cai quản thế giới nước) hay trang phục màu xanh (nhạc phủ - mẫu Thượng Ngàn, cai quản miền rừng).

Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian, Thánh Mẫu thực chất chỉ là một vị, nhưng đã được hóa thân thành 3 hoặc 4 vị nữ thần để cai quản những vùng miền khác nhau của vũ trụ. Bởi thế các Mẫu là đại diện của một vị Thánh Mẫu duy nhất là người mẹ tâm linh - biểu tượng bất diệt trong lòng người dân Việt. Ở đây bà chúa Liễu Hạnh được coi là vị Thánh Mẫu như vậy. Mẫu Liễu Hạnh cũng là vị thánh nữ duy nhất trong 4 vị thánh bất tửcủa Thần đạo Việt Nam là: Tản Viên sơn thánh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh công chúa.

Dân gian có câu “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ”. “Cha” ở đây là đức thánh Trần Hưng Đạo mà nhân dân tôn phong và “mẹ” chính là thánh Mẫu Liễu Hạnh, một người là nhân thần, một người là thiên thần. Trong tâm thức dân gian họ đều là những bậc đức cao, công lớn trong việc phù trì, bảo vệ nhân dân như người cha, người mẹ luôn che chở, bảo vệ con dân thoát khỏi khổ đau, hoạn nạn.

Trong tháng 3 và tháng 8 âm lịch hàng năm (ngày mất của mẫu Liễu và thánh Trần), người dân nước ta thường long trọng tổ chức tế lễ thánh Mẫu Liễu Hạnh và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Trong đạo Mẫu, ngoài các vật phẩm cúng dâng nữ thánh còn có các nghi thức tôn thờ khác với hình thức sân khấu tâm linh là lễ lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng). Hầu đồng dần trở thành nghi lễ quan trọng của sân khấu tâm linh với nghệ thuật hát dân gian kết hợp âm nhạc và điệu múa, đó là hát Chầu văn.

Nghi thức hầu đồng thường diễn ra ở các phủ, đền, chùa và không chỉ là hình thức tôn thờ thánh mẫu mà còn là hình thức tôn thờ các vị anh hùng, tướng lĩnh, thân hầu, công chúa, hoàng tử, những người có nhiều công lao với dân, với nước trong lịch sử dân tộc.

Trong đền, phủ bên cạnh các Mẫu còn có các quan được phối thờ như: Tôn quân thần Triều, Thái sư nhất phẩm, quan Đệ nhất, quan Đệ nhị, quan Đệ tam, quan Đệ tứ, quan lớn Tuần Tranh, quan Hoàng triều. Các đức chúa có: chúa Ba, chúa Thác Bà, chúa Bắc Lệ, chúa Mười Đồng Mỏ... Rồi các đức ông: Hoàng Cả, Hoàng Ba, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười. Bên dưới có các cô: cô Đệ nhất, cô Đôi Thượng, cô Đôi Thoải, cô Năm suối, cô Sáu lục cung, cô Tám đồi chè, cô Chín, cô Mười, cô Bé. Các cậu gồm: cậu Hoàng cả, cậu Hoàng đôi, cậu Hoàng ba, cậu Hoàng bé.

Các buổi hầu đồng được chuẩn bị rất kỹ càng với các lễ vật dâng cúng thần linh được bày biện đẹp mắt, ánh đèn nến lung linh tạo ra không gian sân khấu huyển ảo, lộng lẫy. Các giá đồng diễn ra trong tiếng đàn, tiếng phách, tiếng hát khi trầm khi bổng càng lối cuốn hấp dẫn người tham dự. Các giá đồng thường có từ 2 đến 4 người phụ giúp để chuẩn bị các trang phục lễ lạt cho “cô” đồng, “cậu” đồng. Trong một buổi lên đồng thường có nhiều giá đồng (có tới 36 giá). Mỗi lần thay giá đồng, người ta lại phủ một tấm vải đỏ lên đầu người hầu đồng và mỗi giá đồng phải thay một bộ trang phục, quần áo, khăn chầu, cờ quạt cho tương xứng với vị thánh hay ông Hoàng, bà chúa được tôn thờ.

Bản chất nghi thức hầu đồng là việc mượn thân xác của các ông đồng, bà đồng để thần linh nhập vào nhằm cầu xin tài lộc, sức khỏe ban cho con người. Người hầu đồng, gọi chung là Thanh đồng, nếu là nam giới thì được trang điểm như nữ giới và gọi là “cậu”, còn nữ giới được gọi là “cô” hay “bà đồng”. Trong tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng hát cung văn khi trầm khi bổng ngâm các bài thơ cổ kể lại những câu chuyện, tích xưa, người hầu đồng khi thì hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một vị quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa. Điệu múa của Thanh đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của từng giá đồng. Giá quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao; giá các chầu bà thì múa quạt, múa khăn; giá ông hoàng thì có múa cờ, còn giá các cậu thường múa hèo (gậy), múa lân ...Những người lên đồng lúc đó như diễn viên biểu diễn, hóa thân thành các nhân vật lịch sử được tôn thờ.

Về thanh đồng: bất cứ ai nếu có căn đồng (theo quan niệm) đều có thể nhập đồng và biểu diễn các giá đồng, gồm 36 giá. Mỗi giá đồng thể hiện một nhân vật cụ thể, với tên tuổi và tính cách khác nhau. Ví dụ: giá bà chúa Bắc Lệ phải khác với Mười Đồng Mỏ; giá các đức ông thì phải oai phong, lẫm liệt, múa kiếm, bắn cung; giá các cô bé thì phải điệu đàng, duyên dáng; giá các cậu thì nhí nhảnh, nghịch ngợm..

