Lịch sử

Kế sách mở mang “điền trang thái ấp” với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử

Vào năm 1226, theo qui luật thịnh - suy, triều đình nhà Lý dời khỏi vũ đài chính trị Đại Việt để nhường chỗ cho một triều đại mới - Vương triều Trần (1226-1400). Dưới triều đại Trần chế độ trung ương tập quyền dần được khôi phục và cuộc nội chiến giữa các phe phái phong kiến từng bước chấm dứt. Tiếp tục lấy tinh thần “độc lập - tự chủ” được hình thành, củng cố từ thời nhà Lý làm nền tảng tư tưởng, triều đại nhà Trần đã đẩy mạnh sự nghiệp dựng nước, bảo vệ lãnh thổ quốc gia, tăng cường tiềm lực quốc phòng và tập trung phát triển kinh tế để lo đối phó với nạn ngoại xâm, dẹp bỏ mọi xu thế cát cứ bằng hàng loạt các chính sách tiến bộ như:”ngụ binh ư nông”,”ban cấp thái ấp, điền trang, khai hoang lập làng xã mới…

Kỳ I: Mở mang cõi bờ bằng chính sách kinh tế tiến bộ

Có thể nói, một chính sách kinh tế tiến bộ thời bấy giờ của vương triều nhà Trần là tiến hành phong cấp thái ấp, điền trang cho những vương hầu quí tộc cũng như những người có công với làng xóm, quê hương, đất nước để làm phên dậu bảo vệ chính quyền quân chủ chuyên chế tập quyền. Miền đất “quan yếu” Hải Phòng đương thời được triều đình nhà Trần hết sức chú trọng, cử những thân vương, quí tộc, quan lại có uy tín trông nom: Hưng Ninh Vương Trần Tung (đạo hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ) là anh trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, được phong thái ấp Vạn Niên ở vùng Dưỡng Chân – Nam Giang Triệu (nay thuộc xã Chính Mỹ - huyện Thủy Nguyên); thượng tướng Trần Quốc Thành, được phong thái ấp ở đất Bàng Hà (nay thuộc huyện Tiên Lãng); hoàng tôn Trần Quốc Bảo (cháu vua Trần) được ban thái ấp vùng Tràng Kênh - Dưỡng Động (Thủy Nguyên); công chúa Thiên Thụy (tức Quỳnh Trân công chúa - con gái trưởng của Trần Thánh Tông) có thái ấp ô vùng May- Mô (Kiến Thụy- An Lão ngày nay).

Tương tự, em gái Quỳnh Trân là công chúa Chiêu Trinh được ban cấp  thái ấp ở vùng Kha Lâm - Tây Sơn (Kiến An); võ tướng thuộc dòng dõi quí tộc là Trần Quốc Thi được phong thái ấp ở vùng Lạng Côn - Đại Trà (Kiến Thụy)…Toàn thư ghi rằng: “Chế độ nhà Trần, các vương hầu đều có phù đệ ở hương của mình, khi chầu hầu thì mới đến kinh sư, xong việc lại trở về như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương…Các vương hầu cũng đem người nhà và hương binh, thổ hào làm quân giúp vua”. Căn cứ Toàn thư, truyền thuyết dân gian và dấu tích lịch sử thì thái ấp của các thân vương, quí tộc nhà Trần ở Hải Phòng vừa mang tư cách là một tổ chức chính trị- quân sự, vừa hoạt động theo hướng là một đơn vị kinh tế - xã hội độc lập. Triều đình nhà Trần không những thi hành chính sách ban cấp thái ấp, điền trang cho các thân vương, quí tộc, tướng lĩnh và những người có công, mà còn đẩy mạnh chủ trương khuyến khích các chủ điền trang thái ấp chiêu tập dân phiêu tán, những người không sản nghiệp để làm nô tỳ đi khẩn hoang lấn biển, lập các trại ấp mới ở vùng biên viễn…

Nghiên cứu về quá trình hình thành làng xã ở Thủy Nguyên, các tác giả Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Quang Ngọc (Đại học quốc gia Hà Nội) cho rằng: Ngoài một số làng có cả tên Nôm lẫn tên chữ (chẳng hạn như làng Dãng, tên chữ là Dưỡng Động; làng Nóm, tên chữ là Niêm Sơn; làng Vẹt, tên chữ là Việt Khê…) thường quần tụ ở ven sườn đồi hay chân núi đều có nguồn gốc từ rất xa xưa, ít nhất cũng hình thành từ trước thời Bắc thuộc, thì phần nhiều các làng ở Thủy Nguyên không có tên Nôm, chỉ có tên chữ, mà trong các tài liệu văn tự của làng xã thường được chép là “ trang”; ví dụ: Đường Sơn trang, Thủy Đường trang, Chung Mỹ trang...ra đời gắn với thời đại Lý - Trần.

Đặc biệt từ sau đại thắng giặc Nguyên lần thứ 3 (1288), triều đình nhà Trần càng nhận thức sâu sắc vị trí chiến lược quan trọng của miền bể Đông Bắc (Hải Phòng- Quảng Ninh ngày nay) trong chiến lược phòng thủ đất nước nên rất lưu tâm đến việc củng cố làng xã nơi đây. Vua Trần ban thưởng tước phẩm, cử tôi trung trực tiếp quản lý tới tận các làng xã. Trần Hưng Đạo nhiều lần trở về thăm lại chiến trường xưa và cử con trai thứ 5 về triệu tập dân lưu tán, lập ra làng xã mới. Nhiều thân vương, quí tộc, tướng lĩnh thuộc dòng dõi tôn thất, con rể vua và các tướng soái tâm phúc của Trần Quốc Tuấn về sống giữa lòng dân, dốc lòng thực thi chiến lược “sâu rễ bền gốc”. Sử cũ chép rằng “Xã Chung Mỹ thờ thần là Hưng Trí vương, theo Vương dẹp giặc Nguyên ở sông Bạch Đằng, về đến xã ấy triệu tập lưu dân, sau khi chết xã lập đến thờ”. Sách Đồng Khánh Dư địa chí lược cho biết thêm: “ Xã Thụ Khê có đền thờ Trần Hưng Đạo Vương dẹp Ô Mã Nhi, đi qua Thụ Khê, sau khi phá giặc, để lại một thanh kiếm”, hoặc “Đền Trần Hoàng Tôn phụng thờ con trai Trần Anh Tông, tên là Quốc Bảo, dẹp giặc Bá Linh ở sông Bạch Đằng”. Bản ngọc phả làng Thường Sơn chép rằng vua Trần gả con gái thứ 2 cho chàng trai họ Lại để phụng dưỡng mẹ già cho chàng yên tâm đánh giặc…Theo thần tích và truyền ngôn dân gian, sau khi giúp vua đuổi giặc, các tướng người Hải Phòng như: Nguyễn Chính, Hoa Duy Thành, Lương Toàn, Lại Văn Thanh, Nguyễn Danh Uy, Phạm Hữu Điều, Nguyễn Hoàng..đều xin trở về quê hương bản quán, khai khẩn đất hoang, mở rộng thái ấp điền trang, làng xóm. Với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập và xây dựng quần thể chùa tháp, tăng viện Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh), lúc này chùa chiền ở Hải Phòng cũng đua nhau mọc lên. Hầu như làng xã nào cũng có chùa thờ Phật, trong đó nổi tiếng hơn cả là tịnh thất của Hưng Ninh vương Trần Tung (tức Tuệ Trung thượng sĩ, là thầy dạy giáo lý nhà Phật cho vua Trần Nhân Tông) dựng ở làng Dưỡng Chân (Chính Mỹ - Thủy Nguyên). Chùa làng Bùi (Điều Yêu - An Dương) do bà Bùi Thị Thực là chị gái hai tiến sĩ Bùi Xuân Hổ và Bùi Xuân Hùng, người làng này xây dựng. Công chúa Chiêu Trinh xây chùa Kha Lâm và công chúa Chiêu Hoa xây chùa Quy Tức…Cuối đời Trần, Hải Phòng là địa bàn hoằng dương Phật pháp của Thiền sư nổi tiếng là Thánh Tổ Non Đông. Thánh Tổ Non Đông thế danh là Vương Huệ là người sáng lập nên Tổ đình Quang Khánh (xã Dưỡng Mông - Hải Dương), tục gọi là Tổ Muống hay Tổ Cáy. Ngài là bậc danh tăng đức cao đạo trọng, độ được nhiều đệ tử, được vua Trần Minh Tông ban đạo hiệu Từ Giác Quốc sư. Tương truyền, chỉ trong một đêm, Thánh Tổ Non Đông dựng cả thảy 72 ngôi chùa ở lộ Hải Đông (Hải Dương- Hải Phòng và một phần Quảng Ninh); trong đó có một số cổ tự nổi tiếng trên địa bàn Hải Phòng ngày nay như: Phục Lễ, Phương Mỹ, Nhân Lý, chùa Cao trên núi Vân Ô (thị trấn núi Đèo), chùa Đông Tạ (Vĩnh Bảo), chùa Dư Hàng, Đông Khê (nội thành), chùa Du Lễ, chùa Mõ (Kiến Thụy)…

