Tôi chong đèn đọc thơ văn Đức Tổ Trí Hải đêm nay- Thích Thanh Tùng

Bức ảnh Đức Tổ Trí Hải chụp bán thân màu đen trắng còn đậm nét, có lẽ được mang từ ngoài Bắc vào, treo trong phòng khách thầy tôi là hình tượng quen thuộc mỗi ngày với tôi, khi tôi còn làm Sa di đang tu học ở chùa Giác Hoa vùng Gia Định nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

alt

Thời đó, mỗi khi rảnh việc, thầy tôi thường kể lại cho chúng tôi nghe những câu chuyện xưa về Tổ. Đến năm 1979, Tổ đi tàu biển vào thăm Phật giáo đất phương Nam và tôi được tận mắt trông thấy Tổ bằng người thật. Tôi còn nhớ một buổi sáng trong phòng thầy tôi tại chùa An Lạc, thầy tôi y áo quỳ lạy Tổ và khóc, Tổ cũng khóc nữa. Hằng ngày, tôi được giao việc bưng cơm nước thị giả Tổ. Tổ lưu lại thành phố Hồ Chí Minh một thời gian ngắn và trở về Bắc một tháng sau, viên tịch tại chùa Phật Giáo Hải Phòng. Bây giờ đang mùa hạ Chư tăng an cư, đêm nay tôi ngồi chong đèn đọc thơ văn Tổ viết để lại và tìm hiểu Tổ đã hiện thân với phong cách nào qua thơ văn.

Đọc tập Hồi Ký Thành lập Hội Phật Giáo, chương Phật Học Tùng Thư, ngay phần mở đầu Tổ đã xác định mục tiêu của tổ chức là trước tác phiên dịch kinh sách bằng chữ quốc ngữ để phát hành truyền bá Phật pháp sâu rộng trong quần chúng.

Vậy thì, phong cách đầu tiên Tổ hướng tới là tính quần chúng.

Tính quần chúng

Bắt đầu từ chuyện ngụ ngôn. Loại chuyện này rất thích hợp với người bình dân ít học, không kể trẻ già ai cũng thích đọc, nhất là được viết với thể thơ lục bát song thất giản dị gần với ca dao. Câu chuyện Con Cáo bị Cành Cây Đập nói về sự vô minh của người đời sống với cái bóng không thật, nghĩ tưởng là thật. Không dám về ngôi nhà thật của mình. Đây là bi kịch của trần gian:

Có con cáo ở cành cây nọ
Gió rung cành đập vỡ tứ tung
Cúi đầu chạy thẳng dám trông
Suốt ngày quanh quẩn vẫn không dám về.
Chiều trông thấy cành kia động đậy
Tới nơi lại được phủ che
Tháng ngày lại được mọi bề yên vui
Ví kẻ bị thấy hơi nói động
Đã vội vàng làm nũng bỏ đi
Thân tâm lêu lổng hay gì
Ba năm cóc chết lại về núi thôi. (1)

Bút của Tổ viết dễ như dạo chơi. Tổ thường hay dùng thể thơ này vì nó gần gủi người Việt. Người xưa dùng hai câu của thất ngôn đường luật phối hợp với hai câu lục bát làm thành thể thơ hoàn toàn Việt Nam, âm điệu giàu hơn thơ đường. Nhưng trên thực tế, người Việt dùng lục bát viết ca dao nhiều hơn song thất lục bát. Bài chị ru em trong gia đình giáo dục, Tổ viết như hát ru dân gian:

Em ơi, em hỡi, em hời
Em ăn, em ngủ, em chơi chị mừng
Tham, ngu, giận em đừng có vướng
Ôn, nhu, hòa, em tưởng luôn luôn
Sau này em lớn em khôn
Học hành chăm chỉ lòng son chớ rời
Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời
Chị mong em tiến kịp người mới nên
Nên nhớ rõ thánh hiền thuở trước
Tốn bao công vì nước vì nhà
Hạ hơi, hạ hỡi, hỡi hà
Bao nhiêu công việc nước nhà mai sau.
Hết thảy đều trông vào em cả
Cơ nghiệp này em chớ bỏ rơi
Hạ hơi, hạ hỡi, hỡi hà
Em nên nhớ lấy những lời chị khuyên
Lễ, nghĩa cùng gương liêm xỉ nọ
Ăn mặc và chỗ ở đường đi
Từ nay em phải xét suy
Mượn hơi người thở có khi nào thành
Tài, trí, năng thân mình đầy đủ
Bao điều hay, chớ bỏ lỡ thời
Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời. (2)

Thời của Tổ, người mẹ thường nằm trên võng ru con hay chị ru em ngủ bằng những lời hát ru quen thuộc nơi đồng bằng Bắc bộ:

Cái cò cái vạc cái nông
Sao mày dẫm lúa (i i) nhà ông hỡi cò
Không không tôi đứng trên bờ
Mẹ con nhà nó (i ii ư) đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin thì ông đi đòi
Mẹ con nhà nó (i i i a) vẫn ngồi đây (i i i) kia. (3)

Tổ làm theo loại hát ru này cho dân gian ru con bằng Phật pháp. Đứa trẻ lớn lên bằng điêu ru này, tâm hồn nó sẽ có lòng từ bi nhân hậu một cách tự nhiên. Tổ làm nhiều thể loại để giáo hóa mọi tầng lớp xã hội. Có khi thơ Tổ phảng phất hơi Kiều mà rất dân gian. Đọc đến đâu hiểu đến đó không cần người giải thích:

Sửa sang đón rước linh đình
Hương hoa chất đống, chật thành ngựa xe. (4)

Hai câu này viết trong bài Phật Vào Thành Vương Xá thuộc thể loại Phật hóa tiểu thuyết của Tổ. Rồi có hai câu khác cũng giống như thơ Kiều:

Khác nào hoa nở tối tàn
Cá kia gặp nước, rồng thời gặp mây. (5)

Câu này diễn tả cảnh Phật về thăm nhà, thuyết pháp độ cho vua cha về cảnh đời vô thường đến với tất cả mọi người không phân biệt ai sang ai hèn.

Khi vua cha tịch, lễ hỏa táng cử hành trang trọng nghi ngút mùi hương:

Cùng nhau sắm sửa đặt bầy
Lập đàn hỏa táng, chất đầy trầm hương. (6)

Thử đọc đôi câu Kiều lên, sẽ thấy không khác. Chất thơ Kiều, tôi nghĩ, Tổ cố ý đưa vào cho câu truyện kể nghe thêm ly kỳ và đúng nghĩa Phật hóa tiểu thuyết:

‘Trong các kinh sách Phật, có rất nhiều truyện ly kỳ thường gọi tỉnh những tâm hồn mê mộng sa ngã, khiến cho cải tà quy chính, toàn là những chuyện bổ ích cho nhân tâm thế đạo, phong hóa, luân thường.

....................................

Nay muốn cho ai ai cũng hiểu đúng, tôi xin thành tâm cố gắng biết đến đâu tâu đến đấy, lược trích những cốt yếu trong các truyện biến thành bộ sách toàn là truyện trong đạo Phật, nên gọi là Phật hóa tiểu thuyết'. (7)

Người ta không khỏi kinh ngạc thời đó Tổ đã ý tưởng hoằng pháp rất mới. Sau này ở miền Nam thập niên 1965-1975 nhà thơ Phật giáo Phạm Thiên Thư dùng từ hơi khác là thi hóa kinh Phật, như kinh Ngọc thi hóa từ kinh Kim Cương, kinh Hiền thi hóa từ kinh Hiền Ngu.

Đọc thơ văn Tổ rất thú vị, tôi thấy bên cạnh tính quần chúng đậm đà còn hiện lên tính thời sự nồng nàn vì con đường hành đạo của Tổ là chấn hưng Phật giáo không có thời gian .

Tính thời sự

Tổ đặt câu hỏi rất thời sự trước tình trạng suy đồi của Phật giáo Việt Nam thời ấy trong một bài viết: ‘Tại sao phải chấn hưng Phật giáo’. Nhân Gian Phật Giáo Đại Cương, Hồi Ký Thành Lập Hội Phật Giáo Viêt Nam, và Phật Giáo Việt Nam là ba tác phẩm quan trọng của Tổ viết phản ảnh rõ thời sự Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Việt Nam cần phải làm gì để chấn hưng.

‘Vì chưa đóng kịp bàn ghế cho học sinh trường đành dùng tạm án thư, trường kỷ, đôn. Cụ Lương Trúc Đàm dạy bên nam, cô Năm dạy bên nữ. Những cái đầu để chỏm ở giữa hoặc trái đào hai bên, chen với những mớ tóc đen nhánh quấn trong vành khăn nhiễu tam giang. Hết thảy đều cặm cụi, bậm môi tô những chữ a, chữ o, chữ e trên giấy (8). Sách 'Đông Kinh Nghĩa Thục' của Nguyễn Hiến Lê nói đây là lớp học đầu tiên của Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907.

Thời kỳ này phong trào học chữ quốc ngữ bắt đầu phôi thai và rất có ý nghĩa với cuộc vận động thống nhất chấn hưng Phật giáo Việt Nam sau này của Tổ.

Tổ gốc quê làng Quần Phương Trung, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Tổ sinh ra và trưởng thành trong thời gian này.

Năm 17 tuổi, Tổ xuất gia tại chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, thờ sư cụ Thích Thông Dũng làm Tôn Sư. Nuôi chí lớn chấn hưng Phật giáo, năm 25 tuổi, Tổ quyết định thành lập Lục Hòa Tịnh Lữ:

‘Từ đấy, chúng tôi quyết định tìm phương cách thành lập Hội Phật Giáo. Nhưng nếu không có phép tắc hẳn hoi thì rất dễ bị ghép tội hoạt động bất hợp pháp và sẽ dẫn đến tan vỡ. Bấy giờ chúng tôi phỏng theo lối tổ chức Hội Liên Xã ở các sơn môn vẫn có xưa nay.

...............

Có điều khác là chúng tôi không lấy tên Hội, vì từ 'Hội' có vẻ to tát quá, nên chúng tôi lấy tên là ‘Lục Hòa Tịnh Lữ'; có nghĩa là những người trong sạch làm bạn cùng nhau, tu theo Sáu phép hòa thuận của Đức Phật'. (9)

Thời gian của Lục Hòa Tịnh Lữ, Tổ hội ngộ được các trí thức Phật giáo tâm huyết cùng chí hướng như cụ Lê Toại thường viết bài về việc chấn hưng Phật Giáo; cụ Trần Văn Giác người Trà Vinh là hội viên hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học; cụ Nguyễn Hữu Kha Thiều Chửu đang dịch bộ Phật Học Từ Điển; và cụ Vũ Đình Chung hội trưởng Hội Đông Dương Liên Hữu Tương Tế.

Có một điều rất cảm động là những người này là những cư sĩ trí thức Phật giáo có vai trò hạt nhân ban đầu cùng với trí tuệ của Tổ đã đặt nền tảng cho những giai đoạn tổ chức thống nhất Phật giáo Việt Nam sau này được thành công.

Cũng thời gian này, khoa thi Hán cổ đã bị bãi bỏ. Trên thi đàn xuất hiện những bài thơ mới. Rồi những cuộc khẩu chiến về thơ mới thơ cũ xảy ra nẩy lửa. Cuối cùng, thơ mới được chấp nhận trên thi đàn. Và xuất hiện những tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ có nhiều độc giả ái mộ.

Xã hội Việt Nam đang chuyển mình thì Phật giáo càng cần sớm thay đổi để thích hợp với thời đại mới.

Do đó, Phật Học Tùng Thư được thành lập 1932. Và hai năm sau mới chính là mốc thời gian lịch sử của cuộc vận động chấn hưng thống nhất Phật giáo: Hội Phật Giáo Bắc Kỳ ra đời và trụ sở đặt ở chùa Quán Sứ, Hà Nội. Lúc này quả là thời kỳ vàng son của Hội.

Hội đã tụ họp được những nhà trí thức nổi tiếng và thỉnh được Đức tổ Thích Thanh Hanh để suy cử làm Thiền Gia Pháp Chủ của Phật giáo miền Bắc.

Và báo Đuốc Tuệ ra đời. Chủ bút là Hòa thượng Phan Trung Thứ và trưởng ban biên tập- nhà sử học Trần Trọng Kim cùng với các cây bút nổi tiếng như nhà nho Dương Bá Trạc, nhà văn Đồ Nam Tử, nhà báo Sở Cuồng Lê Dư, và nhà Phật học Thiều Chửu...

Năm tháng trôi qua, ‘Hội vẫn tích cực in kinh sách và báo Đuốc Tuệ vẫn phát hành như thường lệ. Hội còn trù bị xuất bản một tờ nhật báo lấy tên là 'Tinh Tấn' nhưng vì giấy khan hiếm nên chỉ mới ra mỗi tuần ba kỳ vào các ngày thứ ba, thứ năm, thứ bảy’ (10). Báo Đuốc Tuệ hoạt động đến năm 1945 được 11 năm và đổi tên là Diệu Âm lúc này Tổ Tố Liên làm chủ bút. Và tên Hội cũng được đổi là Hội Phật Giáo Việt Nam theo sắc lệnh chính phủ.

Tuy nhiên, việc thống nhất Phật giáo Việt Nam vẫn cứ là vấn đề thời sự. Cho nên 'ngày 10 tháng 4 năm 1951, ba vị Pháp Chủ đại diện cho Phật giáo toàn quốc đã ra lời hiệu triệu chiêu tập kỳ họp đại hội đồng để thành lập Hội Phật Giáo Thống Nhất toàn quốc'.

'Kết quả, hội nghị đã nhất trí thông qua bản điều lệ và nội quy của Hội cũng như bầu được ban tổng trị sự cùng các ủy viên. Đúng 18 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1951 hội nghị bế mạc'. (11)

Hội lấy tên là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.

Đến giai đoạn này, Phật Giáo Việt Nam đã bắt đầu hướng về quốc tế. Nhưng cuộc vận động thống nhất Phật Giáo vẫn chưa kết thúc. Phật giáo Việt Nam muốn thay danh xưng Tổng Hội ra Giáo Hội cho chính danh của một tổ chức Tôn giáo dân tộc mà lịch sử Việt Nam mặc nhiên thừa nhận.

Ngay phần mở đầu chương 'Giáo Hội Tăng Già Việt Nam' của Hồi Ký, Tổ viết:

'Có người hỏi: trong Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đã có Tăng già rồi nhất là viện Tăng Thống đã giữ phần tối cao cho toàn thể Phật giáo, cùng chung một tôn chỉ, mục đích là hoằng dương Phật pháp, giữ vững tinh thần dân tộc... Sao lại còn phải tổ chức Giáo Hội tăng Già Việt Nam? Giáo hội với Hội Phật Giáo có khác gì đâu?

Đứng về phương diện Hội mà nói tức là hiệp hội, các hội liên hiệp lại cùng nhau lập một hội để tiến hành theo chung một mục đích. Đây phải được nhà nước cho phép hay bắt giải tán. Hoặc tự những người trong tổ chức hội không muốn liên hiệp cùng nhau nữa, tự động giải tán và chỉ báo lại cho Nhà Nước là tan hội. Đối với pháp luật không còn gì nữa.

Còn nói về Giáo hội: chỉ những người thuần túy triệt để tín ngưỡng theo tôn chỉ giáo lý của vị giáo chủ sáng lập ra (thí dụ như Đức Phật Thích Ca sáng lập ra Phật Giáo), truyền bá giáo pháp của Ngài đã chứng ngộ cho chúng sinh nói chung, nói riêng là những người thay Ngài trong khi còn tại thế cũng như lúc Ngài đã viên tịch để duy trì, truyền bá giáo pháp ấy càng ngày càng sâu rộng và đời đời còn mãi.vậy phải là những người chân chính xuất gia như các tăng ni mới đảm nhiệm được việc đó, cũng như con cái giữ gìn cơ nghiệp của cha mẹ. Còn những người tại gia tu theo Phật pháp chỉ như những người học trò với thầy giáo thôi'. (12)

Đọc những dòng viết trên của Tổ, tôi không khỏi kinh ngạc, sững sờ tự hỏi tại sao thời đó Tổ lại có cái nhìn quán triệt về danh xưng tổ chức như vậy nhất là có lần tình cờ khi đọc 'A Study of History' (nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải) của Anold Tonynbee định nghĩa về xã hội:

‘Xã hội là hệ thống hoàn chỉnh của những liên hệ giữa con người với nhau. Do đó, các thành tố của xã hội không phải là những con người mà là những liên hệ giữa họ với nhau. Trong một cấu trúc xã hội, ‘các cá nhân chỉ là những foci (tiêu điểm) trong hệ thống liên hệ'. Bức tranh minh họa nổi tiếng tên sách Leviatthan của Hobbes hình dung xã hội như một người khổng lồ gồm vô số những hình người bằng người thật, là một hình dung nhân hình hóa sai lầm về hiện thực. Vì vậy, người ta luôn nói tới con người như những 'thành viên' của xã hội hay của một thể chế nào đó tạo thành xã hội (chẳng hạn: một câu lạc bộ, một giáo hội, một giai cấp, một gia đình, một 'nghiệp đoàn'). Một tập hợp người có thể nhìn thấy và sờ thấy không phải là một xã hội mà là một nhóm. Khác với một xã hội, một nhóm có thể tụ lại, tan ra, có thể chụp ảnh được hoặc bị tiêu hủy'. (13)

Và cuối cùng, bản quy chế của Giáo hội được thông qua, Giáo Hội lấy tên là Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, vào ngày 14/9/1952.

Quả vậy, tính thời sự trong văn phong của Tổ có đủ những yếu tố cần thiết cho cây bút thời sự của một nhà báo như Trương Vĩnh Ký - chủ bút tờ Gia Định báo đòi hỏi:

‘Xin các Ngài chớ quên để ngày để tháng hẳn hoi. Phép làm chuyện phải kể tại chỗ nào? Ngày nào? Tháng nào? Nhơn cớ làm sao? Ban đầu làm sao? Khúc giữa thế nào? Sau hết ra việc gì? Lợi hay hại, may hay rủi, v.v…' (14)

Nói chung, văn phong của Tổ đã thể hiện xứng đáng là một nhà cải cách lớn của Phật giáo Việt Nam nhìn từ trí tuệ lịch sử.

Đêm đã khuya. Tôi gấp tập Hồi Ký Thành Lập Phật Giáo Việt Nam và cuốn Phật Học Ngụ Ngôn để lại trên cái bàn gỗ. Và đi qua nhà Tổ. Tôi thắp lại nén hương vòng bị tắt. Đêm thật yên tịnh. Trong mùi hương, tôi nhớ mấy chữ 'Mỹ Hồ Đức' năm xưa Hòa thượng Trí Tạng viết thảo trên giấy hoa tiên tặng tổ khi Tổ vào thăm miền Nam. Bức thư họa này hàm ý muốn ca ngợi vẻ đẹp đức độ của Tổ đã khởi nguồn cho cuộc vận động thống nhất và chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào tiền bán thế kỷ 20 đến nay vẫn tiếp tục dòng chảy lịch sử của nó không dứt.