Thanh đồng khi nhập đồng múa các điệu theo tính cách của từng giá đồng, còn ở dưới cung văn tấu nhạc theo làn điệu chầu văn, lời ca mô tả nhân vật của giá đồng, tả quang cảnh nhân vật xuất hiện, kể sự tích và công đức của họ. Các lời ca kể chuyện, lời thơ được xướng lên trầm bổng, du dương cùng các điệu múa phụ họa, âm thanh, màu sắc, hương thơm hoa quả, khói hương và sự tham dự của nhiều người khiến không khí buổi hầu đồng trở lên linh thiêng, cuốn hút.

Nghi lễ hát lên đồng được chia ra các phần: Mời Thánh nhập; kể sự tích, công đức; xin Thánh phù hộ và đưa tiễn. Do đó, cuối mỗi giá đồng, cung văn đều tấu câu “Xe loan Thánh giá hồi cung”. Ban nhạc chầu văn thường có các nhạc cụ: đàn nguyệt, trống ban (trống con), nhị, sáo, phách, thanh la...

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong nước và quốc tế đều cho rằng: tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng mang giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt, đó là tinh hoa chắt lọc suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, đó là biểu tượng của sức mạnh cộng đồng, truyền thống biết ơn, tôn thờ đấng bảo hộ, chở che, của người Việt Nam. Với những giá trị văn hoá đặc sắc như vậy, đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng là những loại hình di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của dân tộc cần được bảo tồn và phát triển.

Với những giá trị văn hóa độc đáo, mang bản sắc Việt Nam, tháng 12 năm 2016, Uy ban Văn hóa-Khoa học-Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận “Thực hành nghi thức thờ Tam phủ của người Việt” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Đó là một vinh dự của đất nước ta, nó chứng tỏ bản sắc văn hóa Việt Nam đã được thế giới biết tới.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Đặc điểm nhà Mạc trong lịch sử dân tộc

VIỆC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG PHỐ: CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ, MẠC THÁI TÔNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC.

alt

GS. TSKH Phan Đăng Nhật

Trên báo Tuổi trẻ ngày 9-6-2015 có đăng bài “Giải mã nhà Mạc quanh chuyện đặt tên đường”và ý kiến của ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở V-TT&DL T/P Hà Nội, muốn “lắng nghe ý kiến rộng rãi” của nhân dân. Tôi xin phát biểu ý kiến về vấn đề trên.

Để đặt tên đường phố, cần phải nắm chắc toàn diện công lao của nhân vật lịch sử, nếu là người lập nên một triều đại, cần đối chiếu công lao của cá nhân với triêu đại mà họ lập nên. Chỉ chú mục vào một sự kiện và tách rời sự kiện đó ra khỏi hoàn cảnh lịch sử để khen hoặc chê là thái độ thiếu khách quan. Vì vậy, đầu bài của chúng tôi có các nội dung như trên và trình tự của bài viết gồm có các phần chính:

-Tóm tắt đặc điểm của nhà Mạc trong lịch sử dân tộc.

-Công lao của Mạc Thái tông và Mạc Thái tổ

I.TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

1.Nhà Mạc tồn tại tương đối lâu dài

+Tổng số thời gian tồn tại là 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử:

-Thời kỳ Thăng Long-Dương Kinh: 65 năm (1527-1592)

-Thời kỳ Cao Bằng, 91 năm (1592-1683)

-Thời kỳ Hậu Cao Bằng, 86 năm (1683-1769)

Xin đối chiếu với một số triều đại khác:

+các triều đại được coi là chính thống: Lý: 215 năm, Trần: 175 năm, Lê sơ: 99 năm, Lê Trung hưng: 245, Nguyễn: 143

+các triều đại bị quy là không chính thống: Hồ : 7 năm, Tây Sơn: 24 năm.

+Nhà Mạc bao gồm 12 đời vua và một đời chúa ( chúa lớn chẩu luông-Hoàng Công Chất).

Chúng tôi nghĩ rằng các con số trên đây, chứa đựng rất nhiều thông tin. Trước hết, chứng tỏ, nhà Mạc là một vương tộc được nhân dân rất ủng hộ, mà nhân dân đã đem xương máu bảo vệ, trong hai thế kỷ rưỡi, bất kỳ ở đâu; ở Thăng Long-Đông Đô, 65 năm; ở hành tại Hải Dương, 7 vạn người lập tức đi theo dưới cờ vua Mạc Kính Chỉ; ở miền núi Cao Băng; ở miền núi Tây Băc, dưới cờ chúa lớn Hoàng Công Chất . Về vấn đề này, GS Nguyễn Minh Tường đã nhận định đúng: “Nhiều nhà nghiên cứu đã nói tới vị trí hiểm trở của vùng cát cứ Cao Bằng và sự che chở của nhà Minh, nhà Thanh đối với họ Mạc. Nói như vậy là hoàn toàn đúng, song có lẽ chưa thật đầy đủ. Vì lẽ, nếu như con cháu họ Mạc không nhận được sự ủng hộ của nhân dân ở hầu khắp miền Bắc thì dù địa bàn hoạt động thuận lợi mấy đi nữa hay kể cả được phong kiến Trung Quốc gây áp lực với triều đình Lê - Trịnh, họ cũng không thể trụ lại ở Cao Bằng lâu như vậy (91 năm)”.

Đến đây có vấn đề được đặt ra, tại sao được như vậy, lại trong hoàn cảnh bị Lê-Trịnh truy sát, tiêu diệt một cách man rợ, vấn đề này xin được bàn vào dịp khác.

Thông tin thứ hai là, tính kiên định, kiên cường của nhà Mạc trong sự nghiệp chiến đấu chống phong kiến Lê-Trịnh (điểm 2)

2.Tuyệt đối kiên định, bất di bất dịch là đánh đổ phong kiến Lê-Trịnh , lập nên và lập lại vương triều Mạc (phục Mạc).