Kỳ II: Vang mãi võ công “ đằng giang tự cổ huyết do hồng”

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược lần thứ 2 (1285), ở vùng đất Hải Phòng ngày nay đã xuất hiện nhiều tấm gương sẵn sàng xả thân vì nước. Đó là hai anh em Trần Nhội và Trần Phương người trang Văn Đẩu (Kiến An) đứng ra tuyển mộ quân sĩ theo Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chống giặc. Trần Nhội từng thi đậu Thái học sinh, được bổ nhiệm vào Viện hàn lâm. Trần Phương đỗ võ cử, được sung làm quản vệ. Khi cuộc kháng chiến lần thứ hai nổ ra, Trần Nhội được phong chức Hữu quản binh trong đạo quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Ông là người tiến cử các em vợ là Nguyễn Thiên Lộc, Nguyễn Thiên Mẫn và Nguyễn Bình với Chiêu Văn Vương và đều được tin dùng. Các tướng sĩ thuộc đội quân do Trần Nhội, Trần Phương chỉ huy đều là người vùng Kiến An - An Lão bây giờ đã xả thân lập công lớn trong các trận Đại Mang, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng….lừng danh sử sách.

Lúc bấy giờ “Hịch tướng sĩ” dội về vùng đất Vĩnh Bảo, lập tức Vũ Đăng Dũng, người trang Đan Điền (xã Dũng Tiến) đứng ra chiêu mộ hương binh, lập đồn Cự Lai, phối hợp cùng quân triều đình đánh giặc giữ nước. Ông được cữ giữ chức Đô đốc Chỉ huy sứ, từng lập công lớn trong đại phá quân Nguyên ở Vạn Kiếp và trận Bạch Đằng 1288. Ở ấp Thiềng (Từ Lâm - Đồng Minh) có Hoa Duy Thành là người văn võ song toàn, được dân chúng quanh vùng suy tôn là thần đồng, tự đứng ra tập hợp các hào kiệt tham gia giúp nước. Đội quân tinh nhuệ của Hoa Duy Thành nhanh chóng được Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thu nạp, sai tập kích trại giặc ở Vạn Kiếp, truy đuổi đoàn quân của Thoát Hoan đang hoảng hốt rút chạy theo ngả Lạng Sơn. Bấy giờ ở Nam Triệu (tức Thủy Nguyên ngày nay), tại trang Thủy Đường có Lại Văn Thanh, mồ côi cha từ sớm, được mẹ động viên đã tình nguyện lên đường đánh giặc, được vua Trần tin dùng, lập công to trong trận Bạch Đằng năm 1288 được phong chức Đô úy Thượng phẩm Đại liêu.

Theo phần tích miếu Du Lễ (Kiến Thụy), danh tướng Vũ Hải, người bản trang được phong tới chức Phó đô Trung lang tướng, cầm quân dưới trướng Thượng tướng - Thái sư Trần Quang Khải. Đội quân bản bộ của Vũ Hải trực tiếp tham gia chặn đường tiến quân của Toa Đô từ Chăm Pa đánh vào Nghệ An. Sau lại theo Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đánh tan quân Nguyên ở sông Nhị Hà. Đặc biệt, trong trận Tây Kết, dưới sự chỉ huy của vua Trần, Vũ Hải đã cùng các tướng sĩ giết và bắt sống nhiều giặc, chém được đầu Toa Đô. Tương truyền trong trận thủy chiến ở cửa biển Đại Bàng (nằm ở khoảng giữa cửa Văn Úc và cửa Họng) diễn ra ngày 8 tháng 1 năm 1288, quân ta bắt được 300 thuyền, giặc Nguyên bị chết đuối rất nhiều, Vũ Hải đã anh dũng hy sinh trên sông nước quê nhà.

Lại nói, ngày ấy ở trang Quỳnh Hoàng (Nam Sơn) thuộc huyện An Dương có Nguyễn Danh Uy đứng ra tuyển mộ 30 tráng viên giỏi võ nghệ lập thành đội quân thần tử kéo tới quân doanh yết kiến Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn xin được ra chiến trường đánh giặc. Nguyễn Danh Uy được Trần Quóc Tuấn tin dùng, phối hợp cùng với các tướng Hưng Nhượng vương, Hưng Trí vương, Hưng Vũ vương..đốc thúc 20 vạn quân mở cuộc đại phản công tiêu diệt giặc Nguyên trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Khi nổ ra cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên lần thứ 3, Nguyễn Danh Uy tiến cử bạn tâm giao, có tài thao lược là Nguyễn Lãng, người Hưng Hóa cùng tham gia trận phục kích chiến lược trên sông Bạch Đằng năm 1288. Ở huyện An Dương còn có Hoàng Công Thản, quê ở Điều Yêu( xã Hồng Thái), vốn là người thông minh, ham học. Thời gian học tập ở kinh đô, Hoàng Công Thản kết giao với bạn bè với Trần Khánh Dư, Lê Mục, Lê Quân…và là người đầu tiên giữ chức “Quản ca công sự vụ” - đứng đầu ngạch quản ca đời Trần. Nhưng khi quân Nguyên xâm lược, ông một mực đòi tham dự trận Tây Kết và trở thành tấm gương cổ vũ tinh thần xung trận của ba quân tướng sĩ…

Sách Toàn thư chép: “Ngày 26 (tháng 12 năm Giáp Thân 1284) vua (Trần Nhân Tông) ngự thuyền nhẹ ra Hải Đông, chiều tối rồi mà chưa ăn cơm sáng, có người lính là Trần Lai dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung, ban cho chức thượng phẩm, kiêm chức tiểu tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng”. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì làng Thủy Chú (Thủy Nguyên) là nơi đưa tiễn hai vua Trần vào Thanh Hóa chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược quét sạch quân Nguyên ra khỏi cõi bờ.

Sông Bạch Đằng lại một lần nữa được Trần Quốc Tuấn lựa chọn lập trận địa mai phục chôn vùi mộng xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông. Sử cũ và truyền thuyết dân gian phản ánh khá đậm nét về những đóng góp của quân và dân Hải Phòng cho trận đại thắng trên sông Bạch Đằng năm 1288. Ở Phả Lễ (Thủy Nguyên) có Mai Đình Nghiễm tổ chức dân địa phương lên rừng đẵn gỗ để xây dựng trận địa cọc ở cửa sông Chanh. Trần Quốc Tuấn cử Mai Đình Nghiễm chỉ huy một đội quân cảm tử chuyên đi dò xét tình hình địch, nhiều lần lặn xuống sông đục chìm thuyền giặc, khiến chúng hết sức hoảng sợ. Ông đã hy sinh trong một lần làm nhiệm vụ. Hai anh em Trần Hộ, Trần Độ chỉ huy dân làng Phục Lễ, Phả Lễ lập thành các đội dân binh tuần tra trên sông, đảm bảo việc giữ gìn bí mật cho trận địa cọc. Lý Hồng tổ chức cho dân làng Do Lễ (Tam Hưng- Thủy Nguyên) rèn giáo mác theo Trần Quốc Tuấn đánh giặc. Ở Do Lễ còn có Vũ Nguyên, nhà rất nghèo, phải đi làm thuê nuôi mẹ vẫn động viên dân làng tham gia chiến đấu. Vũ Đại ở Dưỡng Động (Minh Tân- Thủy Nguyên) dẫn một đạo dân binh mai phục ở bến sông Bạch Đằng sẵn sàng diệt địch. Ông Lủi, bà Lủi là người dân kiếm củi làng Tràng Kênh tự nguyện làm liên lạc cho giao thông quân đội. Bà hàng nước ở bến đò Rừng bằng tất cả kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình đã tận tình mách bảo cho Trần Quốc Tuấn về tình hình nước thủy triều lên xuống và địa hình địa vật vùng thượng lưu sông Bạch Đằng. Vũ Chí Thắng người làng Hàng Kênh, huyện An Dương được làm việc bên cạnh Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nhận sự ủy thác của triều đình về miền Hải Đông bí mật bố trí đồn trại. Khi vây căn cứ Vạn Kiếp, có lần ông cho quân mặc giả quân Nguyên, ban đêm vào trại giặc rồi đốt lửa làm hiệu để trong đánh ra, ngoài đánh vào tiêu diệt địch. Với tài tiên đoán tài tình về tình hình di chuyển của quân địch, ông đã hiến kế chặn giặc trên sông Giá để buộc Ô Mã Nhi phải theo sông Đá Bạc vào bẫy của ta ở sông Bạch Đằng. Lương Toàn, người trang Quý Xuyên (nay thuộc xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo), tự bỏ tiền mua sắm vũ khí, tuyển 15 người tài giỏi trong trang xung quân dự trận Bạch Đằng.