Thích Thanh Tùng
Chùa An Lạc
11 /9/2019 Kỷ Hợi

Chú thích:

(1)Phật Học Ngụ Ngôn/Sa môn Trí Hải – NXB. Tôn Giáo, 2015

(2)Gia Đình Giáo Dục/Sa môn Trí Hải – Chùa Quán Sứ , Hà Nội

(3)Hát Ru Việt Nam/Lư Nhất Vũ – NXB Trẻ, 2005

(4), (5), (6), (7) Phật Hóa Tiểu Thuyết/Tuyển tập II – Sa môn Trí Hải – NXB Tôn Giáo, 2001

(8)Đông Kinh Nghĩa Thục/Nguyễn Hiến Lê

(9), (10), (11), (12) Hồi Ký thành lập Hội Phật Giáo/HT. Thích Trí Hải – NXB Tôn Giáo 2004

(13) Nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải/Anold Tonynbee/ nhóm dịch giả Nguyễn Kiến Giang – NXB Tổng Hợp TP.HCM

(14) Lịch sử báo chí Sài Gòn – TP.HCM
(1865-1995)/Nguyễn Công Khanh – NXB Tổng Hợp TP.HCM.

Hòa thượng Thích Trí Hải- bậc Tăng tài có nhiều đóng góp cho Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Hải Phòng

Trong các tăng sĩ tiêu biểu nước ta, hòa thượng Thích Trí Hải nổi bật là một nhà tu hành tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo, thống nhất Phật giáo ba miền và đổi mới cách hoằng dương Phật pháp. Về đời, ngài là một người nhân ái, thông tuệ, có tài trên một số lĩnh vực như mỹ thuật, thiết kế xây dựng, dịch thuật, thơ ca và tổ chức hoạt động.

alt

“Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải (1906-1979) là một trong những bậc cao Tăng đã để lại dấu ấn sâu đậm trên trang sử Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XX. Ngài là bậc long tượng của Phật pháp, đầy đủ “đạo, học, hạnh, nghị” với trái tim nhân hậu, kinh qua đủ bước thăng trầm của nhân thế, nổi chìm của kiếp người, đầy bi hài kịch của kiếp nhân sinh” (1)

Đối với Hải Phòng, Hòa thượng từng có những đóng góp quan trọng cho Phật giáo thành phố trong những năm tháng sau khi giải phóng Hải Phòng (năm 1955).

Nhân kỷ niệm 40 năm ngài viên tịch (7/6/1979 ÂL – 7/6/2019 ÂL ), xin giới thiệu về Ngài với những đóng góp tiêu biểu cho đất nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.

Hòa thượng có pháp danh Thích Thanh Thao, thế danh là Đoàn Thanh Tảo, đạo hiệu Trí Hải, thuộc Sơn môn Tế Xuyên. Ông sinh năm Bính Ngọ (ngày 19/5/1906) tại làng Quần Phương Trung, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ngày nay trong một gia đình Nho giáo sống bằng nghề nông và dệt vải.

Ông có ba anh em (trong đó 2 gái), song thân là cụ ông Đoàn Văn Đích (tự Phúc Thực) và cụ bà Nguyễn Thị Tuất (hiệu Diệu Mậu).

Ngài có duyên với đạo, lúc 12 tuổi đã vào chùa làng theo học Sư cụ Thanh Dương. Khi 17 tuổi, được cha mẹ đồng ý và sư cụ hướng dẫn, giới thiệu, ông chính thức xuống tóc đi tu dưới sự truyền dạy của nhà sư Thích Thông Dũng, tại chùa làng Mai Xá thuộc xã Đồng Lý huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Chẳng bao lâu Ngài được thọ giới Sa Di (Sư bác) ở Tổ đình Tế Xuyên (Chùa Tế Xuyên - Bảo Khám tự, thuộc thôn Tế Xuyên xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Trong những năm tháng học tại Tổ đình Tế Xuyên, để nhân dân, Phật tử trong làng dễ thuộc, dễ nhớ, Hòa thượng đã dùng thơ lục bát chuyển tải giáo lý Phật để dạy cho mọi người mỗi khi họ ra chùa lễ Phật. Vì thế, ngày nay người ta vẫn còn nhớ rất nhiều bài thơ do Hòa thượng làm để dạy dân.

Hòa thượng Thích Trí Hải có năng khiếu hội họa chân dung. Được biết, bức ảnh truyền thần thủy mạc Tổ Phổ Tụ đang được thờ tại Tổ đình Tế Xuyên chính do Hòa thượng Trí Hải trực tiếp họa chân dung  mà hiều người đương thời khen là chính xác. Hòa thượng Thích Trí Hải còn là một người giỏi về mỹ thuật kiến trúc. Ngôi Đại hùng bảo điện chùa Quán Sứ ngày nay và chùa Nam Hải - trụ sở hiện tại của Hội Phật giáo Hải Phòng chính do Hòa thượng vẽ mẫu.

Khi 19 tuổi, lúc còn là Sa di tập sự, nhìn vào thực trạng đau lòng của Phật giáo đang suy vi và bị chèn ép bởi Công giáo, Sa di Trí Hải đã ôm ấp hoài bão chấn hưng Phật giáo, làm sao cho Phật giáo Việt Nam trở thành một tôn giáo chân chính như nó vốn có. Ngài cùng một số tu sĩ trẻ, thành lập nhóm tăng trẻ, lấy tên là Lục Hòa Tịnh Lữ (nghĩa là: những người trong sạch làm bạn cùng nhau, tu theo 6 phép hoà thuận của Đức Phật). Trong nhóm, người cao tuổi nhất là Thích Trí Hải cũng chỉ mới 25 tuổi, số còn lại chủ yếu từ 15 tuổi đến 18 tuổi. Lúc đầu tổ chức này thường bị các bậc cao tăng giễu là “Hội Trẻ Con”, “Hội Chấp Tác”. Nhưng dần theo thời gian, cùng với sự làm việc tích cực và những kết quả cụ thể đạt được, Lục Hoà Tịnh Lữ đã được một số vị cao tăng trong tỉnh Hà Nam tán thành, tham gia. Sau đó, Lục Hoà Tịnh Lữ đã dần lan sang các tỉnh xung quanh như Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, được nhiều tăng sĩ ra nhập.

Cuối năm 1932, Lục Hoà Tịnh Lữ quyết định thành lập một nhà xuất bản Phật giáo có tên gọi “Phật Học Tùng Thư”, với các thành viên ban đầu mà phía xuất gia gồm Thích Thái Hoà, Thích Trí Hải, Thích Hải Châu và phía tại gia có các ông Lê Toại, Trần Văn Giác và Nguyễn Hữu Kha. Mục đích của Phật Học Tùng Thư là biên dịch kinh sách Phật giáo từ Hán ngữ ra chữ Quốc ngữ để ấn hành và truyền bá sâu rộng trong tăng ni, phật tử và quần chúng nhân dân với mong muốn sẽ tiến hành lập Hội Phật giáo khi đã được nhiều người hiểu biết tán thành và khi có cơ hội thuận tiện. Sử dụng chữ Việt và tiếng Việt cho việc hoằng dương đạo Phật là một chủ trương có tinh thần dân tộc của nhà sư Thích Trí Hải bởi ông cho rằng, chữ Việt và tiếng Việt có thể truyền tải đầy đủ được ý nghĩa và thanh âm khi đọc kinh sách hay tụng kinh mà lại tiện cho người Việt khi mà rất ít người biết chữ Nho.

Từ cuối năm 1932 đến đầu năm 1934, Phật Học Tùng Thư đã dịch ra chữ Quốc ngữ được một số kinh sách Phật giáo, trong đó tiêu biểu là các bộ: Kinh Địa Tạng, Kinh Dược Sư, Kinh Phổ Môn, Lịch sử Phật Tổ.

Để hoàn thành được tâm nguyện chấn hưng Phật giáo, Thích Trí Hải đã phải vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ, kể cả thất bại. Nhưng “cũng như con cá sông càng bị ngược nước càng cố tiến lên, việc có khó mới là những việc của những người có chí lớn, thua keo này bày keo khác?” (2).

Trong việc theo đuổi mục đích thành lập Hội phật giáo Bắc Kỳ, Hòa thượng gặp phải sự cản trở của nhiều vị sư trụ trì một số ngôi chùa Hà Nội, nhưng ông đã không nản lòng và xác định hướng đi đúng đắn là phải liên kết với các cư sĩ có tâm, có tài và đoàn kết chặt chẽ với các Tăng sĩ nên cuối năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập cộng hưởng với phong trào chấn hưng Phật giáo trên khắp ba miền đất nước.

Trụ sở của “Phật Học Tùng Thư” ban đầu được đặt tại chùa Mai Xá, tỉnh Hà Nam, nơi Thích Trí Hải đang trụ trì. Nơi đây tuy khá xa thành thị nhưng vẫn thu hút được nhiều người mến mộ đạo Phật, trong đó có các học giả, nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Dư, Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Bá Trạc, v.v… Khi trao đổi về việc thành lập Hội Phật giáo, các vị này đều cho rằng đó cũng là hoài bão lâu nay của họ, là việc cần phải làm ngay để chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Để có thể phát triển công việc, thuận tiện cho việc giao dịch, Phật Học Tùng Thư cần phải có trụ sở ở Hà Nội.

Nhờ tích cực vận động và sự giúp đỡ của ông Lê Toại – một người làm việc trong tòa Đốc lý Hà Nội mà vào ngày lễ Phật Đản mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934), Phật học Tùng thư được phép chuyển về Hà Nội, ở tại chùa Quán sứ và Thích Trí Hải chính thức làm lễ nhập tự.

Ngày 16 tháng 11 năm 1934, với sự kiện Thống sứ Bắc Kỳ Auguste Tholance ký Nghị định số 4283 cho phép thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, (hội quán đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội) đã đánh dấu 10 năm khởi xướng và vận động chấn hưng Phật giáo do Thích Trí Hải và những đồng đạo của mình thực hiện thành công bước đầu.

Danh sách những Hội viên sáng lập Hội theo Tập Kỷ Yếu số 1, ra tháng 5 năm 1935 gồm 32 người.

Trong đó có 27 cư sĩ gồm: 1 người làm nghị trưởng dân biểu Bắc Kỳ; 2 người làm việc tại phủ Toàn quyền; 1 người làm việc tại sở Đốc Lý Hà Nội; 5 người là phán sự Thương chính Hà Nội; 2 người là tham tá trường Viễn Đông Bác Cổ, 6 người là đốc học, kiểm học hoặc giáo học, 2 người là thương gia, chủ nhà in và 5 người là nhà văn, mở hiệu sách.

Họ đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ những năm 1935 – 1945.

Năm 1935, để truyền bá giáo lý và tạo nhận thức đúng về chủ trương của Hội trong việc tương trợ và hệ thống hóa các đoàn thể Tăng Ni Phật tử, Hòa thượng Trí Hải cùng với Hội Phật giáo Bắc Kỳ lập nhà in và xuất bản tuần báo “Đuốc Tuệ”(tiền thân của tập bán nguyệt san Diệu Âm và Phương Tiện sau này). Hòa thượng còn chủ trương xuất bản nhật báo Tân Tiến.

Năm 1936, Ngài đứng ra hưng công tái thiết lại toàn bộ ngôi chùa Quán Sứ với qui mô và kiến trúc mới (trong đó tự tay vẽ thiết kế ngôi Đại hùng bảo điện. Đồng thời, ngài tổ chức đại lễ suy tôn Đại lão Hòa thượng Vĩnh Nghiêm lên ngôi Thiền gia Pháp chủ, và lập trường Tăng học đặt tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội.

Không chỉ là một nhà cải cách, chấn hưng Phật giáo, Thích Trí Hải còn là một người có đầu óc nhìn xa, thấy rộng trong canh tân, làm kinh tế phục vụ hoạt động Phật giáo. Ông đã tích cực vận động để có được 50 mẫu ruộng tại tỉnh Thái Bình nhằm giải quyết vấn đề kinh tế căn bản cho các Tăng sinh yên tâm tu học.

Năm 1943, Ngài phác thảo một chương trình kiến thiết một Đại Tùng Lâm rộng 20 hecta ở ga Thường Tín - Hà Đông, với qui mô rộng lớn, trong đó có ngôi chùa, nhà Pháp Bảo, nhà Tổ, nhà Tăng trang nghiêm, tiện nghi, tiêu biểu cho một cơ sở hoằng dương chính pháp. Ngoài ra còn có những cơ sở giáo dục như trường Tiểu, Trung và Đại học, bệnh viện, siêu thị, nhà dưỡng lão v.v... nhằm phát huy văn hóa dân tộc. Đối với thánh tích Phật giáo, Ngài cũng có kế hoạch trùng tu khu danh lam Trúc Lâm Yên Tử. Các công việc đang tiến hành thì phải dừng lại vì nạn đói khủng khiếp năm 1945 trên miền Bắc.

Giàu lòng nhân ái, Hòa thượng đã làm nhiều việc từ thiện như nuôi trẻ mồ côi, cứu đói trong nạn đói này.

Ngài cùng Hòa thượng Tố Liên và cư sĩ Thiều Chửu thành lập Tổng Hội Cứu tế đặt tại chùa Quán Sứ - Hà Nội để giúp đỡ những người đói khổ, dựng lên một cô nhi Viện nuôi hơn 200 trẻ thất lạc, bơ vơ và lập Trại nuôi đồng bào bị đói tại Ngã Tư Vọng - Giáp Bát (Hà Nội), cứu đói cho hàng nghìn người.

Ngày 30/8/1945, tại chùa Phương Mỹ (nay thuộc xã Mỹ Đồng – Thủy Nguyên), Hội Phật giáo Cứu quốc huyện Thủy Nguyên được thành lập, do ông Lương Ngọc Trụ làm chủ tịch, Thượng tọa Thái Hòa làm Trưởng Ban Chấp hành. Đây là phủ bộ đầu tiên ở Bắc Bộ thành lập Phật giáo Cứu quốc. Các hoạt động đặc thù của Phật giáo như cứu tế xã hội tiếp tục được phát huy với vai trò nổi bật của các Thượng tọa Trí Hải, Tố Liên...

Với những đóng góp đáng kể và kinh nghiệm trong việc làm từ thiện, Thượng tọa Trí Hải được mời làm cố vấn cho ông Nguyễn Văn Tố - Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Có thể nói, trong số các nhà sư và cư sĩ đầy nhiệt huyết với việc đổi mới Phật giáo miền Bắc, có Hòa thượngTrí Hải. Suốt cuộc đời tu tập và hoạt động của mình, Hòa thượng luôn chú tâm xây dựng các mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Phật giáo và gắn kết với các tổ chức xã hội khác.

Năm 1951, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập tại Huế, 6 tổ chức Phật giáo suy tôn Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và Hòa thượng Trí Hải  làm Đệ nhất Phó Hội chủ. Năm 1952, trong Đại hội Phật giáo miền Bắc, Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Đại hội đã suy cử sư tổ Tuệ Tạng lên ngôi Thượng Thủ và bầu Thích Trí Hải làm Trị Sự Trưởng và tháng 11/1952 ông được cử làm Phó trụ trì chùa Quán Sứ. Khi đó Hòa thượng Trí Hải mới 46 tuổi.

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Hải Phòng nằm trong khu vực tập kết 300

ngày. Do sự tuyên truyền nói xấu cách mạng, lôi kéo di cư vào Nam của các thế lực thù địch mà nhiều người dao động, hoang mang, sinh ra cảnh kẻ ở người đi, Phật tử lo lắng. Hòa Thượng Trí Hải được Tổng hội Phật giáo điều xuống giúp Phật giáo Hải Phòng. Dù có người thuyết phục Ngài vào Nam để bảo đảm một tương lai tốt đẹp nhưng ông kiên quyết ở lại miền Bắc để hành đạo với niềm tin chính trực.

Trong việc xây dựng ngôi chùa trụ sở Hội Phật giáo Hải Phòng (chùa Nam Hải), Hòa thượng đã tự tay vẽ bản thiết kế chùa phù hợp tình hình tài chính có được và kiên trì vận động xây dựng. Trong 3 tháng chùa đã hoàn tất để làm Phật sự và ổn định tinh thần cho Phật tử rằng chính quyền tôn trọng tự do tín ngưỡng. Ngày 30 tháng 11 năm Giáp Ngọ (1954), chùa làm xong bằng xi măng, cốt thép, nền cao 1m, diện tích 400 m2 , lát toàn gạch hoa. Ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (đầu năm 1955) chùa khánh  thành. Có chùa mới, các Phật tử, tu sĩ ở Hải Phòng phấn khởi, vui mừng, nhiều người không đi vào Nam nữa mà ở lại Hải Phòng tu hành Phật đạo. Cơ duyên đã khiến Hòa Thượng gắn bó quãng đời còn lại với Hải Phòng tại ngôi chùa này cho đến khi viên tịch.

Năm 1958, Hòa thượng tham dự Hội Phật giáothống nhất Việt Nam ra đời tại miền Bắc, do tuổi cao và sức khỏe, ngài không giữ một cương vị nào trong Hội và chuyên tâm xây dựng, tôn tạo lại một số ngôi chùa ở Hải Phòng; nghiên cứu kinh sách, hướng dẫn Phật tử; dịch tác phẩm văn học Phật giáo và hoàn thành dịch được 30 bản kinh có giá trị từ chữ Hán sang quốc ngữ. Hòa thượng có  nhiều  công lao cổ xúy thực hiện việc tụng kinh bằng tiếng Việt cho tăng ni, Phật tử miền Bắc thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc.

Với hơn 200 bài báo đăng trên các báo Đuốc Tuệ, Tinh Tiến, Phương Tiện và hơn 40 tác phẩm viết và dịch thuật, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải được coi là một trong những nhà văn hóa lớn của Phật giáo Việt Nam thời cận hiện đại.

Năm 1971-1972, tại Hải Phòng, bằng khả năng am hiểu và thông thạo chữ Nho, Hòa thượng dịch hoàn tất choViện Triết học thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam 3 cuốn sách quý liên quan đến đạo Phật: Khóa Hư lục của Trần Thái Tông hoàng đế, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm, Phật giáo Triết học của Tiểu Dã Thanh Tú (tác giả Nhật Bản). Bằng thể thơ lục bát, song thất lục bát ..v.v..., Ngài diễn giải một cách tài tình giáo lý của Phật tổ và đạo đức Phật giáo như Tâm chúng sinh, Truyện Phật Thích Ca, Phật học ngụ ngôn, Gia đình giáo dục...(3) làm cho người đọc dễ tiếp thu và làm theo. “Phật giáo nhân gian đại cương”, “Phật giáo Việt Nam”, “Phật giáo vấn đáp” là những tác phẩm thể hiện tâm huyết xây dựng một nền Phật giáo nhập thế nước nhà của ông. Cuốn Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam của Ngài được viết xong tại chùa Nam Hải – Hải Phòng ngày 19 tháng 5 năm 1965 là một tài liệu lịch sử quý giá duy nhất trong thư tịch Phật giáo Việt Nam, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về công cuộc chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc qua ngòi bút chân thực của một chứng nhân lịch sử.