3.Quyết tâm bảo vệ đất nước, dầu hoàn cảnh nào “cũng không mời người Minh/ ngoại xâm đặt chân lên đất nước ta, coi đó là một tội lớn” (Mạc Ngọc Liễn)

-năm 1540 Thái tổ Mạc Đăng Dung đã đẩy lùi 22 vạn quân Minh đã kéo sang biên giới nước ta. (sẽ trình bày kỹ ở phần sau-công lao của Mạc Thái Tổ)

-Chúa lớn (chẩu luông ) Hoàng Mạc Công Chất, đánh đuổi giặc Phẻ, từ Vân Nam sang, thu hồi đất đai toàn Tây Băc, lấy lại Thập Châu bị phong kiến Trung Quốc chiếm: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Châu La, Luân Châu, Quảng Lãnh, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Toàn, Tuy Phụ, Khiếm Châu.

4. Hết sức chăm lo đời sống cho nhân dân

Nhà Mạc chăm lo đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân, đã từng xây dựng một xã hội no ấm, ổn định, kỷ cương.

Chính sách kinh tế của nhà Mạc đã đem lại đời sống ấm no, an lạc cho nhân dân. Mặc dù quan điểm đối nghịch nhưng các sử gia nhà Lê vẫn phải thừa nhận về cảnh thái bình thời Mạc “Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”.

Về nội dung này, sách Toàn thư ghi như trên và thêm một số chi tiết: “Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”.

Phan Huy Chú nhân nói về vua Mạc Đăng Doanh, cũng ca ngợi tình hình xã hội và đời sống của nhân dân đương thời: “Mạc Đăng Doanh tính tình khoan hậu. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khoá. Bấy giờ được mùa, nhà no người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình”.

Một sự kiện lịch sử được các nhà sử học đồng thanh nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ rằng đó là một sự thật hiển nhiên.

5.Chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân:

-Nhà Mạc sùng Nho, sùng Phật, Lão, Mẫu, văn hóa dân gian,… (Thăng Long -Dương Kinh)

-Khi ở Mường Thanh, thủ lĩnh Hoàng Công Chất lại tiếp tục chăm lo đến đời sống nhân dân như các tiên đế của mình, điều này đã được ghi trong câu ca mà nhân dân đời đời truyền tụng:

“Người Thái với người Lào, người Xá.

Vui vẻ cùng nhau tay làm miêng hát” (Hậu Cao Bằng).

6.Nhà Mạc phát triển kinh tế toàn diện, “trọng nông” mà không “ức thương”, phát triển mạnh thủ công nghiệp, đặc biệt là đồ gốm; phát triển nội, ngoại thương (không “bế quan tỏa cảng”).

7.Nhà Mạc rất quan tâm đào tạo nhân tài, tổ chức đều mỗi ba năm một kỳ thi hội, kể cả lúc quân Trịnh sắp đánh đến Thăng Long. Đào tạo được 13 trạng nguyên và 458 tiến sỹ, trong đó có những nhân tài kiệt xuất như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trạng nguyên Giáp Hải.

Nhà Mạc là triều đại duy nhất, trong “ngót nghìn năm của lịch sử khoa cử Việt Nam phong kiến” (Ngô Đức Thọ), đã lấy đỗ một nữ tiến sỹ độc nhất, bà Nguyễn Thị Duệ. Sau khi phát hiện bà Duệ giả trang con trai để đi thi, vua Mạc Kính Cung, không tru di về tội khi quân, mà mời bà vào triều. Điều này , thêm một lần nữa, trong muôn vàn sự kiện chứng minh tính chất dân chủ , nhân văn của nhà Mạc.

8.“Mạc thị sùng Nho” nhưng không độc tôn Nho giáo, khuyến khích cả Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ thần làng, văn hóa dân gian, đạo Mẫu, và không bài xích tôn giáo ngoại nhập.

9. Mở rộng sở hữu tư nhân, coi trọng vai trò sáng tạo cá nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử , tên nghệ nhân và người cung tiến được khắc trên đồ gốm.

10.Triều Mạc, thông thoáng, cởi mở về tư tường và ngôn luận

11.Vào thời Mạc, chúng ta đã xây dựng được một nền mỹ thuật riêng phát triển rực rỡ và độc đáo. GS Trần Lâm Biền đã viết: “Chúng tôi tạm có thể yên tâm mà nói rằng, thực sự đã có một nền mỹ thuật Mạc riêng. Nền mỹ thuật này đậm tính nhân bản, biểu hiện nhiều yếu tố tự do và phản ánh được một số vấn đề của lịch sử….Cuối cùng có thể nói rằng, nghệ thuật tạo hình dân dã trong thế kỷ XVI đã diễn ra dưới mắt ta như một sự “bùng nổ” tất yếu. Dưới bàn tay điêu luyện của nghệ sỹ đương thời, dòng nghệ thuật dân tộc đã được kế thừa và phát triển như mở đầu cho một thời kỳ “phục hưng” .

12.Văn học Mạc tiếp cận sâu sắc đa dạng về đời sống thực tiễn. Điều này được coi là phát hiện lớn “được coi là phát hiện lớn” , là “mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực, đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường”, “là một cống hiến đáng kể của văn học thời Mạc” (Huệ Chi). coi trọng hiện thực trong sáng tác văn chương, mở ra một nền văn chương có tính thực tế và tính nhân văn

13.Nhà Mạc rất trọng chữ nôm. Thơ văn nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Hoàng Sỹ Khải, Lê Bá Ly,… đã tạo ra một thời kỳ văn học nôm rực rỡ trong lịch sử văn học dân tộc.

Nhận định chung về nhà Mạc, Trần Khuê, đã viết cách đây 24 năm (1991), lúc bấy giờ tư liệu mới về nhà Mạc chưa nhiều như ngày nay : “Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém vương triều chính thống nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những nét độc đáo, mang bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau này sánh nổi”

II.CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ VÀ MẠC THÁI TÔNG

Thái tổ chỉ làm vua ba năm, sau đó giữ vai trò Thái thượng hoàng lui về Dương Kinh, làm “ngoại viện” cho Mạc Thái tông, thời gian 10 năm, tận cho đến khi Thái tông băng hà . Cho nên trong công lao của Thái Tông có sự đóng góp của Thái tổ.