Để giúp cho quân đội nhà Trần giành thắng lợi chóng vánh trong trận đại thủy chiến sông Bạch Đằng 1288, bà Bùi Thị Từ Nhiên ở trang Phú Lương (nay là thôn Phú Xá, quận Hải An) đã tự mình vận động dân làng đóng góp lương thực nuôi quân. Bà Mai Thị Tuyến ở làng Sưa (An Lư - Thủy Nguyên) thấy sông Hà Tê chảy qua quê mình gây cản trở cho việc hành quân, bà đã xuất tiền của, thóc gạo vận động dân làng bắc một cây cầu qua sông để giúp việc quân. Quận Đa phu nhân ở trang Câu Tử (Hợp Thành - Thủy Nguyên) đã động viên hai người con trai theo vua Trần đánh giặc trong trận Bạch Đằng năm 1288 và cả hai đã anh dũng hy sinh. Nhân dân các làng xã thuộc sông Giá, sông Bạch Đằng đã quyên góp lương thực, ủng hộ phương tiện chiến đấu và đảm bảo hậu cần cho quân đội. Nhân dân nhiều làng còn tổ chức kết bè, mảng chất củi khô, dầu trám phục vụ trận hỏa công Trúc Động ngăn không cho đoàn chiến thuyền của địch đi vào sông Giá, buộc phải xuôi theo dòng Đá Bạc, lọt vào thế trận mai phục của ta ở sông Bạch Đằng.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là chiến công vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt của dân tộc ta, như Trần Hưng Đạo tổng kết, là chiến công của “ cả nước góp sức”, nhưng sức đóng góp to lớn nhất, trực tiếp nhất và đa dạng nhất chính là sức đóng góp của các làng xã trên mảnh đất Hải Phòng ngày nay.

(Nguồn: Kể sách mở mang” điền trang thái ấp” với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử”/Trần Phương//Khoa học và Kinh tế. - Số 130, tháng 4 năm 2013. - tr. 44 - 47)

Tìm hiểu xuất xứ tên gọi Thành phố Hải Phòng

alt

(Ảnh sông Tam Bạc thời Pháp. Nguồn: Internet)

Chúng ta thường hỏi: “ Hải Phòng” Tên thành phố quê hương có từ bao giờ. Tranh luận về điều này người ta đưa ra một số giả thiết:

  1. “ Hải Phòng” là tên rút ngắn trong cụm từ Hải tần phòng thủ- khu vực Duyên hải mà nữ tướng Lê Chân được Hai Bà Trưng giao canh phòng, bảo vệ sau khi Hai Bà lên ngôi.
  2. “Hải Phòng” là tên gọi nha Hải Phòng sứ hoặc đồn Hải Phòng ở bến Ninh Hải, có nhiệm vụ canh phòng cửa biển do viên quan Bùi Viện lập từ năm 1870 đời vua Tự Đức.
  3. “Hải Phòng” là tên rút ngắn từ tên một cơ quan có trách nhiệm canh phòng cửa biển và thu thuế giao thương thời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng.

  Trong 3 giả thiết trên thì giả thuyết thứ nhất dễ bị bác bỏ, bởi cụm từ “hải tần phòng thủ” là chỉ chung việc phòng thủ bờ biển (cũng như nha Hải Phòng thời Nguyễn được lập ở các tỉnh ven biển với chức năng canh phòng bờ biển). Vả lại, nếu tên gọi “ Hải Phòng” có từ thời Lê Chân thì sao trong các thư tịch cổ chưa bao giờ thấy nhắc đến?

Còn cho rằng địa danh “ Hải Phòng” là bắt nguồn từ tên một cơ quan được đặt từ đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng (hay Hải Dương quan phòng, Hải Dương phòng khẩn quan phòng) cũng không có lý lắm bởi triều đình nhà Nguyễn đã cho đặt Hải dương quan phòng (hay nha Hải Phòng) ở nhiều địa phương ven biển hoặc có đường biên giới biển giáp nước ngoài với chức năng là cơ quan bảo vệ, canh phòng chủ quyền của đất nước chứ không chỉ ở riêng ở Hải Dương.Ví dụ nha Hải Phòng ở Nghệ An, nha Hải Phòng Thanh Hóa, nha Hải Phòng ở Thái Bình…

Giả thuyết thứ hai có nhiều lý do được chấp nhận hơn, tức là tên thành phố Hải Phòng bắt nguồn từ đồn Hải Phòng trên bến Ninh Hải.

Ngược lại quá khứ chúng ta biết rằng, tên “Ninh Hải” liên quan nhiều đến tên gọi Hải Phòng.Vào thập niên 70 của thế kỷ 19, bến Ninh Hải (trên đất làng Cấm Gia Viên nay) còn thuộc tỉnh Hải Dương, đã là một cảng sông tấp nập thuyền bè buôn bán, trao đổi hàng hóa.

Theo hòa ước Phidastre ký ngày 15/03/ 1874 (còn gọi là hòa ước Giáp Tuất) giữa đại diện Cộng hòa Pháp là Phidastre với đại diện triều đình nhà Nguyễn có đoạn ghi: Chính phủ An nam cam kết mở cửa thông thương các cảng Thị Nại ở tỉnh Bình Định, Ninh Hải (Hải Phòng) ở tỉnh Hải Dương, thành phố Hà Nội và cho đi qua sông Nhị Hà từ biển cho tới Vân Nam (mục 11 của Hòa ước).

Như vậy là từ năm 1874, bến bờ Ninh Hải bên bờ sông Cấm đã được gọi là cảng. Trong mục 11 bản Hòa ước này cũng đã xuất hiện từ Hải Phòng đặt trong ngoặc đơn cạnh địa danh Ninh Hải với tư cách đồng nghĩa với từ Ninh Hải. Bản phụ lục của Hòa ước Philastre còn có đoạn ghi: “Ở Ninh Hải, viên lãnh sự và tùy tùng tiếp tục đóng ở đồn chừng nào họ thấy cần để bảo đảm an toàn cho việc buôn bán. Ông ta mai sau ở trên một khoảng đất 5 mẫu sẽ được nhượng địa”. Vậy đồn ở Ninh Hải nói trên là đồn nào? Sách Viễn Đông của Paul- Bonnetain nói về hiệp định ký năm 1874 (hòa ước Phildastre) có đoạn viết: Lính Pháp sẽ rời khỏi thành Hà Nội rút về Cửa Cấm ở trong đồn Hải Phòng. Theo đây thì đồn Hải Phòng nằm trên bờ sông Cấm. Đặc biệt trong cuốn: “Nguồn gốc của vấn đề Bắc Kỳ” do Jean Dupuis xuất bản năm 1896 có đoạn mô tả về đồn Hải Phòng cho ta rõ thêm vị trí của đồn Hải Phòng: “Ngày 15 tháng 11- 1872 chúng tôi đổ bộ ở quãng trên, đối diện với vị trí hiện nay của Hải Phòng (đồn). Hải Phòng hồi đó chỉ là bãi lầy bùn, khi thủy triều lên thì bị ngập. Chúng tôi đổ bộ ngay trước mặt một cái đồn đắp bằng đất dựng ở ngã ba sông Tam Bạc và Cửa Cấm, có nhiệm vụ bảo vệ lối ra vào ở cửa biển này.

Vậy là đồn Hải Phòng án ngữ tại ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm, sau này cùng với diện tích nhượng địa mà triều Nguyễn cắt cho Pháo đã trở thành tiền đề cho tên gọi tỉnh Hải Phòng (năm 1883) và sau đó là thành phố Hải Phòng (năm 1888) dưới thời Pháp.

Tên gọi Hải Phòng đã có từ năm 1870 trước khi người Pháp đặt chân đến đây (1872). Sau này bến Ninh Hải trở thành nhượng địa của Pháp thì họ quen gọi nơi đây là Hải Phòng. Việc dùng tên gọi Hải Phòng mà không dùng tên Ninh Hải có thể là vì người Pháp quen gọi đồn Hải Phòng, nơi đồn trú và nơi đặt cơ quan lãnh sự của họ.

Cái tên Hải Phòng đựoc hành chính hóa và trở thành địa danh từ khi thực dân Pháp thành lập tỉnh Hải Phòng và sau đó là thành phố Hải Phòng.

Hiệp ước Harmand được ký ngày 25/08/1883 giữa Tổng ủy đại diện ngoại giao Cộng hòa Pháp Francois Jules Harmand và đại diện Triều đình Huế trên thế mạnh ngày một lấn tới của Pháp và thế yếu phải nhượng bộ ngày càng nhiều của triều Nguyễn.Trong đó có điều khoản ghi: “Tách Ninh Hải ra khỏi tỉnh Hải Dương và thành lập tỉnh Hải Phòng (Province) là một đơn vị hành chính cấp tỉnh”.