Trong 24 năm hành đạo tại Hải Phòng và trước đó, Hòa thượng Trí Hải đã dành nhiều công sức, khả năng biên soạn, ấn hành được tổng cộng 27 tác phẩm:

Nhập Phật Nghi tắc, Nghi thức tụng niệm, Khôn sống, Gia đình giáo dục, Truyện Phật Thích Ca, Phật học ngụ ngôn, Lời vàng, Kinh Thập thiện, Kinh kiến chính, Phật học phổ thông, Phật học vấn đáp, Đồng Nữ La Hán, Cái hại Vàng Mã,

Phật hóa tiểu thuyết, Kinh lục độ tập, Tâm chúng sinh, Thanh gươm trí tuệ, Luận Quán Tâm, Phẩm Quán Tâm, Khóa Hư lục, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Nhân gian Phật giáo Đại cương, Nghi thức Tam quy, Duy Ma Cật và Viên Giác, Các văn sớ, Nghĩa khoa cúng chúc thực, Phật giáo triết học, Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1979, Hòa thượng vào thăm quan miền Nam 3 tuần, được toàn thể tăng ni, Phật tử đón tiếp trọng thị và kính mến. Trở về miền Bắc được ít hôm, Hòa thượng lâm bệnh, đã ra đi nhẹ nhàng vào ngày 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi (30/6/1979) tại chùa Nam Hải – Hải Phòng. Tính ra, Ngài trụ thế 74 tuổi, tu đạo 57 năm. Dù cuộc đời tu đạo của Thích Trí Hải có những nốt trầm nhân thế, nhưng không vì thế mà Ngài bất mãn, bi quan, luôn xác định triết lý nhà Phật “sắc sắc không không”, “đời là giả tạm” để cống hiến hết mình cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp theo quan điểm “Đạo pháp trong lòng dân tộc”.

Phạm Văn Thi

Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức dân gian người Hải Phòng

Trong hoạt động tâm linh của người Hải Phòng, cũng như các vùng khác ở đồng bằng Bắc Bộ, từ xa xưa đã tồn tại song song việc thờ gia tiên tiền tổ với thờ Phật, thờ Tam tòa Thánh Mẫu và cả những nhân thần có công với nước, với dân trong Tứ phủ.

alt

Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn nói đến mối quan hệ tương hỗ giữa việc thờ Phật và thờ Mẫu (Tam phủ, Tứ phủ) trong tín ngưỡng dân gian người Hải Phòng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện từ rất sớm, nó có trước tôn giáo. Khi Phật giáo truyền đến Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hình thành trước đó với việc tôn thờ mẫu Mẹ Âu Cơ và những Mẹ Trời (mẫu Thượng Thiên) Mẹ đất (Mẫu Địa), Mẹ nước (Mẫu Thủy) mà trong niềm tin sơ khai của người Việt là những thế lực có quyền năng sáng tạo, sinh thành, bảo trợ và che chở cho họ.

Thủa mông muội, con người không hiểu những hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, sấm, chớp là từ đâu. Vậy nên mới có tục thờ Tứ Pháp. Khi đạo Phật truyền vào Việt Nam (khoảng 2000 năm nay) tín ngưỡng thờ Mẫu còn được thể hiện qua huyền tích Phật Mẫu Man Nương ở huyện Siêu Loại, hương Mãn Xá (Bắc Ninh nay).

Tại vùng này hiện nay có 5 ngôi chùa cổ: Chùa Dâu thờ Pháp Vân (nữ thần mây), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (nữ thần mưa), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (nữ thần sấm), chùa Dàn thờ Pháp Điện (nữ thần chớp) và chùa Tổ thờ bà Man Nương là mẹ của Tứ pháp (dân gian tôn là Phật Mẫu Man Nương).

Trong cuộc sống xưa, con người ta có biết bao hiểm nguy rình rập, bao nỗi lo sợ tai ương, như vào rừng thì sợ gặp thú dữ, cây đổ, đá đè. Xuống nước thì sợ vực sâu, nước cuốn, sóng gió lật thuyền..v..v. Vậy nên họ mới tưởng tượng ra những thần linh có phép thuật nhiệm màu như Mẫu Nhạc (Mẹ rừng), Mẫu Thoải (Mẹ nước) để tôn thờ, mong những thánh Mẫu tối cao này che chở họ khỏi tai ương. Trong suy nghĩ của con người ta thì người mẹ thường có tình mẫu tử thiêng liêng với những đứa con mình rứt ruột đẻ ra nên tất nhiên phải thương yêu, bảo vệ, ban phát ân huệ cho  con mình. Đó là lý do xuất hiện tục thờ thần Mẹ hay tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thủy, Mẫu Địa) và sau này là Tam Phủ Thánh mẫu (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) của người Việt.

Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu đã có ảnh hưởng tương giao với các tôn giáo và tín ngưỡng khác như đạo Phật, đạo Lão nên mới có hiện tượng tôn giáo đồng nguyên (cùng được phối thờ). Có thể coi đây là sự hỗn dung tôn giáo-tín ngưỡng.

Tại các chùa, đền, phủ hiện nay, ngoài việc thờ Phật, người ta còn thờ cả thánh, thần theo kiểu tiền Phật, hậu Thánh. Ở những nơi này, bên cạnh ban thờ Phật với hệ thống tượng pháp và đồ thờ bao giờ cũng có ban thờ Mẫu Tam phủ  và Tứ phủ với ban thờ Tam tòa Thánh mẫu hoặc hệ thống tượng Tứ phủ công đồng.

Tín ngưỡng thờ Tam phủ - Tứ phủ tuy có những quan điểm khác nhau nhưng lại không hề mâu thuẫn bởi vì chung quy lại đó đều là tôn thờ Thánh Mẫu, tôn thờ toàn vũ trụ với quan niệm dân gian:

– Đệ nhất thượng thiên

– Đệ nhị thượng ngàn

– Đệ tam thoải phủ

– Đệ tứ khâm sai (Đệ tứ địa phủ).

Đa phần các chùa tại thành phố Hải Phòng hiện nay, ngoài thờ Phật là chính đều phối thờ cả Tam tòa Thánh Mẫu với ban thờ riêng, thậm chí có chùa còn lập một gian riêng như điện thờ Tam phủ trong đó (như chùa Dư Hàng, chùa Lạc Viên). Tuy nhiên cũng có chùa chỉ thờ Phật, không thờ Mẫu như chùa Nam Hải (trụ sở Hội Phật giáo Hải Phòng) và Phổ Chiếu.

Lại có nơi trong đình (vốn thờ thần Thành hoàng làng) người ta lại thờ cả Tam tòa thánh Mẫu (như đình Hàng Kênh). Điều này có cái gì đó không hợp lý bởi thần Thành hoàng theo xếp bậc trong thần điện Việt Nam chỉ là Hạ thần hay Trung thần, trong khi đó ba vị nữ thần của Tam phủ được coi là bậc Thượng đẳng thần. Người ta chỉ có thể phối thờ vị thần bậc thấp trong đền thờ vị thần bậc cao chứ không thể thờ thần bậc cao tại nơi thờ thần bậc thấp hơn. Nói về những bất cập trong tín ngưỡng dân gian hiện nay còn có nhiều chuyện phải bàn.

Với việc nhân dân tôn thờ bà Chúa Liễu Hạnh là Đệ nhất Thánh Mẫu trong Tam phủ Thánh Mẫu đủ thấy vị trí linh thiêng của Mẫu Liễu Hạnh như thế nào trong tâm thức dân gian. Từ việc thờ Tứ phủ Thánh Mẫu, có nơi, có lúc người ta đồng hóa Mẫu Liễu Hạnh với Mẫu Địa để chỉ còn tôn thờ Tam tòa Thánh Mẫu thì có thể nói Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh Mẫu tối cao trong Thần Đạo Việt Nam và bà cũng là người phụ nữ duy nhất mà dân gian suy tôn trong 4 vị thánh bất tử của người Việt.

Như nhiều nơi trên miền Bắc, ở thành phố Hải Phòng cũng có đền thờ mẫu Liễu Hạnh. Đó là Phủ Thượng Đoạn thuộc phường Đông Hải 1, quận Hải An. Nơi đây là nơi thờ chính của bà, gắn với truyền thuyết về một lần bà và thị nữ đi thuyền du ngoạn đến đây và giúp dân trừng phạt một tên cường hào hại dân rồi được dân dựng miếu tôn thờ. Theo truyền ngôn, phủ được tôn tạo khang trang vào thế kỷ 16. Tại đây lưu giữ 23 bản sắc phong có niên đại 1846 – 1924. Các vua nhà Nguyễn phong chúa Liễu Hạnh là Thượng đẳng thần và cho được phụng thờ tại xã Thượng Đoạn (xưa).

Hàng năm vào dịp đầu tháng 3 âm lịch, phủ Thượng Đoạn mở lễ hội theo lối cách nhật với các hoạt động tế, lễ của 3 phường. Đặc biệt trong lễ hội có nghi thức rước kinh sách từ chùa Vẽ về Phủ để phối thờ. Đây là một hoạt động của lễ hội nhằm nhắc lại sự tích của Thánh Mẫu: tương truyền trong một kiếp hoá thân, chúa Liễu đã quy theo Phật nên lễ hội của phủ có nghi thức rước kinh Phật.

Mẫu Liễu Hạnh được thờ ở một số đền, phủ, bản điện và phối thờ trong hầu hết các chùa ở Hải Phòng với vai trò là Giáo chủ của Tam phủ Thánh Mẫu.

Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, người dân Hải Phòng còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, nữ tướng tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất hiển thánh trong quan niệm người Việt để hộ quốc tì dân,phù hộ cho quốc thái, dân an, mưa thuận, gió hòa. Có thể kể ra đây một số nhân thần tiêu biểu được ca ngợi công đức trong các giá hầu Thánh nữ như:

1. Chúa Bà Đệ tam Lâm Thao, còn gọi là chúa Ót (cách gọi chệch của “Út”), là vị Thánh cô thứ ba trong Tam vị Chúa Mường (thuộc Nhạc phủ). Tương truyền, bà là công chúa con gái Vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt nhưng hết lòng giúp vua cha lo quân lương trong các cuộc chiến trận. Ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam chữa bệnh cứu giúp dân lành. Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm Phật để cầu cho quốc thái dân an. Chúa Lâm Thao được thờ chính tại đền Lâm Thao ở Cao Mại, Việt Trì, Phú Thọ. Ở Hải Phòng, chúa Bà Đệ Tam Lâm Thao được thờ ở đền Nguyệt Cư phủ bên bờ sông Tam Bạc, dưới chân cầu mới do C.ty TNHH Sơn Trường xây dựng.

2. Bát Nàn Đông nhung Đại tướng quân (tên thật là Vũ Thị Thục), quê gốc ở Phượng Lâu, Việt Trì (Phú Thọ) - một trong số các tướng tài ba nhất của Hai Bà Trưng có công cứu nước, cứu dân từ buổi đầu kháng chiến chống quân Đông Hán xâm lược.

3. Đệ nhị Vương cô nhà Trần (tên thật là Trần Thị Tĩnh - con gái thứ hai của Hưng Đạo Đại Vương). Bà là vợ tướng quân Phạm Ngũ Lão, đã có công giúp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và chồng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược.

4. Bà chúa Thác Bờ (tên thật là Đinh Thị Vân), con gái một gia đình tộc trưởng người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình) đã có công giúp vua Lê Thái Tổ vận chuyển quân qua sông, dẹp loạn ở đèo Cát Hãn (Mường Lễ-Sơn La) .v.v…

Những nhân thần hiển Thánh trong quan niệm dân gian này thường được người ta thỉnh trong các giá hầu thánh tại các đình, đền, phủ có thờ Tam phủ, Tứ phủ hoặc bản điện tư gia.

5. Ở Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân – người có công lập lên trang An Biên (tiền thân của thành phố Hải Phòng) và giúp Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán, trấn thủ Hải Tần, được Vua Trưng phong chức Trưởng quản binh quyền, tước vị Thánh Chân Công chúa cũng được dân gian địa phương tôn làm Thánh Mẫu với đền thờ chính là Đền Nghè, chùa Vẻn (phối thờ), đình An Biên. Tại núi Voi, huyện An Lão Công trình tu bổ, tôn tạo đền thờ Nữ tướng Lê Chân (vốn trước đó Bà được phối thờ trong chùa Hang dưới chân núi) được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2013 trở thành một Di tích lịch sử của Thành phố nhằm tưởng niệm nữ tướng Lê Chân. Nơi đây được xem là căn cứ hậu cần, tích trữ lương thảo và rèn luyện  nghĩa quân xưa của Nữ Tướng.

Với việc trấn thủ vùng ven biển Đông Bắc, chú trọng chăm lo đời sống nhân dân, khuyến khích nghề nông, khai mở trang ấp, đoàn kết quân – dân Hải Tần để bảo vệ vùng ven biển nên nữ tướng Lê Chân được người Hải Phòng tôn thờ như Thành Hoàng bản thổ.

Tại Hải Phòng trong 3 dịp lễ trọng: Ngày 8-2 (âm lịch) ngày sinh của bà; ngày 15-8 (âm lịch) ngày thắng trận; ngày 25-12 (âm lịch) ngày mất của bà, nhân dân đều tổ chức cúng tế long trọng. Đặc biệt Lễ hội Nữ tướng Lê Chân vào tháng 2 âm lịch hàng năm bây giờ đã trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia của thành phố.

Nữ tướng Lê Chân được nhiều vùng trên miền Bắc tôn thờ. Tại căn cứ Lạt Sơn xưa (thuộc Hà Nam) - nơi bà tổ chức chiến đấu đến cùng chống quân Mã Viện và tử tiết, có ngôi đền thờ vị nữ tướng anh hùng quanh năm khói hương. Nơi đây trên vách đá thung Bể còn lưu lại ba tấm bia niên đại năm 1671 - 1672 triều vua Lê Gia Tông thời Hậu Lê suy tôn nữ tướng với những danh hiệu cao quý. Bia nói đến việc xây chùa Thánh Chân (khởi nguồn là Tiên động Thánh Chân), một bia có khắc hình con hổ, gợi liên tưởng đến sự dũng mãnh của nữ tướng Lê Chân, điệp thêm sự tôn kính, nâng Bà lên hàng Thánh Mẫu, Phật Mẫu.

6. Còn một nhân vật lịch sử khác là Vũ Quyến Hoa đã giúp Ngô Vương Quyền lo quân lương, hậu cần, góp phần vào chiến thắng Bạch Đằng năm 938, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của nước ta. Bà được Ngô Vương phong Vũ Quận Chúa Quyến Hoa và được nhân dân tôn làm Vũ Quyến Hoa công chúa, coi là Chúa Ngũ phương cai quản 5 phương trời đất trong tín ngưỡng dân gian. Nếu chúng ta biết rằng bà Bùi Thị Từ Nhiên, người đã giúp Hưng Đạo Đại Vương lo quân lương trong trận Bạch Đằng năm 1288 chống quân Nguyên Mông thắng lợi và được ông phong Nữ tướng cũng không được dân gian tôn xưng như vậy thì đủ thấy Chúa bà Vũ Quyến Hoa có vị trí thế nào trong tâm thức dân gian.

Bà Vũ Quyến Hoa sinh ra trong một gia đình họ Vũ tại làng Gia Viên (xưa có tên là làng Cấm), nay thuộc quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Nhờ tài đảm lược, bà được Ngô Vương Quyền trao quyền cai quản toàn bộ quân nhu tại căn cứ Gia Viên quê bà trong trận thủy chiến chống quân Nam Hán xâm lược. Ngày thác của Chúa là ngày 16 tháng 6 (ÂL) khoảng năm 939 – 944.

Năm 1924, vua Khải Định sắc phong cho bà là “Vũ quận Quyến hoa Công chúa Tôn Thần”

Theo thần tích, bà là một vị tiên nữ trên Thiên Đình, được giáng trần để giúp nước, che chở cho dân. Khi mất, bà hồi tiên và được Thiên tiên Thánh Mẫu giao quyền cai quản năm phương trời đất, bản cảnh bản xứ ngũ phương vậy nên được dân gian tôn xưng là Bà Chúa Quận Năm Phương (hay còn có tên khác là Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa). Người ta thờ Chúa Bà Ngũ phương ở nhiều nơi trên đất Hải Phòng như chùa Cấm tên chữ là Cấm Giang Bản Cảnh Linh Từ hay Nguyệt Quang Tự. Nơi đây ngoài thờ Phật, trong hậu cung bản tự có tượng Chúa Bà rất đẹp, uy nghiêm trong trang phục màu trắng; Đền Tiên Nga ở phố Lê Lợi hay đền Chúa Bà Năm Phương ở Đồ Sơn tại ngõ 155 phố Suối Rồng, khu 1 quận Đồ Sơn; Đền Bảo Phúc tại 12 - phố Trần Phú. Đây là một ngôi đền nhỏ hiện nằm trong khuôn viên của khách sạn Habeview. Ngôi đền này mới được xây dựng trên cơ sở một ngôi miếu thờ Chúa Năm Phương; Ngôi đền tại số 1 - phố Lê Hồng Phong: Trước đây chỉ là một miếu thờ nhỏ thờ Chúa Năm Phương, sau thành ngôi đền đẹp do một công ty xây dựng phát tâm công đức khi được cấp mảnh đất xây dựng trung tâm thương mại tại đây. Ngoài ra, ngôi miếu nhỏ dưới tán cây đa 13 gốc thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, nơi tương truyền bà về ngự khi đền thờ bà ở ngã 3 vườn hoa Chéo bị phá bỏ cũng quanh năm có khói hương thờ cúng.

Ngày 16/6 âm lịch là ngày thánh hóa của bà Vũ Quận Quyến Hoa. Vào ngày này, các đềnthờ Chúa Bà Năm Phương đều tổ chức tế lễ. Cần nói thêm, tại những nơi thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền, nhân dân đều phối thờ cả Vũ Quận chúa Quyến Hoa.

Vũ Quận Quyến Hoa được xếp vào hàng thánh cô trong Tứ Phủ Chầu Bà. Trong các giá hầu tại Hải Phòng và một số vùng lân cận, người ta thường thỉnh bà trước giá Chầu Năm suối Lân (một Thánh Cô thuộc Sơn trang Thượng ngàn). Y phục của Chúa Bà Ngũ phương trong giá hầu đều có mầu trắng (kể cả cỗ xe tay mà bà ngự theo giai thoại). Có lẽ vì vậy dân gian còn gọi Bà là Bạch Hoa Công chúa.

Có một người phụ nữ thời nhà Mạc cũng được người dân Hải Phòng và vùng phụ cận thời đó coi như Mẫu nghi thiên hạ, Phật sống ở trần gian, đó là Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn - chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Tên tuổi của Bà đã xuyên suốt cả 3 đời vua đầu khi nhà Mạc thịnh trị. Bà là người làng Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng nay - một người có lòng nhân ái, mộ đạo Phật.

Theo cứ liệu lịch sử: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời, Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật. Nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Theo cứ liệu lịch sử: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời, Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật. Nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Thái Hậu “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành Nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn – nhà Hạ” như văn bia thời Mạc ghi việc trùng tu chùa Bảo Lâm, xã Trâu Bộ, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. (Bia  tạo tháng Giêng năm Kỷ Mùi, niên hiệu Quang Bảo thứ 5 (1559), triều vua Mạc Phúc Nguyên.

Vào năm 1562, khi vương triều Mạc còn thịnh, Thái Hoàng Thái Hậu đã kêu gọi các hoàng thân quốc thích trong Hoàng tộc khác cùng đóng góp, dựng nên ngôi chùa Thiên Phúc ở làng Hòa Liễu và mấy chục chùa khác ở các nơi. Bà cũng là người có công lập ra ấp Lan Niểu, nay là làng Hòa Liễu xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy và lập ra hội Minh Thệ (thề trong sáng, ngay thẳng) mà hiện nay người dân địa phương vẫn kế thừa được. Đây được coi là lễ hội chống tham nhũng độc đáo duy nhất ở nước ta và là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.