II.1.Mạc Thái Tông

PGS. TS Trần Thị Vinh nhận định về vua Mạc Đăng Doanh như sau:“Nắm giữ triều chính trong bối cảnh đất nước còn nhiều loạn lạc và lắm mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến thù địch, Mạc Đăng Doanh đã khéo biết chèo lái, vừa giữ vững pháp độ, vừa cấm làm những việc hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và tạp dịch, tạo dựng cho dân lành một cuộc sống bình yên, no đủ “ban đêm ngủ cửa không cần phải khoá”, “khi ra đường không phải mang theo khí giới để phòng vệ”, “nhiều năm liền phong đăng, dân cả bốn trấn đều yên ổn”. “Về mặt Văn hoá giáo dục thì triều vua Mạc Đăng Doanh đã làm được những việc vô cùng quan trọng và vô cùng có ý nghĩa, không chỉ đặt nền móng cho các triều vua sau mà còn cho cả vương triều Mạc, đó là việc đào tạo được một đội ngũ trí thức nho học có nhiều tài năng và tâm huyết phụng sự vương triều Mạc với những gương mặt vô cùng sáng giá đại diện cho lớp trí thức mới của thời Mạc nói riêng và trí thức của Đại Việt trong thế kỷ XVI nói chung, như: Nguyễn Thiến, Bùi Vịnh, Nguyễn Lương Bật, Nguyễn Bỉnh Kiêm, Giáp Hải v.v.. họ đều là những bậc trí thức có tài đỗ đạt dưới triều vua Mạc Đăng Doanh. Vào đầu thời Mạc, dưới triều Mạc Đăng Dung mới chỉ tổ chức được một khoa thi Tiến sĩ (năm 1529) tuyển chọn người tài vào giúp việc triều đình thì dưới triều vua thứ hai - Mạc Đăng Doanh, cứ đều kỳ, 3 năm mở một khoa thi chọn Tiến sĩ, mặc cho chiến sự xảy ra triền miên. Dưới triều Mạc Đăng Doanh đã tổ chức được 3 khoa thi vào các năm: Nhâm Thìn(1532), lấy đỗ được 27 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng Nguyên Nguyễn Thiến (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh); năm Ất Mùi (1535) lấy đỗ 32 Tiến Sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) và khoa thi năm Mậu Tuất(1538) lấy đỗ 36 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Giáp Hải (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) ”.

II.2.Mạc Thái Tổ: Cách ứng xử của Mạc Thái tổ-một kinh nghiệm lịch sử về đấu tranh “hoãn xung”

II.2.1.Duyên cớ của chủ trương “xuất quân chinh phạt” của nhà Minh, hành động bán nước của nhóm Trịnh Duy Liêu

Phong kiến nhà Lê đã nhiều lần liên tục cho người đi cầu cứu nhà Minh đem quân sang đánh ta. Với danh nghĩa là đánh Mạc, nhà Minh sẽ thừa cơ tàn sát tiêu diệt luôn cả nước Việt. Đây là một mục đích truyền đời của phong kiến phương Bắc. Nhà Lê thừa biết điều này, nhưng vì quyền lợi ích kỷ của vương quyền, vẫn cứ ra sức van nài nhà Minh. “Nhà Mạc muốn tránh nguy hiểm trong cuộc đụng độ với nhà Minh. Tuy nhiên, nguy cơ chiến tranh ngày càng thúc bách, một phần bởi những mưu đồ thù địch của một số bề tôi trung thành với nhà Lê”

Rất nhiều lần phái đoàn vua Lê hoặc bề tôi cũ của nhà Lê đi sang Trung Quốc để tố cáo nhà Mạc, kích động chiến tranh của nhà Minh. Riêng năm 1537 liên tiếp có 3 lần (kể cả trường hợp Vũ Văn Uyên):

- “Năm 1529, Trịnh Ngung, bề tôi cũ của nhà Lê đã sang Trung Quốc để tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngay sau khi trung hưng triều Lê, năm 1533, Trịnh Duy Liêu liền được cử đi Trung Quốc để tiếp tục tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngày 3 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (13 - 3 - 1537), cháu dòng đích của vua An Nam tên là Lê Ninh (Trang Tông) sai người trong nước là bọn Trịnh Duy Liêu gồm 10 người đến kinh đô xin hưng binh hỏi tội để cứu nguy nạn nước”.

- “Tháng 6 năm 1537, phái bộ của Trịnh Duy Liêu do triều đình Lê phái sang Yên Kinh”.

- “Ngày 6 tháng 9 năm Gia Tĩnh thứ 16 (9 - 10 - 1537). Trước đó người Giao chỉ Vũ Văn Uyên mang đồng đảng đến hàng... Văn Uyên có 10.000 quân, đợi thiên binh xuống phía Nam, sai cháu là Vũ Tử Lăng đóng tại cửa ải Thạch Lang để nhập theo”.

Tóm lại, âm mưu của phong kiến nhà Lê “cõng rắn”, “rước voi” rất dai dẳng, quyết liệt. Hơn nữa, không những chỉ van xin, mà còn ra sức tạo điều kiện vật chất, cụ thể để quân Minh nhanh chóng và thuận lợi kéo sang đánh ta.