Với sự kiện ngày 19 tháng 7 năm 1888, khi toàn quyền Đông Dương Richaud ký nghị định thành lập các hội đồng của các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và ngày 03 tháng 10 năm 1888 khi vua Đồng Khánh ban đạo dụ nhượng lại cho chính quyền Pháp các vùng lãnh thổ thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng thì Hải Phòng chính thức trở thành một thành phố thuộc địa. Phạm vi các thành phố sau đó được xác định chủ yếu bao gồm khu vực xung quanh tả ngạn và hữu ngạn sông Cấm cùng một số làng xã ngoại vi như Gia Viên, Đông Khê, Hàng Kênh, An Biên, Hạ Lý.

Như vậy, có thể thấy đô thị Hải Phòng ngay từ thời kỳ mới ra đời đã lấy cảng và sông Cấm làm vị trí trung tâm và định hướng trong qui hoạch và xây dựng.

Thành phố Hải Phòng nay còn được gọi là thành phố Hoa Phượng Đỏ (hay thành phố Cảng) đã ra đời từ một cảng sông, được người Pháp mở mang, đô thị hóa rồi đầu tư, xây dựng các cơ sở kinh tế, phát triển công nghiệp, thương mại, dần trở thành một thành phố loại I theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp Saidi Carnot (ký ngày 19 tháng 7 năm 1888), ngang cấp với thành phố Sài Gòn (Grande Municipalite de Sai Gon) khi đó.

Hiện nay, sau khi Chính phủ xác định Hải Phòng là thành phố đô thị loại I Trung tâm cấp Quốc gia và ưu tiên đầu tư phát triển thành một cực tăng trưởng trong tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh thì vai trò của thành phố Cảng càng trở nên quan trọng đối với đất nước. Đó là niềm vinh dự và tự hào của người dân Hải Phòng, cũng đòi hỏi trách nhiệm cao hơn của Đảng bộ, quân và dân Thành phố đối với việc xây dựng và bảo vệ thành phố Cảng.

(Nguồn: Tìm hiểu xuất xứ tên gọi Thành phố Hải Phòng/ Thi Văn// tạp chí Khoa học và Kinh tế. - số 129, tháng 3- 2013. - Tr. 15- 16)


Chiến thắng Bạch Đằng 938- nghệ thuật đánh bại quân xâm lược ngay từ trận đầu, trên tuyến đầu.

Sau thất bại của cuộc xâm lược lần thứ nhất (năm 930, 931), vương triều Nam Hán chưa từ bỏ dã tâm thôn tính nước ta.Vì thế, sự cầu viện của tên phản quốc Kiều Công Tiễn là “thời cơ vàng” để chúng phát động chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Nhằm tránh lặp lại thất bại, vua Nam Hán đã chuẩn bị rất kỹ, với lực lượng hàng chục vạn quân, lương thảo dồi dào và hàng trăm chiến thuyền cỡ lớn,…

Theo ý đồ và kế hoạch đã vạch ra, địch chia quân làm hai đạo: đạo binh thứ nhất, gồm lực lượng chủ lực tinh nhuệ cùng nhiều chiến thuyền lớn do thái tử Lưu Hoằng Tháo cầm đầu, theo đường biển ồ ạt tiến vào nước ta; đạo binh thứ hai, do vua Nam Hán trực tiếp chỉ huy, áp sát biên giới để sẵn sàng ứng viện.

Đoán trước được ý đồ “ nội công, ngoại kích” của địch, Ngô Quyền đã tập hợp các tướng lĩnh, hào kiệt, kéo quân từ Ái Châu ra, nhanh chóng diệt trừ tên phản quốc Kiều Công Tiễn và bè đảng của hắn- dập tắt mối họa bên trong, làm thất bại ngay từ đầu âm mưu dùng nội ứng của vương triều Nam Hán. Tiếp đó, chuẩn bị đất nước về mọi mặt để chống giặc.Trước thế giặc mạnh, Ngô Quyền một mặt kêu gọi, động viên nhân dân phát huy sức mạnh cố kết cộng đồng và khí thế độc lập của dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp để đối phó với chiến tranh xâm lược. Mặt khác, ông chủ trương lợi dụng địa hình hiểm trở của núi rừng, sông nước vùng Đông Bắc bày một thế trận hiểm hóc và tập trung lực lượng mạnh để tiến hành trận chiến lớn, đánh bại quân địch ngay tại cửa sông Bạch Đằng. Theo kế sách này, quân ta đã bí mật bố trí các bãi cọc ngầm ở nơi hiểm yếu dưới lòng sông Bạch Đằng và triển khai các trận địa mai phục hai bên bờ, sẵn sàng đánh địch. Đúng như dự đoán của ta, khi bị kích động bởi bộ phận khiêu chiến, nhử địch, quân Nam Hán đã hùng hổ tiến vào sông Bạch Đằng hòng “ ăn tươi, nuốt sống” quân ta và chúng đã mắc mưu - lọt vào trận địa mà ta đã bày sẵn.Khi nước thủy triều đang xuống, Ngô Quyền lệnh cho thủy quân từ các vị trí ở thượng lưu phản công kiên quyết, mãnh liệt đánh xuống chặn đầu, kết hợp với quân thủy, quân bộ mai phục hai bên bờ sông đánh vào bên sườn đội hình địch. Bị đòn đánh mạnh bất ngờ, quân địch không kịp trở tay, hoảng loạn tháo chạy hòng thoát ra biển, nhưng đâm vào trận địa cọc ngầm của quân ta. Trong thời gian ngắn, toàn bộ chiến thuyền của địch bị nhấn chìm, hầu hết quân địch bị tiêu diệt, trong đó có cả chủ soái Lưu Hoằng Tháo. Chiến thắng nhanh, gọn, triệt để của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng khiến vua Nam Hán không kịp ứng phó, tiếp viện mà chỉ có cách duy nhất là “thương khóc, thu nhặt tàn quân còn sót mà rút lui” và từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa lịch sử to lớn, là mốc son chói lọi chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc; phá tan mưu đồ “đồng hóa” -  một chính sách đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa Đại Hán tộc; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên phát triển của quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ, thời kỳ trưởng thành của dân tộc Việt Nam.Chiến thắng đó đã để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý, nhất là nghệ thuật đánh bại quân xâm lược ngay từ cửa ngõ đất nước được thể hiện ở một số điểm như sau:

Một là, quyết định “phương lược” đánh giặc sớm, đứng đắn, sáng tạo. Có thể thấy phương lược trong trận chiến Bạch Đằng là hết sức táo bạo nhưng đứng đắn, chính xác mà trước đó chưa hề có trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng đắn về tương quan so sánh lực lượng, Ngô Quyền thấy rõ chỗ mạnh của địch: quân đông, vũ khí, trang bị mạnh, nhất là các thuyền chiến lớn. Nhưng quan trọng hơn, thấy rõ những điểm yếu chí tử của chúng; đó là: tướng giặc (Lưu Hoằng Tháo) còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trận mạc, kiêu ngạo, chủ quan, khinh địch, không có nội ứng, lại cơ động từ xa đến, địa hình xa lạ, hiểm trở nên tinh thần mỏi mệt, cùng những ám ảnh bởi thất bại của lần xâm lược trước. Về phía ta, Ngô Quyền đã diệt trừ nội phản, ổn định nội bộ bên trong để rảnh tay chống giặc ngoại xâm; được nhân dân đồng tình ủng hộ, sự đồng lòng của các tướng lĩnh, hào kiệt quết tâm đánh giặc giữ nước. Bởi thế, trong thời gian ngắn, lực lượng của ta đã có tới vài vạn người; trong đó, đạo quân Ái Châu do Ông trực tiếp tuyển mộ, huấn luyện làm nòng cốt. Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng quân ta cũng gặp nhiều khó khăn, đó là: thời gian chuẩn bị ngắn, lực lượng kháng chiến chưa được huấn luyện kỹ, trang bị còn thô sơ so với địch. Song xét tổng quan, sức mạnh tổng hợp của ta mạnh hơn địch. Thứ nhất, yếu tố con người - toàn dân ủng hộ và tập hợp được các tướng lĩnh có tài thao lược. Thứ hai, khu vực ta lựa chọn đánh địch có địa hình thiên hiểm, thuận lợi cho ta bày thế trận để phát huy cao nhất sức mạnh của các lực lượng và trang bị, vũ khí (thuyền nhỏ, cung nỏ). Thứ ba, quân Nam Hán từ xa đến nên tinh thần uể oải, không thông thạo địa hình, thổ nhưỡng, thủy triều.Như vậy, quân ta hội tụ đủ ba nhân tố: “ thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, lấy “ sức nhàn thắng sức mỏi”. Do đó, khi bàn phương lược mưu, kế, thế trận chống giặc với các tướng sĩ, Ngô Quyền nói: “Hoằng Tháo là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi; quân ta sức còn mạnh địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của họ nhân lên nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả”.Sau khi phân tích đánh giá kỹ những điểm mạnh, yếu của ta và địch, Ngô Quyền quyết tổ chức một trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt đạo binh thuyền giặc ngay tại vùng cửa sông Bạch Đằng, nơi chúng ta phải đi qua để tiến vào nội địa nước ta.