Riêng tại Hòa Liễu, bà xuất tiền mua 25 mẫu 8 sào ruộng cúng Tam bảo. Nhiều vị trong hoàng tộc hưởng ứng, số tiền quyên góp dư ra để mua 47 mẫu 3 sào. Từ số ruộng đó, làng cho nhà chùa 4 mẫu để cày cấy, còn lại làm ruộng công để dùng cho người có nhu cầu “đấu thầu” để canh tác. Những người nhận ruộng công sẽ phải trả lại một phần hoa màu để làm một “quỹ” dự trữ dùng vào việc cứu đói, giúp người nghèo, người cô đơn, quả phụ. Việc làm này có ý nghĩa nhân văn rất lớn, được nhân dân ghi nhớ, biết ơn.

Ngày 15/6 âm lịch hàng năm là ngày giỗ của bà. Để tưởng nhớ công đức của Thái Hoàng Thái Hậu, dân làng Hòa Liễu và chính quyền địa phương hiện nay đều tổ chức cúng tế long trọng. Người dân Hòa Liễu tôn thờ bà cùng Long Vân Thiên quan Đại vương như hai vị Thành Hoàng bản thổ.

Bà Vũ Thị Ngọc Toàn là người có nhiều công lao nhất trong các thành viên hoàng tộc nhà Mạc khi hưng công, xây dựng chùa chiền và hoằng dương Phật pháp. Bà được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Tổng cộng, Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng tiền bạc cho trên chục ngôi chùa ở Hải Phòng và các tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh…

Bà quả là một người đã dốc toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo dưới triều Mạc.Với những công lao nói trên, bà được dân gian tôn xưng là “Mẫu nghi thiên hạ”, “Phật sống giữa trần gian”. Bà còn được nhân dân, tín đồ Phật tử nhiều làng xã tạc tượng chân thân để tôn thờ trong các chùa chiền, đền, miếu với nhiều tư cách khác nhau, như hậu Phật, sư Tổ, hậu Thần, thành hoàng, thánh Mẫu…

Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan Âm. Đến nay, một số chùa ở Hải Phòng và một số nơi còn lưu giữ được nhưng pho tượng Hậu Phật bằng đá (tương truyền là chân thân của Bà). Đó là hình tượng một người phụ nữ nông thôn ngồi bình thân, mình đậm đà, đầu đội mũ vành cao, trang trí hoa dây, khuôn mặt sáng láng toát lên vẻ phúc hậu. Đây là tượng Hậu Phật được tôn lên hàng Quan Âm.

Dù được dân chúng Hải Phòng nói riêng và xứ Đông nói chung tôn sùng như vậy nhưng bà Vũ Thị Ngọc Toàn lại không được triều Nguyễn phong sắc, có lẽ vì triều Mạc bị các sử gia phong kiến coi là ngụy triều (cướp ngôi nhà Lê) chăng?.

Tín ngưỡng thờ Mẫu đóng vai trò quan trọng trong việc dung nạp các tín ngưỡng thờ thần nữ ở nước ta và góp phần hòa đồng các tín ngưỡng, tôn giáo như Thánh, Thần, Phật…với mục đích phù hộ độ trì cho con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng bản địa (do người Việt sáng tạo nên) còn có sự ảnh hưởng ngược lại đối với tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Công giáo…Tuy nhiên phải nhận thấy rằng, chỉ có tôn giáo nào gần gũi với quan điểm sống và nhận thức người Việt Nam như đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho mới được dung nạp đồng nguyên trong việc thờ phụng. Trong chùa, ngoài việc thờ Phật người ta còn thờ cả Tam tòa Thánh Mẫu và tòa Sơn Trang và ngược lại, tại đình, đền, phủ, ngoài việc thờ thần người ta cũng thờ cả Phật và đôi khi cả Thánh đạo Nho, Lão như Khổng Tử, Lão Tử. Tuyệt nhiên không thấy đâu trong những nơi này lại thờ cả Chúa Ki Tô hay Thánh A-La đạo Hồi. Đó chính là bản sắc riêng độc đáo của văn hóa tín ngưỡng người Việt.

Phạm Văn Thi

Kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử, văn hóa

Ngày 11/7/2019 tại hội trường tầng 3, Sở Khoa học và Công nghệ, số 1 Phạm Ngũ Lão, TP Hải Phòng; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hải Phòng đã tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ “Kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử, văn hóa”.

alt

Hội nghị đã nghe PGS. TS Nguyễn Văn Tiến- Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thuyết trình chuyên đề: Kiến trúc truyền thống các di tích lịch sử, văn hóa; bao gồm các mục: Kiến trúc cổ Việt Nam; Một số loại hình kiến trúc truyền thống tiêu biểu. Hội nghị nghe ông Nguyễn Đình Chỉnh- Phó Chủ tịch TT Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng thuyết trình chuyên đề: Bài trí thờ tự trong di tích lịch sử văn hóa; bao gồm các mục: Đối tượng thờ; Các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng; Nguyên tắc bài trí thờ tự; Văn miếu, văn từ, văn chỉ.

alt

Chương trình với mục đích trang bị thêm kiến thức cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, quản lý văn hóa, thực hành tín ngưỡng của thành phố về kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử văn hóa.

MT

Những dấu ấn lịch sử vàng son của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng

alt

Thượng toạ Thích Thanh Giác

(Uỷ viên HĐTS- Phó Trưởng ban Thường trực Ban Hoằng pháp TƯGHPGVN

Phó trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN thành phố Hải Phòng)

- Cách đây 710 năm ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16, đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn tại Am Ngoạ Vân, trên non thiêng Yên Tử, thọ 51 tuổi. Ngài là vị vua thứ ba của triều Trần (1225-1400) đầy hiển hách. Trong suốt 15 năm trị vì đất nước (1278-1293). Hoàng đề Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278) Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284). Trùng hưng (1285-1293). Năm 1293 Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, nhưng Ngài vẫn chỉ đạo và giám sát nhà vua. Vốn sùng kính Đạo Phật từ nhỏ. Năm 1295 Ngài đã đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc thôn Vũ Lâm xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) tập sự xuất gia (1). Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299) năm 41 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được Quốc sư Huệ Tuệ thọ giới lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài được nhận là người truyền thừa chính thức của thiền phái Yên Tử thuộc thế hệ thứ sáu sau Thiền sư Huệ Tuệ. Việc xuất gia lần này của Trần Nhân Tông đã tạo lên một sự chấn động lớn, một sự bàng hoàng trong dân chúng, bởi đây là hiện tượng có một không hai, không chỉ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới. Tiếp đó Ngài đã thu nhận Đồng Kiên Cương (Pháp Loa) và Huyền Quang... làm đệ tử. Trước khi viên tịch, Ngài truyền y bát cho Pháp Loa làm Đệ Nhị Tổ. Pháp Loa truyền y bát cho Huyền Quang thuộc thế hệ thứ ba. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được hậu thế tôn vinh là “Trúc Lâm Tam Tổ”. Do uy tín, đức độ, trí tuệ siêu việt của Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã quy tụ được các tông phái Phật giáo Đại Việt thời bấy giờ thành một tổ chức Phật giáo thống nhất.

- Sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với dân tộc nổi trội trên ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước. Trên cả ba lĩnh vực, Ngài đã có những đóng góp hết sức đặc biệt. Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới một người như Phật hoàng Trần Nhân Tông hiếm thấy xuất hiện. Dưới sự lãnh đạo tối cao của Ngài, dân tộc ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (1285 và 1287 - 1288) giữ vững nền tự chủ đất nước trước tham vọng xâm lăng của đế chế Nguyên Mông, một đế chế hung hãn nhất thời đại hầu như chưa chùn bước trước bất cứ một đối thủ nào ở cả hai lục địa Á - Âu. Đơn cử như trên đất Hải Phòng; khi Ngài còn làm tổng chỉ huy đích thân xông pha trận mạc chống giặc Nguyên Mông xâm lược, Ngài và quân đội nhà Trần đã nhiều lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân và Tăng Ny Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển sông Bạch Đằng. Giữa lúc nguy khốn nhất bị giặc baoo vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trần Lịa người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo xấu, dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người bí mất đưa Ngài và Thượng hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phân công chiến lược. Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ). Chùa Vẽ (Linh Hoa Tự) ở làng Đoạn Xá giúp đỡ việc quân lương. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sỹ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288. Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Đặc biệt là các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở huyện Thái Thuỵ, tức cung điện dã ngoại (gọi là Cung Trần Vương) của vua Trần Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hoá đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo.

- Đề cập tới động cơ tu hành của Điều Ngự Giác Hoàng đệ nhất Tổ Trúc Lâm, không thể không nhắc đến vai trò ảnh hưởng to lớn của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đạo hiệu Tuệ Trung Thượng Sỹ. Sách Tam Tổ Thực lục chép rằng: “Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thu lượm được nhiều tinh hoa của Đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung làm thấy”. Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (mẹ của Trần Nhân Tông). Trần Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã nhiều lần làm sứ giả đến trại giặc đề nghị hoà và thám thính ở Tổng hành dinh Thoát Hoan. Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ động “Toàn dân duy binh, tông tử duy thành” (Toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là pháp cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên rậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên Mông (từng được cử làm Phó tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc Công Tiết chế Trần Hưng Đạo đâm trách), nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đã được vua Trần giao trấn thủ miền biên ải Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Trước đó Hưng Ninh Vương Trần Quốc Rung được ban thái ấp Vạn Niên, hiện chưa xác định được địa điểm cụ thể. Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, có lẽ ấp Vạn Niên gần ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo. Ở vùng Dưỡng Chính xã Chính Mỹ của Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung. Các bậc cao niên địa phương giải thích về tên làng Dưỡng Chân vốn được bắt nguồn từ sự kiện đạo quân của nhà Trần, trong 1 lần hối hả hành quân ra vùng cửa biển để xây dựng thế trận Bạch Đằng năm 1288 đã dừng chân nghỉ đêm tại đây. Tịnh thất này nằm trên địa bàn ấp Thang Mộc An Sinh, An Phụ, An Dưỡng, An Bang của An Sinh vương Trần Liễu được cấp sau vụ ông gây bạo loạn “Sông Cái” cuối năm 1236. Tương truyền có lúc hai đức vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã họp bàn kế sách chống giặc với các thân vương, cũng như tham vấn ý kiến của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung tại tịnh thất này. Do có nhiều công lao lớn, nên Hưng Binh vương Trần Quốc Tung được vua Trần ban cho đất đai thực ấp ở làng Dưỡng Chân (sau đổi thành Dưỡng Chính) ở huyện Thuỷ Đường, nay là xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vẫn còn vết tích tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sỹ.

- Ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm bắt nguồn từ mối quan hệ thân tộc giữa Tuệ Trung Thượng Sỹ với đức vua Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã từng được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi bằng Sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho Ngài dạy dỗ. Như chúng ta đã biết Trần Nhân Tông tìm đến Đạo Phật không chỉ với mục đích “Độ” cho mình thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, mà còn tìm những điều giải đáp cho hàng loạt câu hỏi lớn: Con người là ai? Thế giới này có hay không? Thật hay ảo? Vấn đề sinh tử? Sắc không? Việc xuất gia tu hành của Ngài không chỉ đơn thuần giải thoát cho cá nhân mà cả dân tộc. Ngài chủ trương rằng: “Thông qua giáo lý của Đạo Phật để nuôi tâm đạo đức, dạy trí làm người, bồi đắp tinh thần độc lập tự cường, phát huy sự hoà thuận trong nhân tâm trăm họ, tạo ra sự hoà hợp quốc gia, hoà hợp vua tôi, hoà hợp cha con, hoà hợp vợ chồng, hoà hợp gia đình xã hội  tạo cội rễ sức mạnh lâu bền cho quốc gia Đại Việt”. Chính từ động luwcju ấy đã thôi thúc Ngài thực hiện thành công rực rỡ sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Đó chính là tư tưởng chủ đạo vĩ đại nhất trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Ngài.

- Được kế thừa những tinh hoa tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng Sỹ với hai vấn đề cơ bản “Phật tức tâm” và “Lý không” được cô đọng khúc triết trong Cư Trần Lạc Đạo phú (2) bằng chữ Nôm của Ngài.

Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bổn (3)

Ta nên tìm Phật

(Hội thứ 5 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Hay:

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền

(Bài kệ Hội thứ 10 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Và trong bài kệ trả lời Pháp Loa:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thụ đảo,

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng cầu ký não.

Ngài thể hiện rõ ràng lập trường “Lý bất nhị” đập tan thuyết Lưỡng nguyên “Có có - không không” gạt bỏ thuyết đối lập giữa Niết Bàn và sinh tử, chúng sinh và Phật. Theo Ngài “có có – không không” mà cũng chẳng không, chẳng có. Vì các mặt của sự vật quyện chặt vào nhau như dây bìm bìm quấn vào cây.

Thử hữu cố bi hữu

Thử vô cố bỉ vô

Thử sinh cố bi sinh

Thử diệt cố bỉ diệt

Tạm dịch:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì các kia không

Cái này sinh thì cái kia sinh

Cái này diệt thì cái kia diệt

Với cái nhìn phóng khoáng, không bị ràng buộc câu thúc về đạo hay đời. Đạo và đời tuy hai mà một, hoà quyện vào nhau như nước với sữa. Đó là tư tưởng “Tuỳ tục”, “Hoà quang đồng trần”, cùng là kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời hành đạo của Ngài và để lại cho muôn đời sau. Trúc Lâm cũng như Trần Thái Tông rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức thực hiện sự giải thoát, đạt đạo. Ngài đã tận dụng thời gian trong mọi hành động, cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán thiền đạo, không để cho nó trôi qua một cách vô ích, qua bài kệ:

Thân như hơi thở qua buồng phổi

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa

Chim quyên kêu rõ bao ngày tháng

Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (4)

Về sự nghiệp hoằng pháp của Ngài. Sử liệu có ghi: Năm 1034 Ngài chủ trương mở rộng công cuộc giáo hoá, bằng việc “Vân du” khắp nơi, đến tận những vùng quê xa xôi hẻo lánh, để vận động nhân dân xoá bỏ dâm từ (những nơi thờ tự các thần loã thể và sinh thực khí), dạy cho dân biết sống và thực hành giáo lý “Thập thiện” (không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, không tham dục, không sân khuể, không tà kiến). Thủ pháp giáo hoá của Ngài tuy thật đơn giản, nhưng lại trúng với tâm Phật và lòng dân. Bởi cỗi gốc khổ đau hay an lạc của con người đều bắt nguồn từ ba nghiệp thân khẩu ý.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh,

Thanh tịnh, không thanh tịnh

Không ai thanh tịnh ai

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Tự ngã thứ 12)

“Giáo lý nhập thế căn bản của Đạo Phật, đặt trên nền tảng ba nghiệp: Thân – Khẩu - Ý của con người. Từ ba nghiệp tạo lên một mẫu người đạo đức lý tưởng và hài hoà, những con người ấy sẽ tạo thành một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ được những tệ nạn tràn lan. Việc làm của ông phản ánh nguyện vọng của dòng thiền Trúc Lâm muốn xây dựng 1 xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, nhà vua và hoàng tộc đều là Phật tử tại gia và xuất gia, và các dòng phái Phật giáo bấy giờ hội tụ thống nhất trong dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sự kiện này là đỉnh cao của Phật giáo thời Trần. Do vậy vua Trần Nhân Tông còn được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng” (5)

Nhận định về sự nghiệp hoằng pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhà sử học nổi tigến Lê Mạnh Thát đã nhận xét: “Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện để dạy dân chúng, rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt Nam, mà trước đó hơn ngàn năm đã được thi vào trong Kinh Lục Độ tập. Bản kinh này có thể nói là một bài kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tập hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện để làm “Pháp luật quốc gia” (Pháp quốc) làm “Chính sách quốc gia” (Quốc chính) và đây cũng là lần đầu tiên ta thấy Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này” (6)

- Bài pháp vi diệu này cũng là bức thông điệp tâm linh đã lan toả khắp đất Việt, đặc biệt là xứ Đoài xứ Đông, trong đó có Hải Phòng. Tiêu biểu như chùa Phúc Lâm (Dư Hàng), chùa Nguyệt Quang (Đông Khê), chùa Hàm Long, chùa Thiên Vũ, chùa Linh Sơn (Mỹ Cụ), chùa Vẽ (Hoa Linh Tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bản... Trong đó đáng chú ý là công chúa Thiên Thuỵ chị gái của vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang đắp đê ngăn nước mặn mở mang nhiều làng xã ở Kiến Thuỵ và An Lão Hải Phòng ngày nay. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (tức công chúa Quỳnh Trân đạo hiệu là Đại uy Thiên Thánh) đã cho dựng ngôi chùa ở trang ấp Nghi Dương (xã Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ) gọi là chùa Mõ (còn gọi là chùa Nghi Dương). Điều Ngự Giác Hoàng đã nhiều lần về vùng đất này hoằng dương Phật pháp và tới chùa Mõ. Tục truyền, trước khi viên tịch vài ngày, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã về chùa Mõ thăm chị ốm nặng và sau đó công chúa Thiên Thuỵ thác hoá trước Ngài một ngày. Một người chị khác nữa của Ngài là công chúa Chiêu Chinh, cũng bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, đúc chuông, tô tượng, mở chợ bến đò và khai hoang ở vùng đất vẹn sông Lạch Tray (quận Kiến An ngày nay). Theo Ngọc phả đền Kha Lâm: Bà đã để lại cho dân làng 171 mẫu ruộng. Công chúa Chiêu Hoa con vua Trần Thánh Tông cùng chồng là Thái học sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến An) đã dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn, làng Tiểu Trà được nhân dân rất sùng kính. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương toàn hạt dư địa chí, Mục từ miếu huyện Tiên Minh chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua để đi tu ở Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước. Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là “Diên Lão”, lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lá thì rước về thờ sẽ được ch chở. Khi Nhâ Tông nằm trên phiến đá thác hoá, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông, nhớ lời dặn bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông Từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông) rất linh ứng, hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”. Đó là những dấu ấn lịch sử vàng son vô cùng thiêng liêng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng.

- Tóm lại: Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là 1 vị vua anh hùng, là vua Phật của Việt Nam, một con người nhân hậu, một thiền sư yên bác năng động. Nói cho đủ hơn, con người Đức vua Trần Nhân Tông là 1 tổng hợp uyển chuyển của các tác phẩm bậc “Trí sỹ”, tư tưởng của Ngài thể hiện tính nhất quán giữa đạo và đời, xuất thế và nhập thế không ngăn ngại. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác...”. Tư tưởng ấy thuộc về Phật giáo Đại thừa, mà các Đại sỹ Bồ tát đã thể hiện trong các kinh: Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Địa Tạng v.v... với chủ trương “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh”.

- Tư tưởng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông không chỉ dừng ở thành tựu thế tục “Dĩ nhân tâm vi kỳ tâm” để đạt cho được mục đích tối hậu “Non sông muôn thuở vững âu vàng”, mà nó còn vươn tới tầm cao hơn, xa hơn, siêu việt hơn. Đó là thủ pháp sử dụng giáo lý Đạo Phật để tịnh hoá con người và xã hội. Cụ thể là đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của tất cả mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ngoài đời, miền là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏ những hủ tục mê tín, thực hành giáo lý Thập thiện, nhằm xây dựng một mẫu người tốt, gia đình tốt, xã hội tốt, đất nước tốt, tràn đầy an vui hạnh phúc. Tư tưởng ấy đã lan toả toàn cõi Việt, trong đó có Hải Phòng chúng ta ngày nay được thừa hưởng những tinh hoa giá trị ấy.

- Với những thắng duyên ấy, người dân Hải Phòng nói chung và Tăng Ny Phật tử Hải Phòng nói riêng phải chung sức đồng lòng giữ gìn và phát huy làm sao cho thật xứng đáng: “Hải Phòng nơi dấu ấn lịch sử vàng son của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông” ngày càng rực sáng.