Như thế rõ ràng là phong kiến Lê-Trịnh đã dẫm vào vũng bùn cũ, đi theo vết xe đổ của Trần Ích Tắc, mà những kẻ thực thi là Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên. Họ đã nhiều lần quyết liệt, khẩn khoản van lạy nhà Minh kéo quân sang An Nam để “hưng binh hỏi tội”.Họ lại còn tạo điều kiện cụ thể để quân Minh giết hại dân ta có hiệu lực. Kết quả là Minh Thế Tông đã giao cho Mao Bá Ôn chỉ huy 22 vạn quân kéo sang biên giới, Vũ Văn Uyên và cháu là Vũ Tử Lăng đóng 1 vạn quân ở cửa ải để làm nội ứng.

Lịch sử cần ghi thêm danh sách những kẻ “cõng rắn”, “rước voi”, bên cạnh Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Gia Long; còn có Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên.

Đây thực sự là bán nước, không hiểu tại sao nhiều người che đậy?

Có hành động bán nước trên , Mạc Đăng Dung mới buộc phải cứu nước theo phương hướng hoãn xung.

II.2.3.Chiến lược của Mạc Đăng Dung

Mạc Đăng Dung thực hiện một chiến lược vừa đánh vừa hoà.

- Chuẩn bị đánh: “Lê triều thông sử cũng cho biết Mạc Đăng Doanh đã tu sửa trại, sách, luyện tập thuỷ quân; trưng cầu hết thảy những cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước”. Phục chức cho Thái bảo tĩnh quốc công Vũ Hộ, cử làm tả đô đốc Đông quân Chưởng phụ sự.

Thù vực chu tư lục cho biết triều đình nhà Minh còn tranh cãi khá gay gắt về việc đánh hay không đánh. Khi Mao Bá Ôn đến Nam Ninh đã thấy quân dân Việt chuẩn bị chống lại quyết liệt, lấy thuốc độc, bã đậu bỏ vào suối nước, đào hố chôn cọc tre để ngựa sa hố, lại phao ngôn sẽ theo đường biển tập kích Quảng Đông. Như vậy, chứng tỏ khi ấy nhà Mạc chuẩn bị sẵn sàng hai kế sách chiến và hoà”.

- Lập nhiều đồn luỹ ở biên giới mà trong “Vãng giao chỉ đồ”, in ở An Nam đồ chí, nhà Minh gọi là “tặc doanh”.

- Cho người làm nhiệm vụ tình báo “dò la bám sát các hoạt động quân sự của nhà Minh, như trường hợp tri châu Nguyễn Cảnh, năm 1537, được nhà Mạc bí mật phái sang đất Minh để thu thập tin tức bị thổ quan của Vân Nam giữ lại.

II.2.4. Thực chất việc thần phục, “dâng đất”

Một số người buộc Mạc Đăng Dung về “tội” đầu hàng và dâng đất. Hãy căn cứ vào tư liệu lịch sử chính xác để xem xét hai sự kiện này.

Ngô Đăng Lợi viết: “Qua ghi chép của Nghiêm Tông Giản, thì Mạc Đăng Dung cùng đoàn tuỳ tùng không được mặc phẩm phục, cổ đeo dây lụa tượng trưng cho sự đầu hàng đến lậy và cúi đầu (ngũ bái, tam khấu đầu) trước long đình che lọng vàng, tượng trưng cho hoàng đế nhà Minh, chứ không phải quỳ lạy viên tướng nhà Minh”, cũng không phải cởi trần tự trói.

- Trả lại đất :

* “Bốn động biên giới đã bị nhà Minh lấy lại từ trước, thành chuyện đã rồi đối với nhà Mạc. Mạc Đăng Dung thực sự không hề mắc tội phản quốc, mà trái lại đã góp một phần quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, cũng như tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh”. Còn Lê - Trịnh mãi đến 1597 mới được nhà Minh xét công nhận (xem thêm ở phần sau).

* Trong biểu tâu vua Minh, Mạc Đăng Dung cũng viết đúng là bốn động vốn thuộc nhà Minh, mà họ đã lấy lại từ trước và ông đã nêu cụ thể lời của tri châu châu Khâm, Lâm Hy Nguyên, làm nhân chứng, chắc chắn đó là sự thật: “Mới đây thần nghe tri châu châu Khâm tỉnh Quảng Đông, Lâm Hy Nguyên, xưng rằng, các động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích, Chiêm Lãng là đất cũ của châu Khâm; nếu đúng như vậy, thần xin vâng lời”.

* “Quả là Mạc Đăng Dung chưa hề cắt đất cho nhà Minh, nhưng ông đã bó tay và buộc phải chấp nhận sự kiện các động trưởng của bốn động sát biên giới Đông Bắc trở lại với nhà Minh... Làm sao nhà Mạc có thể giữ lại được bốn động trên khi mà các động trưởng đã bỏ về với nhà Minh? Thực tế chỉ có bốn động thuộc hai đô như vừa trình bày ở trên trả lại đất châu Khâm”.

*Cùng với các tư liệu trên, Minh Thực Lục ghi rất rõ , lệnh của Minh Thế Tông: “Sau khi bàn bạc rồi phúc tấu, Hoàng thượng mệnh: Ty phiên Quảng Tây mỗi năm cấp lịch Đại thống để thờ phụng theo chính sóc, hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, cho châu Khâm,…”

Xin nói rõ: “hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, trả cho châu Khâm,” (Minh Thực lục) khác hẳn với : “những đất Trung Quốc chiếm được chưa phải là lãnh thổ của Trung Quốc, bây giờ Mạc Đăng Dung đem dâng….” (Trần Thị Băng Thanh)

Nếu đối chiếu các điều kiện thần phục, trong tình hình đối nội, đối ngoại quá gay gắt và phức tạp như vậy, thì việc thần phục của vua Mạc đã mất một số hư danh mà được nhiều thắng lợi thực tế. Trong đó, quan trọng là tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc, bao gồm lực lượng của quân Minh bên ngoài ép vào và quân Lê - Trịnh từ trong đánh ra.

Xét trong lịch sử ngoại giao của chúng ta với phong kiến Trung Quốc có nhiều trường hợp phải hết sức lựa chiều, khéo léo.