Hai là, chủ động nắm tình hình địa hình, thời tiết khí hậu, thủy văn, thiết lập thế trận đánh địch hiểm, chắc. Theo sử sách để lại, sông Bạch Đằng có tên gọi là sông Vân Cừ, cửa sông rộng hơn 2 dặm, ở đó có nhiều núi cao, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời; cây cối um tùm che lấp bờ sông, thực là một nơi hiểm yếu.Tuy nhiên vấn đề cốt lõi của thế trận này là việc bố trí và phát huy sức mạnh của các bãi cọc ngầm dưới lòng sông. Các bãi cọc này phải ở nơi hiểm yếu, được ngụy trang bằng con nước thủy triều lên và sẽ phát huy tác dụng khi địch rút chạy ra biển vào thời điểm thủy triều xuống. Để làm được điều đó,Ngô Quyền đã khéo chọn: những người giỏi địa lý trực tiếp theo dõi, tìm hiểu trong dân nắm chắc qui luật (thời điểm, mức độ, tốc độ) thủy triều lên xuống hằng ngày để chọn vị trí đóng cọc; huy động quân, dân vào rừng đẵn gỗ, vận chuyển ra vị trí tập kết; động viên nhân dân tích cực rèn mũi sắt,..Chính vì thế, chỉ trong thời gian ngắn, mặc dù, thời tiết những ngày cuối năm, mưa dầm, gió bấc, trời rét buốt da, buốt thịt, kéo dài, nhưng hàng nghìn cây gỗ lim, sến đầu vạt nhọn, bịt sắt đã được bí mật cắm xuống lòng sông (khu vực cửa Nam Triệu hiện nay). Một vấn đề quan trọng nữa quyết định thắng lợi của trận đánh là bố trí lực lượng chính diện và hai bên sườn đủ mạnh, phối hợp chặt chẽ với nhau để chặn đứng và tiến công mãnh liệt quân địch tại cửa sông Bạch Đằng. Đây là vấn đề có tính then chốt, bởi nếu để địch tràn qua điểm chặn đầu, tiến sâu vào nội địa thì thế trận do ta dày công xây dựng sẽ trở nên vô nghĩa. Nhận rõ điều này,Ngô Quyền đã chú trọng xây dựng thế trận chặn địch vững chắc phía đầu nguồn cùng một lực lượng tinh nhuệ do Ông trực tiếp chỉ huy; còn lại phần lớn quân thủy, quân bộ được bố trí mai phục ở hai bên bờ sông có nhiệm vụ đánh ập vào hai bên sườn, dìm địch xuống lòng sông, tạo điều kiện cho thủy quân tiêu diệt. Việc bố trí bãi cọc, triển khai thế bố trí lực lượng ở cửa sông Bạch Đằng tạo thành thế trận thủy chiến hiểm hóc, vững chắc - “ đất chết” của địch.

Ba là, tổ chức chỉ huy tài tình, khéo léo, linh hoạt, kịp thời theo “con nước”.Để trận quyết chiến chiến lược kết thúc bằng thắng lợi trong một lần thủy triều lên xuống là việc làm không hề đơn giản. Nếu tính toán của ta không chính xác, “lực không mạnh, thế không vững”, không buộc được địch phải rút chạy đúng thời điển (thủy triều xuống) thì trận đánh không những không thắng lợi mà có thể phải chịu thất bại nặng nề, đất nước sẽ lại chìm trong cảnh nô lệ của phong kiến phương Bắc. Trong trận quyết chiến chiến lược này, Ngô Quyền đã khéo phán đoán, xử lý và dẫn dắt tình huống, chuyển hóa thế trận một cách linh hoạt, có lợi nhất để từng bước phá vỡ đội hình hành quân đường dài của địch, không cho chúng triển khai đội hình chiến đấu, tiêu diệt từng bộ phận, tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch. Ở đây còn biểu hiện rõ nghệ thuật nghiên cứu, nắm chắc qui luật tự nhiên, theo dõi chặt chẽ “nhất cử, nhất động” của đạo binh thuyền địch; từ đó, tính toán nhử, dụ địch vào “ đất chết” để tạo và chớp thời cơ tiến công tiêu diệt chúng. Trong suốt trận đánh, Ngô Quyền luôn nắm giữ và giữ quyền chủ động trên chiến trường, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn tác chiến: vừa đánh, vừa lui, vận động tiến công kết hợp với cản phá bằng trận địa cọc, truy kích tiêu diệt địch tháo chạy. Với nghệ thuật phát triển cách đánh liên tục, sáng tạo theo tiến độ trận đánh nên quân địch đang từ thế chủ động đã lâm vào bị động đối phó, bất ngờ…đẩy chúng đến chỗ tuyệt vọng, sụp đổ và bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngoài ra, Ngô quyền còn chủ động khơi dậy tinh thần độc lập dân tộc, cố kết cộng đồng, động viên mọi tiềm lực trong dân, nhất là sức người, sức của cho trận đánh. Khi nghe tin ông dấy binh đánh giặc, nhân dân khắp nơi nô nức mang lương thực, thực phẩm, vũ khí, thuyền chiến tham gia và ủng hộ cuộc kháng chiến. Các thanh niên, trai tráng ở Gia Viên (nơi Ngô Quyền đặt đại bản doanh), Lâm Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hưng Yên)…người mang vũ khí, kẻ mang thuyền bè, tìm đến cửa quân xin diệt giặc. Ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ họ Phạm ở Đằng Giang ( An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái tham gia kháng chiến,…làm cho đội quân của Ngô Quyền, từ một đội hình Ái Châu đã nhanh chóng trở thành đội quân dân tộc.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc. Nó đã để lại cho thế hệ sau bài học quý về nghệ thuật đánh bại quân địch ngay từ trận đầu, tuyến đầu ở môi trường sông nước, kết thúc thắng lợi chiến tranh trong thời gian cực ngắn. Bài học đó đã được vận dụng trong lịch sử chống ngoại xâm của cha ông ta và đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nhất là đối với chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.

(Nguồn: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938- nghệ thuật đánh bại quân xâm lược ngay từ trận đầu, trên tuyến đầu/ PGS,TS.Nguyễn Minh Đức// Tạp chí quốc phòng toàn dân; Số 11/ 2013. - Tr. 100 - 102)

Chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 đã diễn ra như thế nào?

alt

(Sơ đồ minh họa chiến dịch Bạch Đằng năm 1288)

QĐND - Ngay từ cuối năm 1284, ở cuộc xâm lược lần thứ hai, đặc biệt là từ giữa năm 1287, chuẩn bị và tiến hành lần xâm lược thứ ba, hoàng đế Hốt Tất Liệt và triều đình nhà Nguyên hết sức chú trọng việc xây dựng và triển khai thêm một lực lượng thủy quân hùng hậu để sát cánh cùng các đạo quân kỵ bộ-vốn là sức mạnh chủ lực của quân đội và quân sự nước Nguyên tiến đánh nước Việt.

Tuy nhiên, đến đầu tháng 3-1288, sau hơn hai tháng quần thảo, tung hoành, làm cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba, cục diện chiến trường đã lại dồn thế bất lợi về phía quân Nguyên, khiến chúng phải thu tất cả lực lượng thủy, bộ về co cụm ở vùng Vạn Kiếp và tính đến đưa quân về nước.

Số phận của đạo quân thủy khổng lồ gồm hơn 400 chiến thuyền được đem ra cân nhắc trong cuộc chuẩn bị rút lui này. Hai chủ trương: Phá hủy tại chỗ hoặc bảo toàn đưa về, đã được bộ chỉ huy giặc bàn bạc ráo riết trước khi quyết định lựa chọn “phương án 2”-vừa bảo toàn đoàn chiến thuyền đã mất rất nhiều công của để chế tạo, dành cho các cuộc xâm lược sau, vừa giao thêm nhiệm vụ chuyên chở các “chiến lợi phẩm” lần này cướp bóc được-theo đường sông, ra biển, về nước.

Thế là thành hình một mục tiêu chiến lược của Bộ chỉ huy chiến tranh nhà Trần: Tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy của giặc trên đường rút chạy này. Và một chiến dịch đã được quân dân nhà Trần gấp rút chuẩn bị, rồi triển khai, tiến hành để thực hiện mục tiêu ấy.