TTG

(1) Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo sử luận - Nhà xuất bản Lá Bối - Paris. Tr.335

(2) Cư Trần Lạc Đạo phú - Lê Mạnh Thát, Sđd. Tr.400-418.

(3) Khuấy bồn: Quên gốc

(4) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sđd, tr. 374

(5) Phạm Thế Dương, Sđd, tr. 49-58

(6) Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.208

CLB Hải Phòng học tọa đàm tại Di tích lịch sử cách mạng số 49 phố Lạch Tray

Sáng ngày 27/4/2018 theo lịch hẹn trước với họa sĩ Nguyễn Thị Sơn Trúc (con gái nhà tư sản yêu nước Nguyễn Sơn Hà) - người đang trông coi ngôi biệt thự cũ của gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà ở số 49 phố Lạch Tray, TP Hải Phòng, câu lạc bộ (CLB) Hải Phòng học đã có chương trình tọa đàm về địa chỉ đỏ này. Cuộc tọa đàm nhằm đề xuất phương án lưu giữ, tu tạo cảnh quan ngôi biệt thự của doanh nhân Nguyễn Sơn Hà để nó trở thành di tích lịch sử đẹp và là nơi tham quan của du khách khi đến với Hải Phòng, đồng thời giáo dục lòng yêu nước trong nhân dân.

alt

Ngày 2-4-2010 ngôi nhà 3 tầng ở số 49 Lạch Tray được công nhận là di lích lịch sử cấp thành phố. Theo họa sĩ Nguyễn Sơn Trúc - con gái thứ 9 của cụ Nguyễn Sơn Hà, ngôi nhà được xây dựng từ năm 1939 với sự thiết kế của kiến trúc sư Phạm Bá Chi và từng được tặng giải nhất cuộc thi thiết kế biệt thự Đông Dương thời Pháp thuộc. Ngôi biệt thư xưa là một quần thể nhà ở, vườn hoa, bể bơi đẹp. Rất tiếc, thời gian và hoàn cảnh lịch sử đã làm biến dạng khu biệt thự của nhà tư sản yêu nước Nguyễn Sơn Hà, bể bơi, vườn hoa nay không còn nữa, ngôi nhà cũng xuống cấp nhiều và bị vây lấn bởi các khối khách sạn, nhà dân.

Gian chính biệt thự tại tầng 2 là nơi thờ tự của gia đình với đôi câu đối do nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu tặng doanh nhân Nguyễn Sơn Hà với nội dung: “Hóa học bác âu trường tô điểm sơn hà tâm hữu tất/ Công khoa tồn việt chủng chuyển di thời thế thủ vi cơ”. Nghĩa là: Lấy hóa học của người Âu tô điểm cho núi sông bởi lòng son sẵn có/ Công nghệ và khoa học thay đổi thời thế do trí tuệ làm nên. Hiện trên tường có treo 3 bức ảnh kỷ niệm: bên phải là doanh nhân Nguyễn Sơn Hà, bên trái là bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi (vợ thứ của doanh nhân) và bức ảnh chính giữa là nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu chụp kỷ niệm với bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi. Bức ảnh do chính doanh nhân Nguyễn Sơn Hà bấm máy. Tại tầng 2 ngôi nhà còn lưu giữ nhiều bức ảnh, tư liệu, kỷ vật của gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà qua các thời kỳ; các bài báo viết về những đóng góp của cụ Nguyễn Sơn Hà cho Cách mạng Việt Nam.

Tại ngôi nhà này từng diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, đón tiếp có ý nghĩa lịch sử. Đó là nơi Trung tướng Nguyễn Bình- Chỉ huy Chiến khu Đông Triều tới liên hệ, nhận sự giúp đỡ tài chính cho phong trào cách mạng; nơi nấu và phát cháo cứu đói cho đồng bào trong  nạn đói năm Ất Dậu 1945. Căn nhà cũng được Bác Hồ đề nghị ông Nguyễn Sơn Hà giúp làm nơi đón tiếp ông Tutenge – phái viên Chính phủ Pháp đưa Bác Hồ từ hội nghị Phông-ten-nơ-blô về nước tháng 10 năm 1946…

Với tài năng và uy tín của mình, cụ Nguyễn Sơn Hà từng được bầu là Phó Thị trưởng thành phố Hải Phòng thời Pháp tạm chiếm và sau khi cách mạng thành công (năm 1946) cụ liên tiếp được nhân dân tín nhiệm bầu là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI. Năm 1986 cụ từ trần.

Tham dự cuộc tọa đàm có Ban VHXH Đài PTTH Hải Phòng ghi hình, phỏng vấn để phát sóng trên chương trình thời sự của Đài PTTH Hải Phòng. Phóng viên đã tiến hành phỏng vấn ông Nguyễn Khắc Phòng – nguyên Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, người am hiểu nhiều về ngôi nhà lịch sử này và về những đóng góp của gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đồng thời hỏi bà Nguyễn Sơn Trúc – con gái cụ Nguyễn Sơn Hà về những ký ức xưa và nguyện vọng của gia đình.

Theo bà Nguyễn Sơn Trúc, các thành viên trong gia đình cụ Nguyễn Sơn Hà đều mong muốn tu bổ căn nhà cho đẹp như xưa, phục dựng lại cảnh quan biệt thự như nó vốn có và giữ nguyên trạng để nơi đây trở thành địa chỉ đỏ, cung cấp cho các thế hệ trẻ những tư liệu quý về một nhân vật lịch sử của thành phố đã có nhiều đóng góp quý báu cho cách mạng Việt Nam.

Phạm Văn Thi.

Năm năm hoạt động của CLB Hải Phòng học

Tính đến ngày 5-8-2017 này (ngày thành lập), Câu lạc bộ (CLB) Hải Phòng học đã sinh hoạt được tròn 5 năm. Tới thời điểm này, CLB đã có trên 70 hội viên, là những cán bộ hoạt động trong mọi lĩnh vực, từ văn hóa xã hội đến khoa học kỹ thuật, đã nghỉ hưu. Với nguồn lực phong phú ấy, CLB đã thu được những kết quả đáng tự hào trong hoạt động.

Đã có tới trên 200 bài nghiên cứu, sưu tầm của các hội viên được đăng tải trên trang webblogs của CLB. Trong đó, về Dư địa chí có 55 bài, danh nhân Hải Phòng: 24 bài, lịch sử các địa phương thuộc Hải Phòng: 63 bài, kinh tế: 15 bài, văn hóa và tôn giáo: 22 bài. Hàng vạn độc giả đã đọc và đánh giá cao những thông tin, hình ảnh được giới thiệu, trong đó có rất nhiều những độc giả đang sinh sống trên khắp thế giới.

alt

Trong 5 năm qua, CLB đã tổ chức được hàng chục buổi sinh hoạt chuyên đề khoa học thiết thực và bổ ích. Mời được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu có uy tín như GS. Vũ Minh Giang, GS. Hồ Ngọc Đại, GS. Nguyễn Lân Dũng, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải... nói chuyện về các chuyên đề khoa học thiết thực. Ngoài ra, ngay trong CLB, các hội viên cũng luôn chủ động báo cáo những chuyên đề theo thế mạnh của từng người như: Tiến sĩ Lã Trọng Long trình bày về vấn đề sinh học, ứng dụng sinh học trong cuộc sống; PGS. TS Trần Đức Thạnh trình bày về Biển và Khoa học biển. Thượng tọa Thích Thanh Giác trình bày về Thơ Thiền, hướng dẫn thủ tục thờ cúng gia tiên, thủ tục lên chùa thắp nhang cúng Phật: Kỹ sư Nông học, nhà văn Đinh Quyền trình bầy về vấn đề lúa gạo và nhu cầu lương thực của nhân loại trong tương lai; Kỹ sư Trịnh Hoãn thuyết trình về tình hình sông ngòi và thủy điện Việt Nam; Bác sĩ Lê Trung Dũng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt-Tiệp nói về Sức khỏe người cao tuổi, phương pháp phòng, chữa bệnh cho người cao tuổi. Nhà Sưu tầm Phạm Tuệ trình chiếu và thuyết minh hàng trăm tấm ảnh về thành phố Hải Phòng từ ngày mới phôi thai. Cứ nhân Vũ Đình Mai giới thiệu cuốn sách rất nổi tiếng “Lưới trời ai dệt” của Ts. Nguyễn Tường Bách - nhà nghiên cứu Phật giáo ….

Ngoài ra, CLB còn tự tổ chức hoặc kết hợp với các đơn vị khác tổ chức nhiều cuộc tọa đàm và hội thảo khoa học về các lĩnh vực liên quan đến kinh tế, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn Hải Phòng; Tham gia những cuộc Hội thảo lớn như: “Di sản Văn hóa Phật giáo xứ Đông”, “Chùa Mét, những giá trị lịch sử và văn hóa”, về chùa Đót Sơn, về Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các danh nhân văn hóa khác…

Song song với việc tổ chức các buổi nói chuyện khoa học, văn hóa, CLB còn coi trọng việc tổ chức các chuyến đi điền dã kết hợp với du lịch như chuyến đi về các vùng Nữ tướng Lê Chân hoạt động dưới cở khởi nghĩa của Hai bà Trưng (từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, sang cả Quảng Tây Trung Quốc). Qua chuyến điền dã này, các thành viên CLB càng thấy được công lao to lớn của Nữ tướng Lê Chân, không chỉ đối với Hải Phòng mà đối với cả nền độc lập của đất nước. Qua đó, CLB đã cùng với các đơn vị liên quan kiến nghj Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch nâng cấp Lễ hội nữ tướng Lê Chân thành Lễ hội cấp Quốc gia. Đặc biệt có những chuyến đi dài ngày, xuyên Việt, sang Căm Pu Chia, đến tận hai ngôi đền lớn Ăng Co Thom và Ăng Co Vát. Xuống tận cùng phía tây nam của đất nước Chùa tháp và nhiều chuyến đi khác. Qua những chuyến đi này, ai cũng thấy tầm hiểu biết của mình được mở rộng. Mỗi chuyến đi là một chuyến khám phá mới, tích lũy kiến thức mới.

Là thành viên của Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, CLB đã tham gia tổ chức các hoạt động từ thiện như tặng phần thưởng cho các học sinh giỏi môn Lịch sử tại các quận, huyện: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Lê Chân, Thủy Nguyên…Tặng quà đồng bào bị lũ lụt tại huyện Cát Hải trị giá hàng trăm triệu đồng.

Câu lạc bộ Hải Phòng học còn là đơn vị có nhiều ý kiến xác đáng, phản biện cho các dự thảo văn kiện của Hội đồng Nhân dân thành phố trước các kỳ họp. Điển hình trong số đó có: Tiến sĩ Lã Trọng Long, Kỹ sư Đinh Quyền, Bác sĩ Lê Trung Dũng, Kỹ sư Trịnh Hoãn…

Hiện tại CLB có hàng ngàn cuốn sách, không chỉ phục vụ các hội viên mà còn cho nhiều đối tượng khác, trong đó có những nghiên cứu sinh đến tham khảo làm luận văn cao học.

Khoảng thời gian 5 năm chưa phải là dài, nhưng nhìn lại những hoạt động vừa qua của CLB mọi thành viên đều cảm thấy khá hài lòng. Mong rằng, với tình yêu quê hương, với năng lực tri thức của mình, các thành viên CLB sẽ có nhiều đóng góp hơn nữa việc nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật…của thành phố Cảng thân yêu.

Ths. Vũ Minh Đức

(Phó Chủ nhiệm TT CLB Hải Phòng học)

Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Mạc

alt

Phật giáo Việt Nam từng có giai đoạn phát triển cực thịnh khi đạo Phật trở thành Quốc giáo (triều tiền Lê, triều Lý) và có những Quốc sư như Pháp Thuận, Ngô Khuông Việt và Minh Không mà nhà Vua cũng phải kính trọng và tham vấn việc trị quốc, an dân. Do nhiều nguyên nhân, dần dần đạo Phật suy giảm vị thế và đến khi nhà Hồ (Hồ Quý Ly) thay thế nhà Trần rồi nước ta bị nhà Minh đô hộ thì đạo Phật không còn vị trí đáng kể trong xã hội Đại Việt.

Kể từ khi Lê Hoàn lên ngôi năm 980 mở đầu cho thời kỳ đạo Phật thịnh và đến năm 1407 khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ để thống trị nước ta và thi hành âm mưu đồng hóa Văn hóa Việt thì phật giáo suy vi.

Giai đoạn cuối thời Hậu Lê khi triều chính suy đồi, kỷ cương hỗn loạn, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi với một số lãnh tụ cát cứ các địa phương thì Vua cũng trở lên bất lực không duy trì được vai trò trị quốc. Trong tình hình ấy, với thế lực mạnh và thực quyền của mình, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, lập lên nhà Mạc (tháng 6 năm 1527).

Trong 65 năm tồn tại chính thức (1527-1592) khi định đô ở Thăng Long và xây dựng Dương Kinh (xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy nay) quê hương mình làm kinh đô thứ hai, nhà Mạc đã thực thi một số chính sách thúc đẩy kinh tế, thương mại, mỹ thuật dân tộc, kích thích Phật giáo và nhất là mở mang thi cử tuyển chọn nhân tài giúp nước.

Triều Mạc tuy trị vì ngắn ngủi nhưng cũng mang lại cho đất nước bước khởi sắc về trật tự xã hội, kinh tế và văn hóa trong đó có việc chấn hưng Phật giáo.

Nhà Mạc không ban hành chính sách cụ thể về tôn giáo tín ngưỡng nhưng dựa trên những việc làm thực tế của vua quan, các thành viên hoàng tộc trong việc cúng tiền, tặng đất hưng công, xây dựng chùa chiền, tạc tượng chứng tỏ triều đại này rất quan tâm tới việc phát triển đạo Phật.

Ngay sau khi nắm quyền, Mạc Đăng Dung đã cho sửa sang lăng miếu của vua Lê ở Nam Kinh và định kỳ cúng tế. Có quan điểm cho việc làm này chỉ là mị dân, che mắt thế gian, mong yên lòng người, tránh sự phản kháng của quần thần nhà Lê. Nhưng đánh giá như vậy có thật khách quan không? Nếu Mạc Đăng Dung không phải người nhân đức trung nghĩa thì sao lại làm vậy? Lịch sử Việt Nam đâu phải không có chuyện, để độc bá thiên hạ, các triều đại sau đã triệt phá dấu tích của các vương triều trước. Nên xem việc duy trì lễ cúng tế tông miếu nhà Lê của Mạc Đăng Dung không phải chỉ để tri ân một triều đại đối với đất nước. Lớn hơn thế, việc ông làm là để tôn vinh công trạng của nhà Lê với lịch sử dân tộc trong quan điểm “uống nước nhớ nguồn”.

Tiếp đó Mạc Đăng Dung lệnh cho trưởng thái giám hiệu Thụy Trúc thiền sư xây dựng chùa bà Đanh (chùa Thiên Phúc) ở Kiến Thụy - Hải Phòng. Có thể coi việc làm này là sự mở đầu cho công cuộc sửa sang, xây dựng lại những ngôi chùa đã bị phá bỏ trong thời kỳ thuộc Minh và lãng quên bởi nhà Lê sơ, tạo tiền đề cho sự phát triển của đạo Phật. Tư liệu văn bia thời Mạc là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ trở lại của đạo phật. Trong số 146 bia thời Mạc còn lại tới nay có tới 109 bia chùa với nội dung về ruộng đất chùa, việc xây dựng và người hưng công.

Đi tiên phong cho việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông là các thành viên của hoàng tộc nhà Mạc, tiếp đó là những người hiển danh có điều kiện kinh tế, cuối cùng là nhân dân địa phương. Theo tư liệu văn bia, có hàng trăm thành viên trong hoàng tộc và các đại thần của triều đình tham gia tu bổ và xây chùa phật.

Trong số những thành viên của hoàng tộc cung tiến tiền của xây dựng chùa trước hết phải kể đến các vị đương kim hoàng thượng như: Mạc Phúc Nguyên, đã ban “Cấm tiền” cho chùa Linh Cảm (Từ Sơn – Bắc Ninh, năm 1557), Mạc Mậu Hợp cúng 20 lạng bạc vào chùa Hoa Tân (Hải Phòng, năm 1582). Đặc biệt, Thài Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng bạc tiền cho trên chục ngôi chùa ở khu vực Dương Kinh (Kiến Thụy nay) và vùng phụ cận. Do công đức xây chùa, bà được dân gian tôn phong là “mẫu nghi thiên hạ, là Phật sống trên trần gian”. Chính vì lẽ đó bà Thái Hoàng Thái Hậu được dân làng nhiều nơi tạc tượng thờ còn để lại đến ngày nay ở một số chùa thành phố Hải Phòng.

Vị Thái hoàng Thái Hậu này còn tham gia xây chùa Thiên Phúc (như đã nói ở trên) cùng các thành viên hoàng tộc khác như: Hoàng Thái Hậu họ Phan, Khiêm Thái Vương họ Mạc, Tĩnh Quốc Thái phu nhân họ Nguyễn, Tu Hòa Thái Trưởng công chúa họ Mạc, Bảo Gia thái trưởng công chúa họ Mạc, Phúc Thành thái Trưởng công chúa họ Mạc, Khiêm Thái Vương phi họ Mạc,…..Tổng cộng 33 người. Đặc biệt bà Quận công Mạc Ngọc Liễn và Phúc Thành Thái trưởng công chúa tham gia xây dựng hàng chục ngôi chùa, quán, trong đó có Ninh Tiên. Tình cảm và niềm tin tôn giáo khiến họ trở thành tín đồ có pháp danh: Đức Quảng (Mạc Ngọc Liễn) và Từ Đức (phúc Thành) như nhà tu hành thực thụ. Các thành viên trong hoàng tộc đã công đức xây khoảng 80/168 ngôi chùa được xây dựng thời kỳ này.

Sự hưng khởi của đạo Phật vào thời nhà Mạc còn thể hiện ở chính sách ruộng đất. Nhà nước cho phép cá nhân cúng ruộng vào chùa dưới dạng làm công đức và đặt hậu. Chính vì vậy, dưới thời Mạc hầu như chùa nào cũng có ruộng, trong đó nhiều chùa có số ruộng lớn hàng chục mẫu như: chùa Pháp Vũ (Thường Tín – Hà Nội) 70 mẫu, chùa Hoa Tân (Hải Phòng) 50 mẫu, chùa Nghiêm Quang ( Hải Phòng) 31 mẫu, chùa Thiên Phúc (Hải Phòng) 25 mẫu 1 sào 2 thước.

Còn ở những nơi xa kinh kỳ như Ninh Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, việc xây dựng chùa đều do các quan địa phương khởi xướng với sự tham gia đóng góp của nhân dân trong làng xã.

Vào thế kỷ XVI, trong phạm vi kiểm soát của Bắc triều (Triều Mạc làm chủ từ vùng đất Ninh Bình trở ra Bắc), Phật giáo lại có điều kiện hưng khởi. Khắp vùng Hải Dương, An Bang, Sơn Tây, Kinh Bắc chùa chiền mọc lên khá nhiều. các chùa Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu thuộc Kinh Bắc đã được trùng tu. Trên đất Hải Dương các chùa Quỳnh Lâm, Sùng Quang, Đông Sơn được tu bổ lại to lớn, đẹp đẽ hơn.