“Bình Định vương Lê Lợi đại thắng quân đô hộ Minh nhưng vẫn phải cấp tàu xe, lương thảo cho Vương Thông rút quân, phải trả lừa, ngựa, binh khí, tù binh cho y; lại phải thực hiện danh nghĩa phù Trần diệt Hồ của nhà Minh mà dựng Trần Cảo làm vua, phải cống người vàng...”.

Về việc này, Phan Huy Chú nhận định: “Xét: Buổi đầu Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần; dùng lời nói dịu dàng, mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho, trải 3 năm mà mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Thế cũng đủ thấy sự thế bây giờ là khó”.

Hoàn cảnh lịch sử của Vua Lê thuận lợi hơn hẳn Vua Mạc, thế mà phải hết sức mềm dẻo. Vì vậy, “Mạc Đăng Dung thần phục giả vờ để giữ độc lập thực sự” (Trần Quốc Vượng) là kế sách tuyệt diệu.

Vua Mạc Đăng Dung nhận các điều kiện thần phục, nhưng các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, dùng ấn vàng, phong tước vương cho các con, toàn quyền điều hành đất nước về mọi mặt, nhà Minh không can thiệp và đặc biệt là không có bóng quan quân Minh trên đất nước Việt.

“Thế là nhà Mạc được nhà Minh công nhận, nhà Lê - Trịnh thì không, mãi đến 1597 mới được nhà Thanh xét và phải theo lệ cũ thời Lê sơ, cống người vàng đền mạng Liễu Thăng”.

Đến năm này, Lê Duy Đàm thi hành việc cống người vàng, đồng thời xin nhà Minh phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp:

“ Ngày 5 tháng 2 năm Vạn Lịch thứ 34 (13-3-1606) Con Huệ là Ninh kế tục nghiệp nhà Lê tại vùng sông Tất Mã, truyền được 4 đời. Đến Duy Đàm cùng bề tôi là Trịnh Tùng hợp mưu khởi binh diệt họ Mạc, lấy hết đất đai cũ. Nhân tiến người vàng thay thân, xin triều đình chiếu mệnh, được phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp. Lúc này vào năm Vạn Lịch thứ 25…”14

Ở đây có hai việc tương tự:

Việc thứ nhất: nhà Mạc nhận chức Đô thống sứ, thì bà Băng Thanh lớn tiếng phê phán : “ xóa bỏ cả một đất nước đã có truyền thống mấy nghìn năm văn hóa , tổ tiên đã đỏ bao xương máu tâm trí để khai thác giữ gìn thì đó là một sai lầm không thể bỏ qua” . Xin nói thêm, nhận Đô thống sứ, nhà Mạc không hề xóa bỏ đất nước, họ vẫn xây dựng đất nước, đem lại cảnh ấm no, mở mang công thương nghiệp, tổ chức thi cử, đúng ba năm một kỳ. Về mặt thể chế ,các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, toàn quyền điều hành đất nước (vừa nêu ở trên) . Minh thực lục ghi đúng điều này, bà Băng Thanh một lần nữa, lại nói ngược với Thiên triều. : “Từ họ Mạc đến nay, tuy xưng Đô thống sứ, nhưng chế độ trong nước vẫn theo đế chế; triều đình tuy cấp ấn bạc nhưng không (sai sứ) đưa sách mệnh, lệnh đến gõ cửa quan ải để lĩnh” , nghĩa là nhà Mạc lờ đi , không nhận, nhà Minh cũng ỉm luôn.

Lịch sử thực tế diễn ra như thế nào, nói như thế ấy, đừng vu khoát, tưởng tượng.

Việc thứ hai: nhà Lê xin được phong chức Đô thống sứ, còn cống người vàng nữa. Thế thì nhà Lê có “xóa bỏ đất nước” không? Sự kiện rành rành như vậy, sao bà Băng Thanh lại dấu kín ?

II.2. 5.Nguyên nhân thắng lợi của chiến lược nhà Mạc

Nhờ đâu mà đập tan được âm mưu nhà Lê cầu xin Minh, đấy lùi được quyết tâm xâm lược sắt đá của nhà Minh?

- Trước hết là ý chí của nhà Mạc, bằng mọi giá không cho giặc đặt chân vào đất nước ta, như Mạc Ngọc Liễn là Đô uý thái phó Đà Quốc công, đồng thời là phò mã, khi lâm chung có di chúc lại: “... Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Mạc Ngọc Liễn không phát ngôn ý kiến cá nhân mà tuyên bố tư tưởng lớn của nhà Mạc. Đinh Khắc Thuân nhận định đúng như vậy: “Lời trối trăng cuối cùng này của Mạc Ngọc Liễn cũng chính là ý nguyện của nhà Mạc nhằm tránh một cuộc chiến tranh ngoại bang”.

Thứ hai, là chủ trương vô cùng sáng suốt của Thái tổ Mạc Đăng Dung, chiến hoà kết hợp, hoà nhưng sẵn sàng chiến đấu. “Đầu hàng giả, chiến đấu thật”. Trong hoà không hại gì cho đất nước, chỉ dâng đất khống.

Thứ ba, Mạc Thái Tổ cũng dùng cả đấu tranh chính trị, đưa trạng nguyên Giáp Hải đi, để biểu lộ ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước qua việc hoạ thơ. Có người nói bài thơ đã đuổi được giặc. Không thật đúng. Bài thơ là một bộ phận của cuộc đấu tranh toàn diện, có vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh này.

Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho Thiên triều đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi đươc 22 vạn quân ngoại xâm và ít nhất một vạn nội phản; mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

Nếu không có Mạc Đăng Dung và nhà Mạc thì đất nước ta lại trải qua một cuộc tàn sát dã man dưới lưỡi gươm của giặc Minh, được sự hỗ trợ hiệu lực của Lê-Trịnh. Nếu không có Mạc Thái Tổ, lại một lần nữa :

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

(Bình Ngô đại cáo) Có thể nói, vua Mạc Đăng Dung và nhà Mạc đã đấu tranh rất thông minh, đặc biệt năng động, nhờ vậy cứu đất nước khỏi một thảm hoạ chiến tranh đã liền kề. Lịch sử nước nhà và nhân ta cần biết ơn, ghi đậm công lao to lớn này.

Nguyễn Hải Kế nhận định rằng, những khu xử của nhà Mạc, tránh được cuộc chiến tranh mà trên thực tế vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia:“Với nhà Minh thì bên cạnh việc tăng cường phòng bị, bằng hàng loạt các biện pháp chính tri- ngoại giao mà triều đình nhà Mạc đã triển khai để tránh được một cuộc chiến tranh , mà trên thực tế vẫn bảo vệ được chủ quyền quốc gia. Đặt trong bối cảnh thế kỷ XVI, những khu xử mà nhà Mạc đạt được là kết quả thực tiễn của tình cảm và trí tuệ đương thời”

Quân dân và vua quan nhà Mạc đã nêu một bài học đấu tranh hoãn xung trong tình trạng thế và lực ta quá yếu so với đối phương, bao gồm cả ngoại xâm và nội phản hợp lại.

III.TÓM TẮT NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ MẠC

Trên đây, chúng tôi đã nói nhiều đến những đặc điểm của nhà Mạc, nhưng cuối cùng vương tộc này đã thất bại nặng nề, nguyên nhân tại đâu?

Sự thất bại của nhà Mạc do một hệ nguyên nhân tổng hợp kéo dài nhiều thập kỷ. Có thể nêu ra 4 nguyên nhân chính:

1. Có những hiện tượng mất đoàn kết trong triều đình nhà Mạc, tiêu biểu là vụ Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi và Khiêm vương Mạc Kính Điển. Hai Ngài đều là đại trung thần của nhà Mạc , đều có tài nghiêng trời lệch đất . Chỉ tiếc là quan niệm về chọn người kế vị ngai vàng khác hẳn nhau nên dẫn đến việc đem quân đánh lại nhau gây tổn hại về thực thể và tinh thần rất lớn.

2.Cũng giống như bao triều đại phong kiến khác trong lịch sử, các vị vua nối ngôi về sau không giữ được những phẩm chất tốt đẹp của các bậc tiên đế , cũng góp phần khiến cho cơ nghiệp tổ tông không giữ được. Tuy nhiên, chúng ta cần thận trọng để khỏi nghe theo kẻ xấu đổ tội oan cho tiền nhân.

3. Có thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng về thủ lĩnh:

.1540, vua Mạc Đăng Doanh mất

.1541, vua Mạc Đăng Dung mất

.1546, vua Mạc Phúc Hải mất

4.Nguyên nhân quan trọng nhất là trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI có 2 xu hướng:

. Xu hướng tư hữu hoá ruộng đất, hình thành tầng lớp hữu sản , tư tưởng cởi mở phóng khoáng, trọng cả Nho, Phật , Lão và văn hoá dân gian; tôn trọng cá nhân; phát triển kinh tế nhiều mặt, nông công thượng nội ngoại thương.

. Xu hướng quan liêu bảo thủ Tống nho, trọng nông ức thương, bế quan toả cảng, độc quyền Nho giáo.

Cả hai xu hướng này đấu tranh loại trừ lẫn nhau. Sự thất bại của nhà Mạc là sự thất bại của xu hướng thứ nhất. Trong hoàn cảnh lịch sử đương thời, nhà Mạc chưa đủ điều kiện để chiến thắng xu hướng thứ hai. Xu hướng này còn tồn tại dai dẳng qua nhà Nguyễn và đến Cách mạng tháng Tám 1945 mới được giải quyết về cơ bản.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1.Phương pháp tiếp cận mà chúng tôi thực hiện trong bài gồm mấy điểm liên kết với nhau:

-Chỉ tìm hiểu một sự kiện, một nhân vật lịch sử cũng rất cần đặt trong mối liên quan gần và xa của sự kiện và nhân vật đối tượng.

-Kết luận và nhận định phải thiết kế trên tư liệu, không thể trên sự phỏng đoán thiếu tư liệu, không nên phỏng đoán -giả sử, kiểu “Chẳng lẽ người Minh dễ lừa đến thế” (Trần Thị Băng Thanh). Phải tìm cho ra “dễ lừa hay không”.

Theo xu hướng của sủ học hiện nay được gọi là tân sử học (new history) hay xã hội sử học (social history), hoặc truyền khẩu sử học (oral history).

-Đã tìm được tư liệu rồi không nên coi “như đinh đóng cột” ngay.

Phải thẩm định đối chiếu thận trọng. Ví dụ: về “trả lại đất” chúng tôi đã dựa trên bốn tư liệu (xin xem trong bài) .

GS Trần Quốc Vượng nói : sử gia Lê-Trịnh bôi đen lịch sử nhà Mạc , điều này rất đúng, mãi mãi đúng. Chúng ta rất biết ơn công lao các sử gia, không “phủ định sạch trơn” , như vậy là sai lầm nghiêm trọng, nhưng phải sử dụng thận trọng.

2.Trên cơ sở các phương pháp trên đây, chúng ta có thể rút ra nhận định:

-Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông đã có công lập nên môt triều đại tồn tại 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử, 12 đời vua, một đời chúa; có những đặc điểm nổi trội (13 đặc điểm) mà không phải triều đại phong kiến nào cũng có được.

-Ngoài ra, riêng Mạc Thái Tổ đã làm tròn hai sứ mệnh lớn lao và nặng nề:

+lật đổ triều đại nhà Lê suy đồi để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn,

+bằng các phương thức hoãn xung, phi chiến tranh, đẩy lùi cuộc chiến tranh nội ngoại xâm, của liên minh 23 vạn quân Minh-Lê-Trịnh.