Từ ngày 30-3-1288-khi đạo quân thủy của giặc bắt đầu rời Vạn Kiếp, lên đường, cho đến ngày 9-4-1288-lúc chúng bị xóa sổ toàn bộ quãng trước cửa dòng sông Chanh thông với sông Bạch Đằng, đã được tính là thời gian 10 ngày đêm của chiến dịch.

Và con đường nước từ Vạn Kiếp, theo sông Kinh Thầy, sông Đá Bạc, vào sông Bạch Đằng, tới cửa sông Chanh dài khoảng hơn 30 cây số, là chiều sâu (không gian) của chiến dịch.

Bây giờ, sau 730 năm, có thể nhìn lại, nói mới về ba bước diễn biến của một chiến dịch phục kích và đại tập kích đường sông, từ đây được gọi bằng tên “Chiến dịch Bạch Đằng năm 1288” này.

Bước thứ nhất của chiến dịch:

Đoàn chiến thuyền hơn 400 chiếc (sách “An Nam chí lược” nói gọn một lần là 500 chiếc) của quân Nguyên, đóng từ hai trung tâm sản xuất chiến thuyền Phúc Kiến và Quảng Đông-từng được sách “Vũ bị chế thắng chí” của Trung Hoa so sánh là: “Lấy thuyền Phúc Kiến (to lớn) mà đánh thuyền Nhật Bản (nhỏ bé) thì như lấy xe mà nghiền bọ ngựa”, và: “Lấy thuyền Phúc Kiến (bằng gỗ thông) mà đối địch với thuyền Quảng Đông (bằng gỗ lim) thì như lấy đá mà ném vào núi”-đã rất được Bộ chỉ huy quân Nguyên chú trọng việc bảo vệ. Trấn Nam vương Thoát Hoan, Tổng chỉ huy cuộc xâm lược nước Việt, khi quyết định chia hai đường thủy, bộ cho đại quân nhà Nguyên rút lui, thì chính viên chủ tướng của đạo quân rồi sẽ rút theo đường bộ này đã ra lệnh cho cánh quân thủy lên đường trước, còn cánh quân kỵ bộ vẫn nán lại ở Vạn Kiếp, rút sau, để sẵn sàng hỗ trợ từ xa cho quân thủy một khi gặp nguy hiểm. Trực tiếp hỗ trợ thì cử ngay một đội quân kỵ bộ mạnh, do các tướng Trình Bằng Phi và A Truật chỉ huy, hành quân trên con đường bộ-nay là Đường 18-từ Vạn Kiếp ra biển, đi song song với cánh quân thủy mà hộ tống, bảo vệ, cho đến khi đã cùng tới cửa biển, quân thủy đã an toàn ra biển thì mới quay trở về Vạn Kiếp, cùng toàn cánh quân kỵ bộ rút theo đường lên Lạng Sơn, về nước.

Một bộ phận quân dân nhà Trần do chính Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông chỉ huy-đóng chỉ huy sở ở khu vực núi Kính Chủ (Kinh Môn, Hải Dương) bên bờ phải sông Kinh Thầy, cách Đông Triều (Quảng Ninh) ở bên kia sông khoảng 5km-là lực lượng mở màn chiến dịch.

Những trận đánh mở màn này có 3 mục đích: Tiêu hao lực lượng địch, cầm chân chúng để có thêm thời gian bố trí chiến trường ở Bạch Đằng và nhất là phá thế ỷ giốc-nương tựa lẫn nhau, giữa cánh quân thủy và đội quân kỵ bộ hộ tống.

Cả ba mục đích này-bằng những trận phục kích-đánh tỉa liên tục, đặc biệt là trận phá sập cầu đường ở Đông Triều-đều đã đạt được.

Từ Vạn Kiếp tới Ngã ba Đụn-nơi sông Kinh Thầy gặp dòng sông Giá, trước khi tiếp nước cho sông Đá Bạc mà đổ vào sông Bạch Đằng-thông thường đi thuyền chỉ mất không đến một ngày. Vậy mà đoàn chiến thuyền của giặc xuất phát từ ngày 30-3 nhưng mãi đến ngày 7-4 mới tới được, tức là, chúng đã phải mất hơn một tuần lễ, vừa nặng nhọc hành quân, vừa mệt nhọc chống trả với các trận phục kích của quân dân nhà Trần.

Còn đội quân kỵ bộ hộ tống đi song song với cánh quân thủy này trên Đường 18 với cự ly khoảng 2-3km thì cùng xuất phát, nhưng sau 5 ngày hành quân trên cung đường chỉ khoảng 30km, đến ngày 4-4 mới tới được Đông Triều, thì vừa bị quân dân nhà Trần chặn đánh, vừa không còn đường và cầu sang sông. Các tướng Trình Bằng Phủ và A Truật đành phải cho quân quay trở về Vạn Kiếp, để mặc cánh quân thủy tự lo liệu và lo lắng cho số phận của mình trong những ngày sắp đến.

Bước thứ hai của chiến dịch:

Từ Vạn Kiếp (Lục Đầu Giang) ra biển có khá nhiều thủy đạo để giặc lựa chọn. Cho nên, phán đoán được đúng tuyến đường mà giặc dùng để đưa toàn bộ cánh quân thủy về nước-tức là: Từ Lục Đầu Giang, theo sông Kinh Thầy, qua sông Đá Bạc, tới sông Bạch Đằng, ra biển-đã là điều rất tài tình của Bộ chỉ huy Chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Nhưng khi đoàn chiến thuyền hơn 400 chiếc của giặc đến Ngã ba Đụn vào ngày 7-4, thì một tình huống bất ngờ và nguy hiểm đã xảy ra.

Ấy là, từ Ngã ba Đụn tới Bạch Đằng không chỉ có đường sông Đá Bạc, mà còn có cả dòng sông Giá! Mà ở cuối sông Giá, chỗ gần cửa sông thông ra sông Bạch Đằng, thì không những đã sẵn có từ lâu: Căn cứ Trúc Động trọng yếu của quân thủy nhà Trần, mà từ cuối tháng 3-1288 đã được sử dụng làm chỉ huy sở của Bộ chỉ huy chiến dịch và soái tướng Trần Hưng Đạo, đồng thời đây cũng là trận địa mai phục của một lực lượng lớn-cả thủy lẫn bộ-của đồng thời cả chiến dịch lẫn chiến trường Bạch Đằng. Cho nên, nếu giặc (hoặc một bộ phận đạo quân thủy của giặc) đi vào đường sông Giá, thì không những chúng có thể đánh vào sau lưng chỉ huy sở, mà còn phát hiện ra một phần lớn lực lượng và thế trận mai phục-phục kích của quân dân nhà Trần, đang chuẩn bị vào trận quyết chiến chiến lược ở bước cuối và kết thúc chiến dịch.

Trên thực tế thì vào ngày 8-4-1288, đội chiến thuyền tiên phong của đoàn thủy sư giặc, do tướng Lưu Khuê chỉ huy, khi đi đến được Ngã ba Đụn, đã chọn đường sông Giá tiến vào.

Chính vì thế mà phải có bước phát triển thứ hai, tiếp ngay sau bước thứ nhất của Chiến dịch Bạch Đằng, với mục đích là xua đuổi giặc ra khỏi thủy đạo sông Giá. Một trận đánh lớn đã diễn ra trước căn cứ Trúc Động. Sau khi đã buộc được đội chiến thuyền tiên phong của tướng giặc Lưu Khuê phải từ đầu nguồn sông Giá lộn trở về Ngã ba Đụn, thì lực lượng quân dân nhà Trần mai phục ở sông Giá còn có cả một loạt động tác nghi binh để hù dọa, cảnh báo, không cho giặc một cơ hội nào “tơ tưởng” đến chuyện sử dụng dòng sông Giá nữa.

Như truyền thuyết ở vùng sông nước này kể lại, quân dân nhà Trần đã cho thả rất nhiều mo cau-vẫn thường dùng để gói cơm cho quân sĩ ăn-đầy tràn khắp mặt nước dẫn vào sông Giá. Đây là tín hiệu cố tình để lộ cho giặc thấy về một lực lượng lớn của quân đội nhà Trần đã có mặt ở đây, khiến giặc từ chỗ hoang mang, nghi ngờ đã thực sự sợ hãi, bỏ qua hẳn lối ngả tới Bạch Đằng bằng đường sông Giá. Do đó, theo đúng sự “dẫn dắt” của phía quân Trần, toàn bộ đạo thủy sư của giặc vào đường sông Đá Bạc, để rồi sẽ rơi vào cuộc “sập bẫy” ở Bạch Đằng.

Bước phát triển thứ ba của Chiến dịch Bạch Đằng diễn ra đúng theo “kịch bản” đã được “soạn thảo” vào ngày 9-4-1288!