Tư liệu về mỹ thuật đời mạc đến nay rất nghèo nàn vì chiến tranh và sự trả thù, thủ tiêu của tập đoàn Lê-Trịnh:

Năm 1592 khi truy kích quân Mạc ở huyện Thanh Hà thì nhà cửa tại các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn bị quân Lê-Trịnh đốt cháy gần hết.

Khi Chúa Trịnh giúp vua Lê khôi phục kinh sư đã đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai Hải Phòng, hủy bia đá ở mộ các thân vương nhà Mạc, chặt hết cây trồng trong lăng.

Tuy nhiên nhân dân nhiều nơi, nhất là người xứ Đông (gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình) vốn rất cảm tình với nhà Mạc đã gìn giữ được một số di vật quý giá mà từ trước năm 1945 ta đã biết là các bia đá và chân đèn gốm khắc rõ các niên hiệu thời Mạc, sau đó lại biết tượng Mạc Đăng Dung và bà bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản (vợ Mạc Đăng Dung) ở chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy, Hải Phòng); Tượng Mạc Đôn Nhượng ở chùa Phúc Linh (thôn Nhân Trai, xã Đại Hà, Kiến Thụy).

Năm 1987 pho tượng Đức Vua (nhà Mạc) bằng đá ở chùa Hưng Khánh, thôn Trung Hành, xã Đằng Lâm (nay thuộc quận Hải An, Hải Phòng) được hai nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Hạnh và Nguyễn Anh Tuấn đoán định thuộc thời Mạc.

Năm 1992, Viện Mỹ thuật đã trở lại 3 ngôi chùa trên để thẩm định phong cách và tìm hiểu những văn tự bổ trợ góp phần làm rõ niên đại và nhân thân tượng.

Ở chùa Thiên Phúc, tượng bà Vũ Thị Ngọc Toản ở trong vòm có 2 chữ Động Phủ, phía nam có 2 dòng chữ “trung nguyên tân hội niên tứ nguyệt sơ nhất nhật” “Tăng Phúc Huyền phụng hoành” cho biết tượng được làm từ năm 1551 do nhà sư Phúc Huyền tổ chức làm. Còn tượng Đức Vua ở chùa Hưng Khánh tìm được dòng chữ “Quý mùi niên, Trung Hành xã. Phù Đông Hầu tạo - Kính chủ xa – Ngũ nhân tạo” cho biết niên đại của tượng là 1583, do ông Phù Đông, tước hầu ở xã Trung Hành đặt làm (hay tạc tượng mẫu), còn tạc trực tiếp là 5 người thợ ở xã Kính Chủ.

Trở lại chùa Phúc Linh, pho tượng đá cho là của Mạc Đôn Nhượng có tước hiệu là Khiêm Vương. Nhưng Khiêm Vương lại là tước hiệu của Mạc Kính Điển còn tước hiệu của Mạc Đôn Nhượng là Ứng Vương. Vả lại pho tượng lại có dáng hình giống như tượng Đức Vua (Thái tổ Mạc Đăng Dung) ở chùa Hưng Khánh đã nói ở trên và chùa Bạch Đa và chùa Đại Linh dưới đây. Ngoài ra ở chùa Phúc Linh còn có pho tượng gỗ Ông Thiện có dáng dấp chung gợi nhớ tượng Mạc Đăng Dung ở chùa Thiên Phúc (Trà Phương). Phải chăng pho tượng đá ở đây cũng là Đức Vua (Mạc Đăng Dung) như ở chùa Hưng Khánh, còn pho tượng gỗ mới là Mạc Đôn Nhượng.

Chùa Phúc Hải (xã Đa Phúc) có pho tượng đá đức vua to bằng người thực, đội mũ bình thiên, áo hoàng bào, cầm hốt, ngồi ngai, tạc năm 1580. Chùa Đại Linh (thôn Đại Trà, xã Đông Phương, Kiến Thụy) có hai pho tượng đá là Đức Vua và Quan âm tọa sơn, tạc năm 1570. Chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu) có khá nhiều tượng đá có thể thuộc thời Mạc. Bên cạnh bộ tượng Tam Thế phải kể đến hai tượng Ông Hoàng được tạo hình mang dáng dấp tượng Đức Vua ở các chùa

trên, chỉ khác là ngồi bục chứ không ngồi ngai.

Có thể thống kê được 7 pho tượng Đức Vua ở Hải Phòng được cho là vua Mạc (Mạc Đăng Dung hoặc Mạc Mậu Hợp). Hai vị vua này để lại dấu ấn trong dân gian vì Thái tổ Mạc Đăng Dung có công lập lên triều Mạc, còn Mạc Mậu Hợp là người giữ ngai vàng lâu nhất (1562-1592)

Chùa Minh Phúc (Thôn Minh Thị - Xã Toàn Thắng - Huyện Tiên Lãng) cũng có tượng bà Hoàng Thái Hậu Vũ Thị (Bà Hoàng Thái Hậu có tên là Vũ Thị Quỳnh là vợ ba Thái Tổ Mạc Đăng Dung) gắn vào tấm bia mang hình thức vòm động có 3 chữ “Vân Thủy Âm”. Tượng có hình khối, đường nét bố cục tương tự tượng bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản ở hai chùa Hòa Liễu và Trà Phương. Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan âm có lẽ bởi lòng thương dân và những đóng góp cho việc hưng công, cúng dàng xây dựng chùa chiền. Hội minh thề khởi nguồn ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy là một minh chứng cho thái độ chống tham nhũng, tư lợi của bà.

Cuộc nội chiến Lê Mạc kéo dài hơn 140 năm đã gây lên bao nỗi khổ triền miên cho nhân dân, khiến con người tìm đến với đạo phật như một cứu cánh tinh thần. Đạo Phật đã chỉ cho con người thấy cuộc đời là bể khổ trầm luân, giả tạm. Từ Hoàng Hậu, thân vương, công chúa triều Mạc đến dân thường đã tìm thấy ở đạo Phật niềm an ủi trong tâm hồn.

Cần phải nói rằng trong thời Mạc, giáo lý Phật giáo kém phát triển. Mặc dù dưới triều Mạc xuất hiện một thiền sư khá nổi tiếng là Chân Nghiêm trụ trì tại chùa Sùng Quang, xã Xuân Lâm, huyện Cẩm Giàng có nguyện ước bảo tồn truyền thống dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhưng nhìn chung thời này giáo lý không có gì mới. Thiền sư Chân Nghiêm cho in và công bố sách Thánh Đăng Ngữ lục và viết lời tựa cho sách này vào năm 1550 đời Mạc Phúc Nguyên. Sách ghi chép tiểu sử của 5 vị đại thiền sư đời Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và Trần Minh Tông. Hạn chế của Thánh đăng ngữ lục là có nhiều tài liệu trùng với  Tam Tổ Thực Lục và Khóa Hư Lục.

Thời Mạc, ở các chùa làng có khá nhiều pho tượng Phật có giá trị lịch sử và mỹ thuật. Đặc biệt, pho Quan Âm Nam Hải ở chùa Đa Tốn (Gia Lâm-Hà Nội) có 42 tay lớn và 652 tay nhỏ. Đối với loại tượng quan âm nhiều tay thì đây là pho tượng ra đời sớm nhất ở nước ta. Mặt tượng có kiểu chân dung với vẻ đôn hậu, tươi mát của người thôn nữ Việt Nam bình dị.

Từ mật độ đình, chùa được xây dựng dưới thời Mạc và việc người dân bí mật bảo vệ hình tượng các thân vương nhà Mạc như Mạc Đăng Dung, Mạc Đôn Nhượng, 2 bà Hoàng Thái Hậu nói trên… cho thấy nhà Mạc đã biết cách lấy lòng dân thông qua hoạt động hoằng dương đạo Phật, đề cao khoa cử và như thế mới giải thích được việc tại sao khi nhà Mạc thất thế mà lòng dân xứ Đông vẫn tin theo (Nhiều tượng Đức Vua được che dấu dưới ao, giếng hay tượng bà Hoàng Thái Hậu, công chúa Mạc ẩn dưới lốt Phật bà quan âm, chúa Thượng Ngàn).

Cuối cùng, để đánh giá công lao của nhà Mạc đối với đạo Phật và văn hóa dân tộc, xin dẫn ra đây nhận định sau của các học giả: trong cuốn Mỹ thuật thời Mạc (Hà Nội, 1993), các nhà nghiên cứu khi xem xét mỹ thuật thời Mạc thể hiện trên các kiến trúc, điêu khắc, trang trí đình chùa, tượng Phật, tượng thờ, gốm sứ đã kết luận thời nhà Mạc trị vì là thời đại chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bởi chủ trương dương Nho ức Phật của nhà Lê sơ. Sự hưng khởi này đã tạo ra sức sống mãnh liệt cho một nền mỹ thuật mang đậm bản sắc dân tộc, dân gian.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Tục thờ Mẫu và nghi thức hầu đồng

Tục thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng (hay còn gọi là hầu bóng) là hoạt động tín ngưỡng dân gian chứa đựng những giá trị văn hoá tâm linh truyền thống của người Việt. Trong đó hầu đồng là nghệ thuật trình diễn tổng hợp, có âm nhạc, có lời ca, điệu múa và sự cộng hưởng cảm xúc thăng hoa của những người diễn xướng và tham dự. Trải qua thời gian thăng trầm, tục thờ mẫu và nghi lễ hầu đồng vẫn tồn tại đến ngày nay và giờ đây đã được chính thức ghi nhận bởi cơ quan quản lý văn hóa như một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống Việt Nam. Năm 2013 đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng với những giá trị văn hoá đặc sắc, đã được lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể.

alt

Thờ Mẫu là tập tục có từ lâu đời ở Việt Nam, bắt nguồn từ tục thờ các vị nữ thần có từ thời nguyên thủy, đại diện cho thiên nhiên như Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa…sau này nhân gian còn suy tôn các vị nữ anh hùng, các công chúa, Hoàng hậu, hay bà Tổ nghề của một làng nghề.. là Thánh Mẫu. Vậy là thánh Mẫu có thể là thiên thần có quyền năng màu nhiệm, huyền bí và cũng có thể là nhân thần có công lớn với dân với nước như người mẹ bao dung chở che, phù trì cho con người. Có lẽ vì vậy mà trong tâm thức dân gian người Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân vừa là Thành hoàng Hải Phòng lại vừa là một vị thánh Mẫu (thánh Chân công chúa).

Đối với người dân Việt Nam, vị nữ thánh tối cao được tôn thờ là thánh mẫu Liễu Hạnh. Theo truyền thuyết bà là công chúa-con của Ngọc Hoàng thượng đế, do có lỗi với Ngọc Hoàng mà bị vua cha đày xuống trần gian đầu thai (2 lần ở Nam Định, 1 lần ở Thanh Hóa). Dưới trần bà thể hiện là người phụ nữ giỏi công, dung, ngôn, hạnh, tài cầm, kỳ, thi, họa và thi triển nhiều phép nhiệm mầu cứu giúp nhân dân khỏi tai ách cũng như trừng trị bọn người xấu, quan lại độc ác. Sau khi hóa, bà còn âm phù giúp vua, chúa chống giặc ngoại xâm. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Hậu Lê đến triều Nguyễn đều phong mỹ tự và sắc phong danh hiệu thượng đẳng tối linh thần cho bà. Đền thờ chính thờ công chúa Liễu Hạnh ở Phủ Dầy (Nam Định). Ngoài ra nhiều nơi khác cũng có đền thờ bà như ở phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng (Thanh Hóa), phủ Lạng Sơn - là những nơi bà đã từng hiển linh… Ở Hải Phòng có một địa điểm thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh là phủ Thượng Đoạn (ở thôn Thượng Đoạn, xã Đông Hải, huyện Hải An xưa), nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An, Hải Phòng. Tương truyền, đây là nơi mẫu Liễu đã từng vân du làm việc thiện, được dân gian ghi nhớ công ơn lập đền thờ.

Theo tín ngưỡng dân gian, vũ trụ được chia ra làm ba miền (ứng với tam phủ) hoặc bốn miền (ứng với tứ phủ) và mỗi miền lại được biểu tượng hóa bằng màu sắc. Tam phủ gồm: Thiên Phủ (cõi trời-màu đỏ), Địa phủ (cõi đất-màu vàng) và Thoải phủ (cõi nước - màu trắng). Còn Tứ phủ ngoài Thiên Phủ, Địa phủ, Thoải phủ còn có thêm Nhạc phủ (miền rừng núi-màu xanh). Bởi vậy ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy có gian thờ Mẫu, trong đó có thờ tam tòa Thánh Mẫu hay Tứ Phủ với các bức tượng nữ thần trong trang phục màu đỏ (tượng trưng mẫu Thượng Thiên tối cao sinh ra muôn loài), trang phục màu vàng (địa phủ - Mẫu đất, cai quản thế giới âm), trang phục màu trắng (Thoải phủ - mẫu nước, cai quản thế giới nước) hay trang phục màu xanh (nhạc phủ - mẫu Thượng Ngàn, cai quản miền rừng).

Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian, Thánh Mẫu thực chất chỉ là một vị, nhưng đã được hóa thân thành 3 hoặc 4 vị nữ thần để cai quản những vùng miền khác nhau của vũ trụ. Bởi thế các Mẫu là đại diện của một vị Thánh Mẫu duy nhất là người mẹ tâm linh - biểu tượng bất diệt trong lòng người dân Việt. Ở đây bà chúa Liễu Hạnh được coi là vị Thánh Mẫu như vậy. Mẫu Liễu Hạnh cũng là vị thánh nữ duy nhất trong 4 vị thánh bất tửcủa Thần đạo Việt Nam là: Tản Viên sơn thánh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh công chúa.

Dân gian có câu “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ”. “Cha” ở đây là đức thánh Trần Hưng Đạo mà nhân dân tôn phong và “mẹ” chính là thánh Mẫu Liễu Hạnh, một người là nhân thần, một người là thiên thần. Trong tâm thức dân gian họ đều là những bậc đức cao, công lớn trong việc phù trì, bảo vệ nhân dân như người cha, người mẹ luôn che chở, bảo vệ con dân thoát khỏi khổ đau, hoạn nạn.

Trong tháng 3 và tháng 8 âm lịch hàng năm (ngày mất của mẫu Liễu và thánh Trần), người dân nước ta thường long trọng tổ chức tế lễ thánh Mẫu Liễu Hạnh và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Trong đạo Mẫu, ngoài các vật phẩm cúng dâng nữ thánh còn có các nghi thức tôn thờ khác với hình thức sân khấu tâm linh là lễ lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng). Hầu đồng dần trở thành nghi lễ quan trọng của sân khấu tâm linh với nghệ thuật hát dân gian kết hợp âm nhạc và điệu múa, đó là hát Chầu văn.

Nghi thức hầu đồng thường diễn ra ở các phủ, đền, chùa và không chỉ là hình thức tôn thờ thánh mẫu mà còn là hình thức tôn thờ các vị anh hùng, tướng lĩnh, thân hầu, công chúa, hoàng tử, những người có nhiều công lao với dân, với nước trong lịch sử dân tộc.

Trong đền, phủ bên cạnh các Mẫu còn có các quan được phối thờ như: Tôn quân thần Triều, Thái sư nhất phẩm, quan Đệ nhất, quan Đệ nhị, quan Đệ tam, quan Đệ tứ, quan lớn Tuần Tranh, quan Hoàng triều. Các đức chúa có: chúa Ba, chúa Thác Bà, chúa Bắc Lệ, chúa Mười Đồng Mỏ... Rồi các đức ông: Hoàng Cả, Hoàng Ba, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười. Bên dưới có các cô: cô Đệ nhất, cô Đôi Thượng, cô Đôi Thoải, cô Năm suối, cô Sáu lục cung, cô Tám đồi chè, cô Chín, cô Mười, cô Bé. Các cậu gồm: cậu Hoàng cả, cậu Hoàng đôi, cậu Hoàng ba, cậu Hoàng bé.

Các buổi hầu đồng được chuẩn bị rất kỹ càng với các lễ vật dâng cúng thần linh được bày biện đẹp mắt, ánh đèn nến lung linh tạo ra không gian sân khấu huyển ảo, lộng lẫy. Các giá đồng diễn ra trong tiếng đàn, tiếng phách, tiếng hát khi trầm khi bổng càng lối cuốn hấp dẫn người tham dự. Các giá đồng thường có từ 2 đến 4 người phụ giúp để chuẩn bị các trang phục lễ lạt cho “cô” đồng, “cậu” đồng. Trong một buổi lên đồng thường có nhiều giá đồng (có tới 36 giá). Mỗi lần thay giá đồng, người ta lại phủ một tấm vải đỏ lên đầu người hầu đồng và mỗi giá đồng phải thay một bộ trang phục, quần áo, khăn chầu, cờ quạt cho tương xứng với vị thánh hay ông Hoàng, bà chúa được tôn thờ.

Bản chất nghi thức hầu đồng là việc mượn thân xác của các ông đồng, bà đồng để thần linh nhập vào nhằm cầu xin tài lộc, sức khỏe ban cho con người. Người hầu đồng, gọi chung là Thanh đồng, nếu là nam giới thì được trang điểm như nữ giới và gọi là “cậu”, còn nữ giới được gọi là “cô” hay “bà đồng”. Trong tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng hát cung văn khi trầm khi bổng ngâm các bài thơ cổ kể lại những câu chuyện, tích xưa, người hầu đồng khi thì hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một vị quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa. Điệu múa của Thanh đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của từng giá đồng. Giá quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao; giá các chầu bà thì múa quạt, múa khăn; giá ông hoàng thì có múa cờ, còn giá các cậu thường múa hèo (gậy), múa lân ...Những người lên đồng lúc đó như diễn viên biểu diễn, hóa thân thành các nhân vật lịch sử được tôn thờ.

Về thanh đồng: bất cứ ai nếu có căn đồng (theo quan niệm) đều có thể nhập đồng và biểu diễn các giá đồng, gồm 36 giá. Mỗi giá đồng thể hiện một nhân vật cụ thể, với tên tuổi và tính cách khác nhau. Ví dụ: giá bà chúa Bắc Lệ phải khác với Mười Đồng Mỏ; giá các đức ông thì phải oai phong, lẫm liệt, múa kiếm, bắn cung; giá các cô bé thì phải điệu đàng, duyên dáng; giá các cậu thì nhí nhảnh, nghịch ngợm..

Thanh đồng khi nhập đồng múa các điệu theo tính cách của từng giá đồng, còn ở dưới cung văn tấu nhạc theo làn điệu chầu văn, lời ca mô tả nhân vật của giá đồng, tả quang cảnh nhân vật xuất hiện, kể sự tích và công đức của họ. Các lời ca kể chuyện, lời thơ được xướng lên trầm bổng, du dương cùng các điệu múa phụ họa, âm thanh, màu sắc, hương thơm hoa quả, khói hương và sự tham dự của nhiều người khiến không khí buổi hầu đồng trở lên linh thiêng, cuốn hút.

Nghi lễ hát lên đồng được chia ra các phần: Mời Thánh nhập; kể sự tích, công đức; xin Thánh phù hộ và đưa tiễn. Do đó, cuối mỗi giá đồng, cung văn đều tấu câu “Xe loan Thánh giá hồi cung”. Ban nhạc chầu văn thường có các nhạc cụ: đàn nguyệt, trống ban (trống con), nhị, sáo, phách, thanh la...

