Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 4

alt

Trần Phương

8. Làng Câu Tử (xã Hợp Thành):

Xã cũ, nay là 2 thôn Câu Tử Nội, Câu Tử Ngoại thuộc xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Câu Tử, tổng Thái Lai, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Vốn là trang Hùng Khê thời Trần. Trước năm 1813, là xã Câu Tử, tổng Thái Lai, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

Theo bản khai trước năm 1945 của hương lý làng Câu Tử và một số tài liệu khác: Câu Tử là quê Hoàng Công, không rõ tiểu sử, đỗ Thái học sinh thời Trần, có làm quan, dân thường gọi là Hoàng Tướng Công. Con gái Hoàng Công là Hoàng Thị Bính được triều đình truy phong Quận Đa phu nhân và dân làng lập đền thờ (đền Hùng Khê), vì có hai con trai là Hoàng Hộ, Hoàng Thống tham gia đánh trận Bạch Đằng năm 1288, đã anh dũng hy sinh.

Làng Câu Tử xưa có nghề mộc nổi tiếng.

Theo các tác giả Mạc Đức Khang, Mạc Văn Viên, dải đất làng Câu Tử xưa kia là đầm lầy, bãi sú, lau sậy, cây cối mọc um tùm, có nhiều gò đống. Sau đó dân hai làng Ngọc Khê và Việt Khê chuyển cư đến khai hoang lập trại sản xuất, lấy tên là Hùng Khê trang. Quận Đa phu nhân Hoàng Thị Bính được thờ tại đình và miếu của hai thôn Câu Tử Nội và Câu Tử Ngoại. Người con đầu của Quận Đa phu nhân là Hoàng Minh Hộ được phong là Thủy Hộ đại vương, thờ ở đình thôn Câu Tử Ngoại (đình và tượng bị giặc Pháp đốt phá trong kháng chiến). Người con thứ hai của Quân Đa phu nhân là Hoàng Minh Thống, được phong là Đô Thống đại vương, thờ ở đình Câu Tử Nội. Ngày tế lễ hằng năm: 18-8 (giỗ Quận Đa phu nhân); 4-10 (giỗ hai tướng Hoàng Hộ và Hoàng Thống); 8-3 (mở hội làng); 6 tháng giêng: dân hai thôn tổ chức rước thần tượng Quận Đa phu nhân và hai con của bà qua chùa chầu Phật và tổ chức hội vật (còn gọi là lễ giao điệt)[1].

Gia phả họ Mạc ở Câu Tử chép về một phu nhân của Ninh Vương Mạc Phúc Tư (thụy là Phúc Triệu, con thứ hai Hoàng đế Đăng Doanh và Hoàng hậu Đậu Thị Giang) là Đoàn Thị Từ Linh, người phường Hùng Khê. Phu nhân Đoàn Thị Từ Linh sinh được 3 con trai: Mạc Thuần Trực, Mạc Đạo Trai và Mạc Tảo An.

9. Làng Chung Mỹ (xã Trung Hà):

Nay là thôn thuộc xã Trung Hà, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Chung Mỹ, tổng Kinh (Kênh) Triều, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước năm 1813, là xã Chung Mỹ, tổng Kênh Triều, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Trong danh sách làng xã năm 1927 và hồ sơ thần tích năm 1938 ghi Chung Mỹ, có tư liệu địa phương ghi Trung Mỹ.

Đình Chung Mỹ (di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng cấp quốc gia), thờ thành hoàng tên hiệu Thiên Hộ, húy Trần Hưng Trí, không rõ ngày sinh, hóa; có công giúp nhà Trần đánh giặc Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng thế kỷ XIII, cũng có công chiêu dân lập ấp. Vị thần này được thờ bằng tượng gỗ sơn son thiếp vàng. Trước năm 1938, làng Chung Mỹ còn giữ được 8 sắc phong thuộc các đời: Cảnh Hưng 1 (1792), Thiệu Trị 6 (1845, 2 đạo), Tự Đức 3 (1850) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909) và Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 4 tháng Giêng, 15-8, 1-12; không tế xuân, thu, thượng, hạ điền; “những người dự (tế) phải dùng mỗi người một cái áo thụng xanh”; kiêng tên húy các chữ: “Hộ”, “Trí”.