- “Trận địa cọc Bạch Đằng” gồm hàng nghìn thân cây, chủ yếu là lim đẽo nhọn đầu, đã được đóng ngầm và đầy cả hạ lưu sông Bạch Đằng cùng cửa vào sông Chanh, từ tuần lễ cuối của tháng 3, thêm được gần 10 ngày đầu tháng 4 cầm chân giặc ở giai đoạn thứ nhất của chiến dịch, để hoàn thiện việc bố trí, giờ thì đã sẵn sàng việc chờ đến giờ thủy triều xuống thì đội nước, nhô lên, vừa đâm thủng thuyền giặc, vừa chủ yếu là làm nhiệm vụ gây ra sự ùn tắc, rối loạn đội hình hành quân và chiến đấu của giặc, đặc biệt là bịt kín lối ngả chạy thoát ra biển theo đường sông Chanh;

- Bịt kín lối ngả chạy thoát ra biển theo cửa sông Bạch Đằng, thì đã dàn xong đội hình đạo quân tuyển mộ từ hai lộ Hồng và Khoái (miền Hải Dương, Hưng Yên ngày nay) của tướng quân Nguyễn Khoái, kết hợp sức cản đường của rặng đá ngầm tên là “Ghềnh Cốc”-từ mé nước bên bờ phải, giăng ra đến giữa dòng (ở chỗ bến phà (đò) Rừng ngày nay);

- Trực tiếp tham chiến, xung trận, thì cũng đã bố trí xong, những đội quân thủy, cả những đạo bộ binh và những đội dân binh nữa, mai phục đầy trong các nhánh sông miên man dọc đôi bờ Bạch Đằng và những cánh rừng phủ đầy hai bên tả ngạn và hữu ngạn của dòng sông, do chính soái tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy cùng với các bộ tướng của ngài;

- Những chiếc bè cỏ tẩm dầu được giấu kỹ trong các nhánh sông và rừng cây trên thượng nguồn cũng đã sẵn sàng, để rồi sẽ được thả trôi xuôi, táp vào đoàn chiến thuyền giặc đã bị chẹn chặn, dồn ứ ở hạ lưu mà “hỏa công”, vừa đốt phá, vừa khiến thêm rối loạn toàn bộ cánh quân thủy của giặc;

- Một đoàn khinh chu (thuyền nhẹ) cũng đã sẵn sàng để “khiêu chiến”, dụ giặc lao nhanh hơn theo lưu tốc 0,86m/giây và mức nước rút trung bình 30cm/giờ-như những tính toán gần đây đã cho biết-để mà “sập bẫy” ở trận địa Bạch Đằng;

- Sau cùng, lực lượng cấm quân của vua Trần, vừa hoàn thành nhiệm vụ ở bước đầu của chiến dịch cũng chờ đến lúc này, kéo tới, đánh vào mé sau của đoàn chiến thuyền giặc, đồng thời chẹn đường không cho chúng chạy lộn về Vạn Kiếp.

Vậy là, như thế, từ sáng sớm đến chiều tối 9-4-1288, trận ác chiến Bạch Đằng đã diễn ra, với kết quả kinh hoàng về phía giặc: Toàn bộ cánh quân thủy nhà Nguyên đều bị tiêu diệt, không một chiếc thuyền nào chạy thoát được về nước; 5 vạn quân thủy, trong đó tất cả tướng lĩnh đầu sỏ: Ô Mã Nhi, Phàm Tiếp, Trương Ngọc…, cả viên thân vương mang tước đại vương là Tích Lệ Cơ nữa, đều bị giết hoặc bị bắt.

(Nguồn: Chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 đã diễn ra như thế nào?/Gs. Lê Văn Lan//Tạp chí Sự kiện và nhân chứng. – số 294 (tháng 6/2018)

Trận Bạch Đằng thứ hai đã diễn ra như thế nào?

QĐND - Trận Bạch Đằng lần thứ nhất (năm 938) và trận Bạch Đằng lần thứ ba (năm 1288) đã được nghiên cứu và giới thiệu nhiều. Nhưng còn trận Bạch Đằng lần thứ hai (năm 981) thì chưa được như thế.

alt

1. Tháng 11-979, tại Kinh đô Hoa Lư nước Đại Cồ Việt, Đinh Tiên Hoàng đế và Thái tử kế vị Đinh Liễn, trong một đêm uống rượu ngủ say ở ngoài sân cung đình, đã bị kẻ bề tôi là Đỗ Thích sát hại. Sự kiện “Đỗ Thích thí Đinh Đinh” này đã dẫn ngay đến những rối loạn triều chính nghiêm trọng. Và triều đình nhà Tống ở phương Bắc-luôn ôm mộng thôn tính nước Việt ở phương Nam-đã không bỏ qua cơ hội này.

Nghe lời tâu bày của Thái thường bác sĩ Hầu Nhân Bảo, đương chức Tri (quản lý) Ung Châu (nay là Nam Ninh, Quảng Tây): “An Nam quận vương (Đinh Bộ Lĩnh) cùng với con trai là (Đinh) Liễn bị giết, nước ấy sắp mất, có thể nhân lúc này đem một cánh quân sang đánh lấy. Nếu bỏ qua lúc này mà không mưu tính, sợ lỡ cơ hội”, và theo mưu kế gọi là: “Tiếng sét đánh mau, che tai không kịp” của Tể tướng Lư Đa Tốn, Hoàng đế Tống Thái Tông đã quyết định ngay việc đưa quân sang xâm lược nước Việt.

Vào tháng 7 năm Canh Thìn (980), Bộ chỉ huy quân Tống xâm lược được thành lập, gồm Hầu Nhân Bảo-Tổng chỉ huy, Tôn Toàn Hưng-Phó tổng chỉ huy, cùng một loạt tướng lĩnh: Trần Khâm Tộ, Hắc Thủ Tuấn, Thôi Lượng, Lưu Trừng, Vương Soạn, Giả Thực… và được lệnh đem các cánh quân thủy bộ lên đường Nam chinh ngay.

Tin dữ đã được cấp báo về Hoa Lư, từ Lạng Sơn, vào lúc triều đình nhà Đinh mới tạm đưa được người con nhỏ 6 tuổi của Đinh Tiên Hoàng đế là Đinh Toàn lên ngồi ngai kế vị, mẹ đẻ của Đinh Toàn là Dương Thái hậu “buông rèm thính chính” và Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm Phó vương nhiếp chính.

Đối sách của những người đứng đầu triều đình Hoa Lư này, trước nạn ngoại xâm, trước hết-phù hợp với lòng dân và quân sĩ-là kháng chiến và chọn Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” liền đó chép tiếp:

“Khi (triều đình) đang bàn kế hoạch xuất quân thì Cự Lạng cùng các tướng quân khác-đều mặc áo trận-đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. (Nhưng) bây giờ thì chúa thượng còn trẻ thơ, (mà) chúng ta dẫu hết sức liều chết để đánh giặc, may được chút công lao thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn ông Thập đạo (Tướng quân Lê Hoàn) làm Thiên tử, sau đó hãy xuất quân thì hơn”. Quân sĩ nghe vậy đều hô: “Vạn tuế”. (Dương) Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời đăng quang ngôi Hoàng đế”.

Bấy giờ là tháng 8 năm Canh Thìn (980). Vừa đúng lúc Hoàng đế nhà Tống tuyên chiếu chỉ chính thức phát động và ra lệnh cho các cánh quân xâm lược Đại Cồ Việt xuất phát!

2. Về cuộc kháng chiến chống Tống và trận Bạch Đằng lần thứ hai, sử liệu gốc không những ít mà còn mâu thuẫn và mơ hồ.

Sử sách chính thống, cổ truyền của ta đều nói: Chiến sự bắt đầu vào tháng 3 năm Tân Tỵ (981), khi các cánh quân Tống của “Hầu Nhân Bảo đến Lãng Sơn, Trần

  Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng”. Đây là câu viết trong “Đại Việt sử lược”-bộ sử cổ nhất, từ đầu thế kỷ 14, còn sót lại được đến nay. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ở nửa sau thế kỷ 15 chép lại nguyên văn như thế nhưng thay chữ “Lãng” bằng chữ “Lạng”. Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (cuối thế kỷ 19) cũng chép theo đúng sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, chỉ thêm tên Tôn Toàn Hưng vào cạnh tên Hầu Nhân Bảo.

Không kể sai lầm của một bản dịch cũ, sách “Đại Việt sử lược” đã viết địa danh Lãng Sơn thành Ngân Sơn, khiến có người đã tưởng tượng thêm ra một đường tiến binh nữa của quân Tống là theo hướng Cao Bằng-Bắc Kạn ngày nay (qua Ngân Sơn) để tràn xuống trung châu nước Việt, mà ngay cái cách đổi chữ “Lãng” thành chữ “Lạng” của các sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” cũng đã khiến thêm rối loạn sự nhận thức về các địa điểm đóng quân của giặc và chiến trường đánh giặc, khi lại khiến nhiều người tưởng tượng ra sự thể: Quân Tống cũng có thể đã theo đường biên giới Lạng Sơn (qua Chi Lăng) mà thâm nhập vào trung tâm nước Việt!