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong nước và quốc tế đều cho rằng: tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng mang giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt, đó là tinh hoa chắt lọc suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, đó là biểu tượng của sức mạnh cộng đồng, truyền thống biết ơn, tôn thờ đấng bảo hộ, chở che, của người Việt Nam. Với những giá trị văn hoá đặc sắc như vậy, đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng là những loại hình di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của dân tộc cần được bảo tồn và phát triển.

Với những giá trị văn hóa độc đáo, mang bản sắc Việt Nam, tháng 12 năm 2016, Uy ban Văn hóa-Khoa học-Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận “Thực hành nghi thức thờ Tam phủ của người Việt” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Đó là một vinh dự của đất nước ta, nó chứng tỏ bản sắc văn hóa Việt Nam đã được thế giới biết tới.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Đặc điểm nhà Mạc trong lịch sử dân tộc

VIỆC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG PHỐ: CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ, MẠC THÁI TÔNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC.

alt

GS. TSKH Phan Đăng Nhật

Trên báo Tuổi trẻ ngày 9-6-2015 có đăng bài “Giải mã nhà Mạc quanh chuyện đặt tên đường”và ý kiến của ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở V-TT&DL T/P Hà Nội, muốn “lắng nghe ý kiến rộng rãi” của nhân dân. Tôi xin phát biểu ý kiến về vấn đề trên.

Để đặt tên đường phố, cần phải nắm chắc toàn diện công lao của nhân vật lịch sử, nếu là người lập nên một triều đại, cần đối chiếu công lao của cá nhân với triêu đại mà họ lập nên. Chỉ chú mục vào một sự kiện và tách rời sự kiện đó ra khỏi hoàn cảnh lịch sử để khen hoặc chê là thái độ thiếu khách quan. Vì vậy, đầu bài của chúng tôi có các nội dung như trên và trình tự của bài viết gồm có các phần chính:

-Tóm tắt đặc điểm của nhà Mạc trong lịch sử dân tộc.

-Công lao của Mạc Thái tông và Mạc Thái tổ

I.TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

1.Nhà Mạc tồn tại tương đối lâu dài

+Tổng số thời gian tồn tại là 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử:

-Thời kỳ Thăng Long-Dương Kinh: 65 năm (1527-1592)

-Thời kỳ Cao Bằng, 91 năm (1592-1683)

-Thời kỳ Hậu Cao Bằng, 86 năm (1683-1769)

Xin đối chiếu với một số triều đại khác:

+các triều đại được coi là chính thống: Lý: 215 năm, Trần: 175 năm, Lê sơ: 99 năm, Lê Trung hưng: 245, Nguyễn: 143

+các triều đại bị quy là không chính thống: Hồ : 7 năm, Tây Sơn: 24 năm.

+Nhà Mạc bao gồm 12 đời vua và một đời chúa ( chúa lớn chẩu luông-Hoàng Công Chất).

Chúng tôi nghĩ rằng các con số trên đây, chứa đựng rất nhiều thông tin. Trước hết, chứng tỏ, nhà Mạc là một vương tộc được nhân dân rất ủng hộ, mà nhân dân đã đem xương máu bảo vệ, trong hai thế kỷ rưỡi, bất kỳ ở đâu; ở Thăng Long-Đông Đô, 65 năm; ở hành tại Hải Dương, 7 vạn người lập tức đi theo dưới cờ vua Mạc Kính Chỉ; ở miền núi Cao Băng; ở miền núi Tây Băc, dưới cờ chúa lớn Hoàng Công Chất . Về vấn đề này, GS Nguyễn Minh Tường đã nhận định đúng: “Nhiều nhà nghiên cứu đã nói tới vị trí hiểm trở của vùng cát cứ Cao Bằng và sự che chở của nhà Minh, nhà Thanh đối với họ Mạc. Nói như vậy là hoàn toàn đúng, song có lẽ chưa thật đầy đủ. Vì lẽ, nếu như con cháu họ Mạc không nhận được sự ủng hộ của nhân dân ở hầu khắp miền Bắc thì dù địa bàn hoạt động thuận lợi mấy đi nữa hay kể cả được phong kiến Trung Quốc gây áp lực với triều đình Lê - Trịnh, họ cũng không thể trụ lại ở Cao Bằng lâu như vậy (91 năm)”.

Đến đây có vấn đề được đặt ra, tại sao được như vậy, lại trong hoàn cảnh bị Lê-Trịnh truy sát, tiêu diệt một cách man rợ, vấn đề này xin được bàn vào dịp khác.

Thông tin thứ hai là, tính kiên định, kiên cường của nhà Mạc trong sự nghiệp chiến đấu chống phong kiến Lê-Trịnh (điểm 2)

2.Tuyệt đối kiên định, bất di bất dịch là đánh đổ phong kiến Lê-Trịnh , lập nên và lập lại vương triều Mạc (phục Mạc).

3.Quyết tâm bảo vệ đất nước, dầu hoàn cảnh nào “cũng không mời người Minh/ ngoại xâm đặt chân lên đất nước ta, coi đó là một tội lớn” (Mạc Ngọc Liễn)

-năm 1540 Thái tổ Mạc Đăng Dung đã đẩy lùi 22 vạn quân Minh đã kéo sang biên giới nước ta. (sẽ trình bày kỹ ở phần sau-công lao của Mạc Thái Tổ)

-Chúa lớn (chẩu luông ) Hoàng Mạc Công Chất, đánh đuổi giặc Phẻ, từ Vân Nam sang, thu hồi đất đai toàn Tây Băc, lấy lại Thập Châu bị phong kiến Trung Quốc chiếm: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Châu La, Luân Châu, Quảng Lãnh, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Toàn, Tuy Phụ, Khiếm Châu.

4. Hết sức chăm lo đời sống cho nhân dân

Nhà Mạc chăm lo đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân, đã từng xây dựng một xã hội no ấm, ổn định, kỷ cương.

Chính sách kinh tế của nhà Mạc đã đem lại đời sống ấm no, an lạc cho nhân dân. Mặc dù quan điểm đối nghịch nhưng các sử gia nhà Lê vẫn phải thừa nhận về cảnh thái bình thời Mạc “Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”.

Về nội dung này, sách Toàn thư ghi như trên và thêm một số chi tiết: “Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”.

Phan Huy Chú nhân nói về vua Mạc Đăng Doanh, cũng ca ngợi tình hình xã hội và đời sống của nhân dân đương thời: “Mạc Đăng Doanh tính tình khoan hậu. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khoá. Bấy giờ được mùa, nhà no người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình”.

Một sự kiện lịch sử được các nhà sử học đồng thanh nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ rằng đó là một sự thật hiển nhiên.

5.Chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân:

-Nhà Mạc sùng Nho, sùng Phật, Lão, Mẫu, văn hóa dân gian,… (Thăng Long -Dương Kinh)

-Khi ở Mường Thanh, thủ lĩnh Hoàng Công Chất lại tiếp tục chăm lo đến đời sống nhân dân như các tiên đế của mình, điều này đã được ghi trong câu ca mà nhân dân đời đời truyền tụng:

“Người Thái với người Lào, người Xá.

Vui vẻ cùng nhau tay làm miêng hát” (Hậu Cao Bằng).

6.Nhà Mạc phát triển kinh tế toàn diện, “trọng nông” mà không “ức thương”, phát triển mạnh thủ công nghiệp, đặc biệt là đồ gốm; phát triển nội, ngoại thương (không “bế quan tỏa cảng”).

7.Nhà Mạc rất quan tâm đào tạo nhân tài, tổ chức đều mỗi ba năm một kỳ thi hội, kể cả lúc quân Trịnh sắp đánh đến Thăng Long. Đào tạo được 13 trạng nguyên và 458 tiến sỹ, trong đó có những nhân tài kiệt xuất như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trạng nguyên Giáp Hải.

Nhà Mạc là triều đại duy nhất, trong “ngót nghìn năm của lịch sử khoa cử Việt Nam phong kiến” (Ngô Đức Thọ), đã lấy đỗ một nữ tiến sỹ độc nhất, bà Nguyễn Thị Duệ. Sau khi phát hiện bà Duệ giả trang con trai để đi thi, vua Mạc Kính Cung, không tru di về tội khi quân, mà mời bà vào triều. Điều này , thêm một lần nữa, trong muôn vàn sự kiện chứng minh tính chất dân chủ , nhân văn của nhà Mạc.

8.“Mạc thị sùng Nho” nhưng không độc tôn Nho giáo, khuyến khích cả Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ thần làng, văn hóa dân gian, đạo Mẫu, và không bài xích tôn giáo ngoại nhập.

9. Mở rộng sở hữu tư nhân, coi trọng vai trò sáng tạo cá nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử , tên nghệ nhân và người cung tiến được khắc trên đồ gốm.

10.Triều Mạc, thông thoáng, cởi mở về tư tường và ngôn luận

11.Vào thời Mạc, chúng ta đã xây dựng được một nền mỹ thuật riêng phát triển rực rỡ và độc đáo. GS Trần Lâm Biền đã viết: “Chúng tôi tạm có thể yên tâm mà nói rằng, thực sự đã có một nền mỹ thuật Mạc riêng. Nền mỹ thuật này đậm tính nhân bản, biểu hiện nhiều yếu tố tự do và phản ánh được một số vấn đề của lịch sử….Cuối cùng có thể nói rằng, nghệ thuật tạo hình dân dã trong thế kỷ XVI đã diễn ra dưới mắt ta như một sự “bùng nổ” tất yếu. Dưới bàn tay điêu luyện của nghệ sỹ đương thời, dòng nghệ thuật dân tộc đã được kế thừa và phát triển như mở đầu cho một thời kỳ “phục hưng” .

12.Văn học Mạc tiếp cận sâu sắc đa dạng về đời sống thực tiễn. Điều này được coi là phát hiện lớn “được coi là phát hiện lớn” , là “mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực, đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường”, “là một cống hiến đáng kể của văn học thời Mạc” (Huệ Chi). coi trọng hiện thực trong sáng tác văn chương, mở ra một nền văn chương có tính thực tế và tính nhân văn

13.Nhà Mạc rất trọng chữ nôm. Thơ văn nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Hoàng Sỹ Khải, Lê Bá Ly,… đã tạo ra một thời kỳ văn học nôm rực rỡ trong lịch sử văn học dân tộc.

Nhận định chung về nhà Mạc, Trần Khuê, đã viết cách đây 24 năm (1991), lúc bấy giờ tư liệu mới về nhà Mạc chưa nhiều như ngày nay : “Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém vương triều chính thống nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những nét độc đáo, mang bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau này sánh nổi”

II.CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ VÀ MẠC THÁI TÔNG

Thái tổ chỉ làm vua ba năm, sau đó giữ vai trò Thái thượng hoàng lui về Dương Kinh, làm “ngoại viện” cho Mạc Thái tông, thời gian 10 năm, tận cho đến khi Thái tông băng hà . Cho nên trong công lao của Thái Tông có sự đóng góp của Thái tổ.

II.1.Mạc Thái Tông

PGS. TS Trần Thị Vinh nhận định về vua Mạc Đăng Doanh như sau:“Nắm giữ triều chính trong bối cảnh đất nước còn nhiều loạn lạc và lắm mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến thù địch, Mạc Đăng Doanh đã khéo biết chèo lái, vừa giữ vững pháp độ, vừa cấm làm những việc hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và tạp dịch, tạo dựng cho dân lành một cuộc sống bình yên, no đủ “ban đêm ngủ cửa không cần phải khoá”, “khi ra đường không phải mang theo khí giới để phòng vệ”, “nhiều năm liền phong đăng, dân cả bốn trấn đều yên ổn”. “Về mặt Văn hoá giáo dục thì triều vua Mạc Đăng Doanh đã làm được những việc vô cùng quan trọng và vô cùng có ý nghĩa, không chỉ đặt nền móng cho các triều vua sau mà còn cho cả vương triều Mạc, đó là việc đào tạo được một đội ngũ trí thức nho học có nhiều tài năng và tâm huyết phụng sự vương triều Mạc với những gương mặt vô cùng sáng giá đại diện cho lớp trí thức mới của thời Mạc nói riêng và trí thức của Đại Việt trong thế kỷ XVI nói chung, như: Nguyễn Thiến, Bùi Vịnh, Nguyễn Lương Bật, Nguyễn Bỉnh Kiêm, Giáp Hải v.v.. họ đều là những bậc trí thức có tài đỗ đạt dưới triều vua Mạc Đăng Doanh. Vào đầu thời Mạc, dưới triều Mạc Đăng Dung mới chỉ tổ chức được một khoa thi Tiến sĩ (năm 1529) tuyển chọn người tài vào giúp việc triều đình thì dưới triều vua thứ hai - Mạc Đăng Doanh, cứ đều kỳ, 3 năm mở một khoa thi chọn Tiến sĩ, mặc cho chiến sự xảy ra triền miên. Dưới triều Mạc Đăng Doanh đã tổ chức được 3 khoa thi vào các năm: Nhâm Thìn(1532), lấy đỗ được 27 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng Nguyên Nguyễn Thiến (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh); năm Ất Mùi (1535) lấy đỗ 32 Tiến Sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) và khoa thi năm Mậu Tuất(1538) lấy đỗ 36 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Giáp Hải (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) ”.

II.2.Mạc Thái Tổ: Cách ứng xử của Mạc Thái tổ-một kinh nghiệm lịch sử về đấu tranh “hoãn xung”

II.2.1.Duyên cớ của chủ trương “xuất quân chinh phạt” của nhà Minh, hành động bán nước của nhóm Trịnh Duy Liêu

Phong kiến nhà Lê đã nhiều lần liên tục cho người đi cầu cứu nhà Minh đem quân sang đánh ta. Với danh nghĩa là đánh Mạc, nhà Minh sẽ thừa cơ tàn sát tiêu diệt luôn cả nước Việt. Đây là một mục đích truyền đời của phong kiến phương Bắc. Nhà Lê thừa biết điều này, nhưng vì quyền lợi ích kỷ của vương quyền, vẫn cứ ra sức van nài nhà Minh. “Nhà Mạc muốn tránh nguy hiểm trong cuộc đụng độ với nhà Minh. Tuy nhiên, nguy cơ chiến tranh ngày càng thúc bách, một phần bởi những mưu đồ thù địch của một số bề tôi trung thành với nhà Lê”

Rất nhiều lần phái đoàn vua Lê hoặc bề tôi cũ của nhà Lê đi sang Trung Quốc để tố cáo nhà Mạc, kích động chiến tranh của nhà Minh. Riêng năm 1537 liên tiếp có 3 lần (kể cả trường hợp Vũ Văn Uyên):

- “Năm 1529, Trịnh Ngung, bề tôi cũ của nhà Lê đã sang Trung Quốc để tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngay sau khi trung hưng triều Lê, năm 1533, Trịnh Duy Liêu liền được cử đi Trung Quốc để tiếp tục tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngày 3 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (13 - 3 - 1537), cháu dòng đích của vua An Nam tên là Lê Ninh (Trang Tông) sai người trong nước là bọn Trịnh Duy Liêu gồm 10 người đến kinh đô xin hưng binh hỏi tội để cứu nguy nạn nước”.

- “Tháng 6 năm 1537, phái bộ của Trịnh Duy Liêu do triều đình Lê phái sang Yên Kinh”.

- “Ngày 6 tháng 9 năm Gia Tĩnh thứ 16 (9 - 10 - 1537). Trước đó người Giao chỉ Vũ Văn Uyên mang đồng đảng đến hàng... Văn Uyên có 10.000 quân, đợi thiên binh xuống phía Nam, sai cháu là Vũ Tử Lăng đóng tại cửa ải Thạch Lang để nhập theo”.

Tóm lại, âm mưu của phong kiến nhà Lê “cõng rắn”, “rước voi” rất dai dẳng, quyết liệt. Hơn nữa, không những chỉ van xin, mà còn ra sức tạo điều kiện vật chất, cụ thể để quân Minh nhanh chóng và thuận lợi kéo sang đánh ta.

Như thế rõ ràng là phong kiến Lê-Trịnh đã dẫm vào vũng bùn cũ, đi theo vết xe đổ của Trần Ích Tắc, mà những kẻ thực thi là Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên. Họ đã nhiều lần quyết liệt, khẩn khoản van lạy nhà Minh kéo quân sang An Nam để “hưng binh hỏi tội”.Họ lại còn tạo điều kiện cụ thể để quân Minh giết hại dân ta có hiệu lực. Kết quả là Minh Thế Tông đã giao cho Mao Bá Ôn chỉ huy 22 vạn quân kéo sang biên giới, Vũ Văn Uyên và cháu là Vũ Tử Lăng đóng 1 vạn quân ở cửa ải để làm nội ứng.

Lịch sử cần ghi thêm danh sách những kẻ “cõng rắn”, “rước voi”, bên cạnh Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Gia Long; còn có Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên.

Đây thực sự là bán nước, không hiểu tại sao nhiều người che đậy?

Có hành động bán nước trên , Mạc Đăng Dung mới buộc phải cứu nước theo phương hướng hoãn xung.

II.2.3.Chiến lược của Mạc Đăng Dung

Mạc Đăng Dung thực hiện một chiến lược vừa đánh vừa hoà.

- Chuẩn bị đánh: “Lê triều thông sử cũng cho biết Mạc Đăng Doanh đã tu sửa trại, sách, luyện tập thuỷ quân; trưng cầu hết thảy những cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước”. Phục chức cho Thái bảo tĩnh quốc công Vũ Hộ, cử làm tả đô đốc Đông quân Chưởng phụ sự.

Thù vực chu tư lục cho biết triều đình nhà Minh còn tranh cãi khá gay gắt về việc đánh hay không đánh. Khi Mao Bá Ôn đến Nam Ninh đã thấy quân dân Việt chuẩn bị chống lại quyết liệt, lấy thuốc độc, bã đậu bỏ vào suối nước, đào hố chôn cọc tre để ngựa sa hố, lại phao ngôn sẽ theo đường biển tập kích Quảng Đông. Như vậy, chứng tỏ khi ấy nhà Mạc chuẩn bị sẵn sàng hai kế sách chiến và hoà”.

- Lập nhiều đồn luỹ ở biên giới mà trong “Vãng giao chỉ đồ”, in ở An Nam đồ chí, nhà Minh gọi là “tặc doanh”.

- Cho người làm nhiệm vụ tình báo “dò la bám sát các hoạt động quân sự của nhà Minh, như trường hợp tri châu Nguyễn Cảnh, năm 1537, được nhà Mạc bí mật phái sang đất Minh để thu thập tin tức bị thổ quan của Vân Nam giữ lại.

II.2.4. Thực chất việc thần phục, “dâng đất”

Một số người buộc Mạc Đăng Dung về “tội” đầu hàng và dâng đất. Hãy căn cứ vào tư liệu lịch sử chính xác để xem xét hai sự kiện này.

Ngô Đăng Lợi viết: “Qua ghi chép của Nghiêm Tông Giản, thì Mạc Đăng Dung cùng đoàn tuỳ tùng không được mặc phẩm phục, cổ đeo dây lụa tượng trưng cho sự đầu hàng đến lậy và cúi đầu (ngũ bái, tam khấu đầu) trước long đình che lọng vàng, tượng trưng cho hoàng đế nhà Minh, chứ không phải quỳ lạy viên tướng nhà Minh”, cũng không phải cởi trần tự trói.

- Trả lại đất :

* “Bốn động biên giới đã bị nhà Minh lấy lại từ trước, thành chuyện đã rồi đối với nhà Mạc. Mạc Đăng Dung thực sự không hề mắc tội phản quốc, mà trái lại đã góp một phần quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, cũng như tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh”. Còn Lê - Trịnh mãi đến 1597 mới được nhà Minh xét công nhận (xem thêm ở phần sau).