Trên những thực tế lịch sử đtrên đây, chúng tôi đồng ý với GS Văn Tạo:

“Tôi tán thành việc Hà Nội đề xuất đặt tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông. Vì triều đại nhà Mạc tồn tại trong 65 năm nhưng đã cống hiến cho lịch sử, xã hội Việt Nam những thành tựu đặc sắc, mang lại phồn vinh, thịnh trị cho đất nước.”

3. Cho đến nay, nhiều tỉnh thành đã đặt tên Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông như: Quảng Ngãi, An Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Gia Lai, Thanh Hóa, T/P Hồ Chí Minh.

Vậy Hà Nội, nơi nhà Mạc đóng đô 65 năm, việc đặt tên các vị là đúng đắn và cần thiết.

P.Đ.N

Về bức đại tự An Nam Lý Học ở đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

alt

Ngô Đăng Lợi

Buổi sáng ngày 21 tháng 7 năm 2016, tại chùa Phổ Chiếu, trụ sở CLB Hải Phòng học có buổi sinh hoạt khoa học, Tiến sĩ Lã Trọng Long đã thuyết trình một số chữ Nho ở một số di tích lịch sử văn hóa mà ông cho là sai. Tôi nhất trí một số kiến giải của Tiến sĩ, nhưng riêng những phát hiện và yêu cầu sửa 4 chữ: An Nam Lý Học thì không. Ta biết Lê Quý Đôn soạn giả sách Kiến văn tiểu lục chép: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683). Xán có tiếng hay thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh núi sông bè bạn tặng, đáp vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 48 bài, đặt nhan đề là Sứ Giao ngâm. Khi về dâng lên triều đình. Trong các bài thơ ấy có câu “Y quan văn vật trọng Nam cương, lại tự chua rằng: Nhân vật nước này, về phần lý học có Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế (kinh bang tế thế - Giúp nước cứu đời. N.Đ.L chú) có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh; còn về phần văn học có khá nhiều”.

Như thế thì tiếng tăm các bậc tiền bối nước ta vang đến Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp. Nguyễn Công Vọng, Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điển tiếp đãi ở sứ quán, Nguyễn Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống, đều có thơ tặng vừa thất ngôn, vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đều chép thành tập nhan đề là Nam Giao hảo ngâm, phụ vào với các tập trước đều khắc ván gỗ phát hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được Trung Quốc quý trọng.

Tôi thấy cần nói thêm dưới thời vua Lê Hy Tông (1676 – 1705) với niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680), Chính Hòa (1681 – 1705) được người đương thời ca ngợi là thời thịnh trị bậc nhất thời Lê Trung Hưng. Quan hệ bang giao giữa vua ta và vua nhà Thanh khá thân thiện, tháng 9 năm Mậu tý (1683) vua Thanh sai sứ sang ban cho vua Lê dòng chữ đại tự “Trung hiếu thủ bang” (cò lòng trung thành, hiếu kính để giữ nước). Đây là sự tri ân nhà Lê đã từ chối không cứu viện cho Ngô Tam Quế, bầy tôi phản nghịch chống nhà Thanh. Vua Thanh còn sai sứ ban lễ phẩm cho việc tế vua Lê Huyền Tông (1663 – 1671) và Lê Gia Tông (1672 – 1675).

Thời gian thịnh trị này, không thể không nhắc đến vai trò của vị chúa trí đức song toàn Trịnh Căn (1682 – 1709).

Tuy nhiên, Lê Quý Đôn ghi Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ 4 (1683) chắc sai. Chúng tôi đã đối chiếu với Bang giao chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thấy ghi rõ: Hy Tông năm Chính Hòa thứ 3 (1682) ngang với Khang Hy thứ 21 (1682) nhà Thanh, vua ta sai Thân Toàn, Đặng Công Chất sang cống nhà Thanh.

Về tiểu sử 2 sứ thần Thân Toàn và Đặng Công Chất, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 do Ngô Đức Thọ chủ biên – NXB Văn học 1993 cho biết:

- Thân Toàn (1621 - ?) người xã Phương Đỗ huyện Yên Dũng nay thuộc xã Mai Khê huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang đỗ Đồng tiến sĩ khoa Nhâm thìn Khánh Đức thứ 4 (1652) làm quan trải các chức Đô ngự sử, Tả thị lang bộ Hộ (1676) được cử sang sứ nhà Thanh năm 1682. Sau khi hoàn thành sứ mệnh được thăng Tham tụng, Thượng thư bộ Binh tước Bá.

- Đặng Công Chất (1622 – 1683) người xã Phù Đổng huyện Tiên Du nay thuộc quận Gia Lâm Hà Nội, đỗ Trạng nguyên khoa Tân sửu niên hiệu Vĩnh Thọ thứ tư (1661) đời Lê Thần Tông làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Hình, mất năm Chính Hòa 4 (tháng 8 – 1683) được tặng Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lại, tước Bá. Năm Chính Hòa 3 (1682) làm Phó sứ sang cống nhà Thanh.

Qua những sử liệu trên, có thể khẳng định Lê Quý Đôn nhớ nhầm năm Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ tư (1683).

Còn câu An Nam lý học hữu Trình Tuyền là lời Vũ Phương Đề chứ không phải của Chu Xán.

Nhà nho Vũ Phương Đề có lý khi ông dựa vào ý của Chú Xán đề 4 chữ trên, còn các nhà nho nổi tiếng Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo, Hồ Sĩ Dương được Chu Xán coi là nhà Lý học, nhưng đền thờ các ông và hậu thế đều không xác nhận là An Nam lý học.

N.Đ.L

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay105
mod_vvisit_counterHôm qua126
mod_vvisit_counterTất cả22627
Hiện có 37 khách Trực tuyến