Sự thực lịch sử là: Để vào nước Việt, quân Tống chỉ dùng một đường ven biển đông bắc đất nước ta, cả thủy lẫn bộ, giống như các lần Nam chinh trước đấy, từ cuộc hành quân của Mã Viện đi trấn dẹp Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở buổi đầu Công nguyên, cho đến lúc bấy giờ là thế kỷ 10. Chỉ khác một điều là bấy giờ đã xuất hiện tòa Kinh đô Hoa Lư của nước Đại Cồ Việt từ năm 968, cho nên đích đến của quân Tống cũng là nhằm vào đấy! Vì thế, các cánh quân thủy bộ của chúng mới tới Lãng Sơn (Quảng Ninh ngày nay), Bạch Đằng (giữa Quảng Ninh và Hải Phòng ngày nay) và Tây Kết (Hưng Yên bây giờ) vào thời gian tháng 3 năm Tân Tỵ (981) như các bộ sử chính thống cổ truyền của ta đã chép.

Nhưng căn cứ thêm vào sử liệu gốc Trung Quốc thì thấy rằng: Từ thời gian trước tháng 3 năm Tân Tỵ (981), chiến tranh đã xảy ra rồi, trong khi sử cũ nước Việt-chắc là vì không nắm kỹ và chi tiết được những diễn biến chiến sự về phía giặc xâm lược Tống, nên đã “bỏ qua”!

Mặt khác, sử liệu trong dân gian và những tư liệu trên thực địa nước ta cũng lại cho thấy có nhiều điều khớp với những ghi chép chi tiết, những tản mạn trong sử sách Trung Quốc.

Ấy là từ cuối tháng Chạp năm Canh Thìn (đầu năm 981) đã có những cuộc giao tranh giữa cánh quân Tống do chủ tướng Hầu Nhân Bảo chỉ huy và quân dân nhà Tiền Lê do Hoàng soái Lê Hoàn-đóng hành dinh ở vùng Thủy Nguyên (Hải Phòng ngày nay) và Chí Linh (Hải Dương bây giờ) chỉ huy trên dọc tuyến trận từ cửa sông Bạch Đằng đến vùng Lục Đầu giang!

Có một thực tế lịch sử là: Giặc đã vào sâu được nội địa nước ta và đã mưu toan từ nhiều hướng, tiến về Hoa Lư. Nhưng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân dân ta và đặc biệt là thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa cánh quân của Hầu Nhân Bảo và cánh quân của Tôn Toàn Hưng, cho nên cuối cùng, chủ lực của giặc đều phải lui về, hoặc đến tập kết ở vùng gọi là “Hoa Bộ” để chỉnh đốn lực lượng.

Đến đây thì nổi lên vấn đề địa danh “Hoa Bộ”. Cũng giống như việc xác định đúng được vị trí của Lãng Sơn là xác định đúng được đường tiến binh của quân Tống, việc xác định đúng được vị trí của “Hoa Bộ” là xác định đúng được vùng tập kết chủ lực của giặc, dẫn đến diễn biến đích thực của trận Bạch Đằng lần thứ hai.

Trên thực địa nước ta, cho đến bây giờ vẫn không thấy có địa danh “Hoa Bộ” ở chỗ nào. “Hoa Bộ” chỉ nằm chủ yếu trong sử sách Trung Quốc. Vì thế, đây là tiếng Hán (Bắc Kinh) để phiên âm một địa danh tiếng Nôm, thuần Việt. Do đấy, có thể chuyển ngữ “Hoa Bộ”-là địa danh tiếng Hán Việt-sang cách phát âm tiếng Trung (Bắc Kinh) của địa danh này. Từ đấy sẽ gặp được sự “na ná” (đồng âm) của một địa danh tiếng Nôm, thuần Việt, ngày nay vẫn tồn tại trên thực địa, chỉ vùng đất và quả núi “U Bò” ở trên bờ và đoạn giữa của dòng sông Bạch Đằng, thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Trận Bạch Đằng thứ hai đã diễn ra từ đây và ở đấy.

Có ba sử liệu gốc Trung Quốc chép khá thống nhất về sự kiện này.

Một là sách “Tống sử”: “Khi Lưu Trừng đưa quân đến thì Toàn Hưng cùng Lưu Trừng theo đường thủy tới thôn Đa La, nhưng nói không gặp giặc (tức quân ta) lại trở về Hoa Bộ. Đến đây, Lê Hoàn giả vờ xin hàng để đánh lừa Nhân Bảo. Nhân Bảo bèn bị giết chết”.

Hai là sách “Tục tư trị thông giám”: “Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 6, tháng 3, ngày Kỷ Mùi (28-4-981). Giao Châu hành doanh của quân Tống phá được 15.000 quân của Lê Hoàn ở sông Bạch Đằng, chém được hơn 1.000 thủ cấp, lấy được 200 chiến hạm, thu được hàng vạn mũi tên, áo giáp. Cũng trận này, giặc (tức quân ta) giả vờ hàng để dụ Nhân Bảo. Nhân Bảo cả tin liền bị giặc giết hại”.

Ba là sách “An Nam chí nguyện”: “Thế lực của giặc (tức quân ta) rất mạnh. Quân hậu viện (của Tống binh) chưa kịp đến thì Nhân Bảo đã sa hãm trong vòng trận, bị loạn quân giết chết, ném xác xuống sông”.

3. Trận Bạch Đằng thứ hai diễn ra vào ngày 28-4-981 vậy là nằm trong cục diện chiến tranh dằng dai giữa quân dân nhà Tiền Lê và giặc xâm lược nhà Tống, trong vòng 3 tháng đầu năm 981, trước đấy.

Khác với trận Bạch Đằng lần thứ nhất, khi soái tướng Ngô Quyền đã bày trận địa cọc, kết hợp với thủy triều lên xuống, chủ động đón đánh vỗ mặt quân xâm lược Nam Hán từ ngoài biển tiến vào vùng cửa sông Bạch Đằng và cũng khác với trận Bạch Đằng lần thứ ba, khi Thánh tướng Trần Hưng Đạo cũng dùng trận địa cọc, kết hợp với thủy triều lên xuống, nhưng là để chẹn đường giặc xâm lược Mông Nguyên từ nội địa rút chạy ra biển, phục kích mà tiêu diệt chúng ở quãng trước ngã ba sông Chanh gặp sông Bạch Đằng; trận Bạch Đằng lần thứ hai là kết quả của mưu kế “đập nát đầu rắn”. Khi Hoàng soái Lê Hoàn chọn nhằm vào chủ tướng quân Tống xâm lược là Hầu Nhân Bảo mà bày một trận đánh lớn ở khúc giữa sông Bạch Đằng, tuy phải tổn thất nặng nề nhưng là để trọn vẹn kế trá hàng mà giết chết được kẻ cầm đầu của giặc.

Sau trận Bạch Đằng lần thứ hai này, toàn bộ cuộc xâm lược và quan quân xâm lược nhà Tống lâm vào cảnh “rắn mất đầu”, vỡ trận, trong khi Hoàng soái Lê Hoàn thừa thắng mở tiếp ngay những trận đánh tiêu diệt ở khắp nơi, kể cả trận tiêu diệt cánh quân giặc đã vào sâu được đến trung tâm Đồng bằng châu thổ sông Hồng (ở Tây Kết, Hưng Yên)!

Tổng hiệu quả của trận Bạch Đằng lần thứ hai “đập nát đầu rắn” này thật là lớn, vì đã dẫn thẳng tới sự thảm bại của toàn cuộc nhà Tống xâm lược, từ cuối năm

Canh Thìn (980) đến đầu năm Tân Tỵ (981), với sự kết thúc số phận những kẻ cầm quân Nam chinh, được chính sử sách phía Trung Quốc ghi lại thật bi đát, làm hình ảnh tiêu biểu: Chủ tướng Hầu Nhân Bảo chết trận, tướng thủy quân Lưu Trừng ốm chết, phó tướng Tôn Toàn Hưng bị vua Tống hạ lệnh chém đầu đem bêu ở chợ, tướng Vương Soạn bị xử tội chết (giết ở Ung Châu). Các tướng: Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân… bị bắt sống, điệu về giam ở Hoa Lư…

GS. Lê Văn Lan

(Nguồn: Trận Bạch Đằng thứ hai đã diễn ra như thế nào?/Nhà sử học Lê Văn Lan//Tạp chí Sự kiện và Nhân chứng. – số 294 (tháng 6/2018). – Tr. 28-29)

 

Video Tổng Hợp

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay162
mod_vvisit_counterHôm qua280
mod_vvisit_counterTất cả78254