* Trong biểu tâu vua Minh, Mạc Đăng Dung cũng viết đúng là bốn động vốn thuộc nhà Minh, mà họ đã lấy lại từ trước và ông đã nêu cụ thể lời của tri châu châu Khâm, Lâm Hy Nguyên, làm nhân chứng, chắc chắn đó là sự thật: “Mới đây thần nghe tri châu châu Khâm tỉnh Quảng Đông, Lâm Hy Nguyên, xưng rằng, các động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích, Chiêm Lãng là đất cũ của châu Khâm; nếu đúng như vậy, thần xin vâng lời”.

* “Quả là Mạc Đăng Dung chưa hề cắt đất cho nhà Minh, nhưng ông đã bó tay và buộc phải chấp nhận sự kiện các động trưởng của bốn động sát biên giới Đông Bắc trở lại với nhà Minh... Làm sao nhà Mạc có thể giữ lại được bốn động trên khi mà các động trưởng đã bỏ về với nhà Minh? Thực tế chỉ có bốn động thuộc hai đô như vừa trình bày ở trên trả lại đất châu Khâm”.

*Cùng với các tư liệu trên, Minh Thực Lục ghi rất rõ , lệnh của Minh Thế Tông: “Sau khi bàn bạc rồi phúc tấu, Hoàng thượng mệnh: Ty phiên Quảng Tây mỗi năm cấp lịch Đại thống để thờ phụng theo chính sóc, hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, cho châu Khâm,…”

Xin nói rõ: “hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, trả cho châu Khâm,” (Minh Thực lục) khác hẳn với : “những đất Trung Quốc chiếm được chưa phải là lãnh thổ của Trung Quốc, bây giờ Mạc Đăng Dung đem dâng….” (Trần Thị Băng Thanh)

Nếu đối chiếu các điều kiện thần phục, trong tình hình đối nội, đối ngoại quá gay gắt và phức tạp như vậy, thì việc thần phục của vua Mạc đã mất một số hư danh mà được nhiều thắng lợi thực tế. Trong đó, quan trọng là tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc, bao gồm lực lượng của quân Minh bên ngoài ép vào và quân Lê - Trịnh từ trong đánh ra.

Xét trong lịch sử ngoại giao của chúng ta với phong kiến Trung Quốc có nhiều trường hợp phải hết sức lựa chiều, khéo léo.

“Bình Định vương Lê Lợi đại thắng quân đô hộ Minh nhưng vẫn phải cấp tàu xe, lương thảo cho Vương Thông rút quân, phải trả lừa, ngựa, binh khí, tù binh cho y; lại phải thực hiện danh nghĩa phù Trần diệt Hồ của nhà Minh mà dựng Trần Cảo làm vua, phải cống người vàng...”.

Về việc này, Phan Huy Chú nhận định: “Xét: Buổi đầu Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần; dùng lời nói dịu dàng, mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho, trải 3 năm mà mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Thế cũng đủ thấy sự thế bây giờ là khó”.

Hoàn cảnh lịch sử của Vua Lê thuận lợi hơn hẳn Vua Mạc, thế mà phải hết sức mềm dẻo. Vì vậy, “Mạc Đăng Dung thần phục giả vờ để giữ độc lập thực sự” (Trần Quốc Vượng) là kế sách tuyệt diệu.

Vua Mạc Đăng Dung nhận các điều kiện thần phục, nhưng các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, dùng ấn vàng, phong tước vương cho các con, toàn quyền điều hành đất nước về mọi mặt, nhà Minh không can thiệp và đặc biệt là không có bóng quan quân Minh trên đất nước Việt.

“Thế là nhà Mạc được nhà Minh công nhận, nhà Lê - Trịnh thì không, mãi đến 1597 mới được nhà Thanh xét và phải theo lệ cũ thời Lê sơ, cống người vàng đền mạng Liễu Thăng”.

Đến năm này, Lê Duy Đàm thi hành việc cống người vàng, đồng thời xin nhà Minh phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp:

“ Ngày 5 tháng 2 năm Vạn Lịch thứ 34 (13-3-1606) Con Huệ là Ninh kế tục nghiệp nhà Lê tại vùng sông Tất Mã, truyền được 4 đời. Đến Duy Đàm cùng bề tôi là Trịnh Tùng hợp mưu khởi binh diệt họ Mạc, lấy hết đất đai cũ. Nhân tiến người vàng thay thân, xin triều đình chiếu mệnh, được phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp. Lúc này vào năm Vạn Lịch thứ 25…”14

Ở đây có hai việc tương tự:

Việc thứ nhất: nhà Mạc nhận chức Đô thống sứ, thì bà Băng Thanh lớn tiếng phê phán : “ xóa bỏ cả một đất nước đã có truyền thống mấy nghìn năm văn hóa , tổ tiên đã đỏ bao xương máu tâm trí để khai thác giữ gìn thì đó là một sai lầm không thể bỏ qua” . Xin nói thêm, nhận Đô thống sứ, nhà Mạc không hề xóa bỏ đất nước, họ vẫn xây dựng đất nước, đem lại cảnh ấm no, mở mang công thương nghiệp, tổ chức thi cử, đúng ba năm một kỳ. Về mặt thể chế ,các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, toàn quyền điều hành đất nước (vừa nêu ở trên) . Minh thực lục ghi đúng điều này, bà Băng Thanh một lần nữa, lại nói ngược với Thiên triều. : “Từ họ Mạc đến nay, tuy xưng Đô thống sứ, nhưng chế độ trong nước vẫn theo đế chế; triều đình tuy cấp ấn bạc nhưng không (sai sứ) đưa sách mệnh, lệnh đến gõ cửa quan ải để lĩnh” , nghĩa là nhà Mạc lờ đi , không nhận, nhà Minh cũng ỉm luôn.

Lịch sử thực tế diễn ra như thế nào, nói như thế ấy, đừng vu khoát, tưởng tượng.

Việc thứ hai: nhà Lê xin được phong chức Đô thống sứ, còn cống người vàng nữa. Thế thì nhà Lê có “xóa bỏ đất nước” không? Sự kiện rành rành như vậy, sao bà Băng Thanh lại dấu kín ?

II.2. 5.Nguyên nhân thắng lợi của chiến lược nhà Mạc

Nhờ đâu mà đập tan được âm mưu nhà Lê cầu xin Minh, đấy lùi được quyết tâm xâm lược sắt đá của nhà Minh?

- Trước hết là ý chí của nhà Mạc, bằng mọi giá không cho giặc đặt chân vào đất nước ta, như Mạc Ngọc Liễn là Đô uý thái phó Đà Quốc công, đồng thời là phò mã, khi lâm chung có di chúc lại: “... Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Mạc Ngọc Liễn không phát ngôn ý kiến cá nhân mà tuyên bố tư tưởng lớn của nhà Mạc. Đinh Khắc Thuân nhận định đúng như vậy: “Lời trối trăng cuối cùng này của Mạc Ngọc Liễn cũng chính là ý nguyện của nhà Mạc nhằm tránh một cuộc chiến tranh ngoại bang”.

Thứ hai, là chủ trương vô cùng sáng suốt của Thái tổ Mạc Đăng Dung, chiến hoà kết hợp, hoà nhưng sẵn sàng chiến đấu. “Đầu hàng giả, chiến đấu thật”. Trong hoà không hại gì cho đất nước, chỉ dâng đất khống.

Thứ ba, Mạc Thái Tổ cũng dùng cả đấu tranh chính trị, đưa trạng nguyên Giáp Hải đi, để biểu lộ ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước qua việc hoạ thơ. Có người nói bài thơ đã đuổi được giặc. Không thật đúng. Bài thơ là một bộ phận của cuộc đấu tranh toàn diện, có vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh này.

Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho Thiên triều đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi đươc 22 vạn quân ngoại xâm và ít nhất một vạn nội phản; mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

Nếu không có Mạc Đăng Dung và nhà Mạc thì đất nước ta lại trải qua một cuộc tàn sát dã man dưới lưỡi gươm của giặc Minh, được sự hỗ trợ hiệu lực của Lê-Trịnh. Nếu không có Mạc Thái Tổ, lại một lần nữa :

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

(Bình Ngô đại cáo) Có thể nói, vua Mạc Đăng Dung và nhà Mạc đã đấu tranh rất thông minh, đặc biệt năng động, nhờ vậy cứu đất nước khỏi một thảm hoạ chiến tranh đã liền kề. Lịch sử nước nhà và nhân ta cần biết ơn, ghi đậm công lao to lớn này.

Nguyễn Hải Kế nhận định rằng, những khu xử của nhà Mạc, tránh được cuộc chiến tranh mà trên thực tế vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia:“Với nhà Minh thì bên cạnh việc tăng cường phòng bị, bằng hàng loạt các biện pháp chính tri- ngoại giao mà triều đình nhà Mạc đã triển khai để tránh được một cuộc chiến tranh , mà trên thực tế vẫn bảo vệ được chủ quyền quốc gia. Đặt trong bối cảnh thế kỷ XVI, những khu xử mà nhà Mạc đạt được là kết quả thực tiễn của tình cảm và trí tuệ đương thời”

Quân dân và vua quan nhà Mạc đã nêu một bài học đấu tranh hoãn xung trong tình trạng thế và lực ta quá yếu so với đối phương, bao gồm cả ngoại xâm và nội phản hợp lại.

III.TÓM TẮT NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ MẠC

Trên đây, chúng tôi đã nói nhiều đến những đặc điểm của nhà Mạc, nhưng cuối cùng vương tộc này đã thất bại nặng nề, nguyên nhân tại đâu?

Sự thất bại của nhà Mạc do một hệ nguyên nhân tổng hợp kéo dài nhiều thập kỷ. Có thể nêu ra 4 nguyên nhân chính:

1. Có những hiện tượng mất đoàn kết trong triều đình nhà Mạc, tiêu biểu là vụ Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi và Khiêm vương Mạc Kính Điển. Hai Ngài đều là đại trung thần của nhà Mạc , đều có tài nghiêng trời lệch đất . Chỉ tiếc là quan niệm về chọn người kế vị ngai vàng khác hẳn nhau nên dẫn đến việc đem quân đánh lại nhau gây tổn hại về thực thể và tinh thần rất lớn.

2.Cũng giống như bao triều đại phong kiến khác trong lịch sử, các vị vua nối ngôi về sau không giữ được những phẩm chất tốt đẹp của các bậc tiên đế , cũng góp phần khiến cho cơ nghiệp tổ tông không giữ được. Tuy nhiên, chúng ta cần thận trọng để khỏi nghe theo kẻ xấu đổ tội oan cho tiền nhân.

3. Có thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng về thủ lĩnh:

.1540, vua Mạc Đăng Doanh mất

.1541, vua Mạc Đăng Dung mất

.1546, vua Mạc Phúc Hải mất

4.Nguyên nhân quan trọng nhất là trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI có 2 xu hướng:

. Xu hướng tư hữu hoá ruộng đất, hình thành tầng lớp hữu sản , tư tưởng cởi mở phóng khoáng, trọng cả Nho, Phật , Lão và văn hoá dân gian; tôn trọng cá nhân; phát triển kinh tế nhiều mặt, nông công thượng nội ngoại thương.

. Xu hướng quan liêu bảo thủ Tống nho, trọng nông ức thương, bế quan toả cảng, độc quyền Nho giáo.

Cả hai xu hướng này đấu tranh loại trừ lẫn nhau. Sự thất bại của nhà Mạc là sự thất bại của xu hướng thứ nhất. Trong hoàn cảnh lịch sử đương thời, nhà Mạc chưa đủ điều kiện để chiến thắng xu hướng thứ hai. Xu hướng này còn tồn tại dai dẳng qua nhà Nguyễn và đến Cách mạng tháng Tám 1945 mới được giải quyết về cơ bản.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1.Phương pháp tiếp cận mà chúng tôi thực hiện trong bài gồm mấy điểm liên kết với nhau:

-Chỉ tìm hiểu một sự kiện, một nhân vật lịch sử cũng rất cần đặt trong mối liên quan gần và xa của sự kiện và nhân vật đối tượng.

-Kết luận và nhận định phải thiết kế trên tư liệu, không thể trên sự phỏng đoán thiếu tư liệu, không nên phỏng đoán -giả sử, kiểu “Chẳng lẽ người Minh dễ lừa đến thế” (Trần Thị Băng Thanh). Phải tìm cho ra “dễ lừa hay không”.

Theo xu hướng của sủ học hiện nay được gọi là tân sử học (new history) hay xã hội sử học (social history), hoặc truyền khẩu sử học (oral history).

-Đã tìm được tư liệu rồi không nên coi “như đinh đóng cột” ngay.

Phải thẩm định đối chiếu thận trọng. Ví dụ: về “trả lại đất” chúng tôi đã dựa trên bốn tư liệu (xin xem trong bài) .

GS Trần Quốc Vượng nói : sử gia Lê-Trịnh bôi đen lịch sử nhà Mạc , điều này rất đúng, mãi mãi đúng. Chúng ta rất biết ơn công lao các sử gia, không “phủ định sạch trơn” , như vậy là sai lầm nghiêm trọng, nhưng phải sử dụng thận trọng.

2.Trên cơ sở các phương pháp trên đây, chúng ta có thể rút ra nhận định:

-Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông đã có công lập nên môt triều đại tồn tại 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử, 12 đời vua, một đời chúa; có những đặc điểm nổi trội (13 đặc điểm) mà không phải triều đại phong kiến nào cũng có được.

-Ngoài ra, riêng Mạc Thái Tổ đã làm tròn hai sứ mệnh lớn lao và nặng nề:

+lật đổ triều đại nhà Lê suy đồi để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn,

+bằng các phương thức hoãn xung, phi chiến tranh, đẩy lùi cuộc chiến tranh nội ngoại xâm, của liên minh 23 vạn quân Minh-Lê-Trịnh.

Trên những thực tế lịch sử đtrên đây, chúng tôi đồng ý với GS Văn Tạo:

“Tôi tán thành việc Hà Nội đề xuất đặt tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông. Vì triều đại nhà Mạc tồn tại trong 65 năm nhưng đã cống hiến cho lịch sử, xã hội Việt Nam những thành tựu đặc sắc, mang lại phồn vinh, thịnh trị cho đất nước.”

3. Cho đến nay, nhiều tỉnh thành đã đặt tên Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông như: Quảng Ngãi, An Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Gia Lai, Thanh Hóa, T/P Hồ Chí Minh.

Vậy Hà Nội, nơi nhà Mạc đóng đô 65 năm, việc đặt tên các vị là đúng đắn và cần thiết.

P.Đ.N

Về bức đại tự An Nam Lý Học ở đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

alt

Ngô Đăng Lợi

Buổi sáng ngày 21 tháng 7 năm 2016, tại chùa Phổ Chiếu, trụ sở CLB Hải Phòng học có buổi sinh hoạt khoa học, Tiến sĩ Lã Trọng Long đã thuyết trình một số chữ Nho ở một số di tích lịch sử văn hóa mà ông cho là sai. Tôi nhất trí một số kiến giải của Tiến sĩ, nhưng riêng những phát hiện và yêu cầu sửa 4 chữ: An Nam Lý Học thì không. Ta biết Lê Quý Đôn soạn giả sách Kiến văn tiểu lục chép: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683). Xán có tiếng hay thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh núi sông bè bạn tặng, đáp vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 48 bài, đặt nhan đề là Sứ Giao ngâm. Khi về dâng lên triều đình. Trong các bài thơ ấy có câu “Y quan văn vật trọng Nam cương, lại tự chua rằng: Nhân vật nước này, về phần lý học có Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế (kinh bang tế thế - Giúp nước cứu đời. N.Đ.L chú) có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh; còn về phần văn học có khá nhiều”.

Như thế thì tiếng tăm các bậc tiền bối nước ta vang đến Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp. Nguyễn Công Vọng, Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điển tiếp đãi ở sứ quán, Nguyễn Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống, đều có thơ tặng vừa thất ngôn, vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đều chép thành tập nhan đề là Nam Giao hảo ngâm, phụ vào với các tập trước đều khắc ván gỗ phát hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được Trung Quốc quý trọng.

Tôi thấy cần nói thêm dưới thời vua Lê Hy Tông (1676 – 1705) với niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680), Chính Hòa (1681 – 1705) được người đương thời ca ngợi là thời thịnh trị bậc nhất thời Lê Trung Hưng. Quan hệ bang giao giữa vua ta và vua nhà Thanh khá thân thiện, tháng 9 năm Mậu tý (1683) vua Thanh sai sứ sang ban cho vua Lê dòng chữ đại tự “Trung hiếu thủ bang” (cò lòng trung thành, hiếu kính để giữ nước). Đây là sự tri ân nhà Lê đã từ chối không cứu viện cho Ngô Tam Quế, bầy tôi phản nghịch chống nhà Thanh. Vua Thanh còn sai sứ ban lễ phẩm cho việc tế vua Lê Huyền Tông (1663 – 1671) và Lê Gia Tông (1672 – 1675).

Thời gian thịnh trị này, không thể không nhắc đến vai trò của vị chúa trí đức song toàn Trịnh Căn (1682 – 1709).

Tuy nhiên, Lê Quý Đôn ghi Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ 4 (1683) chắc sai. Chúng tôi đã đối chiếu với Bang giao chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thấy ghi rõ: Hy Tông năm Chính Hòa thứ 3 (1682) ngang với Khang Hy thứ 21 (1682) nhà Thanh, vua ta sai Thân Toàn, Đặng Công Chất sang cống nhà Thanh.

Về tiểu sử 2 sứ thần Thân Toàn và Đặng Công Chất, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 do Ngô Đức Thọ chủ biên – NXB Văn học 1993 cho biết:

- Thân Toàn (1621 - ?) người xã Phương Đỗ huyện Yên Dũng nay thuộc xã Mai Khê huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang đỗ Đồng tiến sĩ khoa Nhâm thìn Khánh Đức thứ 4 (1652) làm quan trải các chức Đô ngự sử, Tả thị lang bộ Hộ (1676) được cử sang sứ nhà Thanh năm 1682. Sau khi hoàn thành sứ mệnh được thăng Tham tụng, Thượng thư bộ Binh tước Bá.

- Đặng Công Chất (1622 – 1683) người xã Phù Đổng huyện Tiên Du nay thuộc quận Gia Lâm Hà Nội, đỗ Trạng nguyên khoa Tân sửu niên hiệu Vĩnh Thọ thứ tư (1661) đời Lê Thần Tông làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Hình, mất năm Chính Hòa 4 (tháng 8 – 1683) được tặng Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lại, tước Bá. Năm Chính Hòa 3 (1682) làm Phó sứ sang cống nhà Thanh.

Qua những sử liệu trên, có thể khẳng định Lê Quý Đôn nhớ nhầm năm Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ tư (1683).

Còn câu An Nam lý học hữu Trình Tuyền là lời Vũ Phương Đề chứ không phải của Chu Xán.

Nhà nho Vũ Phương Đề có lý khi ông dựa vào ý của Chú Xán đề 4 chữ trên, còn các nhà nho nổi tiếng Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo, Hồ Sĩ Dương được Chu Xán coi là nhà Lý học, nhưng đền thờ các ông và hậu thế đều không xác nhận là An Nam lý học.

N.Đ.L

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay63
mod_vvisit_counterHôm qua171
mod_vvisit_counterTất cả36805
Hiện có 11 khách Trực tuyến