Sách “Đồng Khánh dư địa chí lược” chép rằng: “Xã Chung Mỹ thờ thần là Hưng Trí Vương, con thứ 5 của Hưng Đạo Vương”, “theo Vương đánh giặc Nguyên ở Bạch Đằng, về đến xã ấy chiêu tập lưu dân, sau khi chết dân trong xã lập đền thờ”.

10. Làng Do Lễ (xã Tam Hưng):

Trước năm 1945, là xã Do Lễ, tổng Phục Lễ, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XV, có sách ghi Khúc Lễ (ngờ người sao viết lầm thêm một nét sổ), huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

Do Lễ là quê của nhà khoa bảng Lưu Công Ngạn (? - ?) đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) năm 1463.

Chùa, đình và miếu Do Lễ thờ 3 vị thành hoàng: 1- Thần Chính Dực Bảo Trung Hưng, thường gọi Linh, húy Phạm Tử Nghi; chỉ thờ bằng sắc phong còn giữ được trước năm 1938, thuộc các đời: Thành Thái 1 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 10-10; ngoài ra còn có lễ thượng điền, hạ điền, kỳ phúc (4-1). 2- Hưng Đạo Đại vương, tên húy Trần Quốc Tuấn; thường gọi Đức Thánh Trần; thờ bằng sắc phong ở chùa. Trước năm 1938, xã Do Lễ còn giữ được 2 sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 5 (1911), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 5-5., 20-8., 10-10., 5-12., 3- Đang Cảnh Thành hoàng Bản thổ Chúa đại vương, tên húy Vũ Nguyên, người làng Do Lễ, sinh ngày 15-4, hóa ngày 9-12; tương truyền theo Trần Hưng Đạo đánh giặc Ô Mã Nhi thế kỷ XIII; thờ bằng tượng ở đình, không có mũ, áo, kiếm, hốt. Trước năm 1938, còn giữ được 7 đạo sắc phong, thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853), 11 (1857) và 33 (1880); Đồng Khánh 2 (1887); Duy Tân 3 (1909); Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 4-1., 15-4.,  5-5.; 5-12., 9-12., Trong tế lễ, “người phải lỗi trong 3 lần thì tiên thứ chỉ bắt phạt một chai rượu và một phòng (buồng) cau để biếu thần và lỗi (xin lỗi) dân”.

(Còn tiếp)

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 3

alt

Trần Phương

4. Làng Bảng Trình (xã Kỳ Sơn):

Trước năm 1945, là xã Bảng Trình (cong gọi là Bằng Trình), tổng Thượng Côi, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước năm 1813. Có thời kỳ bị phiêu tán, chỉ còn dòng họ Đỗ với gần 20 khẩu. Thời thuộc Pháp, làng Bảng Trình (được ghi Bằng Trình) phụ thuộc làng Pháp Cổ, vì vậy có câu: “Bao giờ Cam Lộ có đình - Thượng Côi có miếu, Bảng Trình có chuông” - Ý nói muốn trở lại một làng riêng, độc lập.

Đình Bảng Trình thờ thành hoàng tên hiệu Đại Đô Đức Bác (tên húy Chân), không rõ sự tích, được thờ bằng ngai. Trước năm 1938, xã Bảng Trình còn giữ được 2 sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 3 (1911), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 7-1; 6-3; 15-5 (lễ kỳ phúc); 21-8; 4-10 và 23-12; không tế các ngày xuân và thượng hạ điền; kiêng húy chữ “Chân”. Trong tế lễ “…các người dự lễ chỉ phải ăn chay, tắm gội sạch sẽ, không có việc gì phải cử đến giai, gái tân và ông lão có vợ chồng xong (song) toàn cả”.

5. Làng Bính Động (xã Hoa Động):

Trước thế kỷ XX, là xã Bính Động, tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Một số thư tịch cổ ghi Nội Động, nhưng huyện Thủy Đường xưa không có xã này, có lẽ do nhầm chữ “Nội” với chữ “Bính” vì mặt chữ hơi giống nhau. Xã Bính Động có muộn nhất trước thế kỷ XVI. Danh sách làng xã năm 1927 vẫn ghi xã Bính Động trong tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Nghị định ngày 18-11 – 1893 của thống sứ Bắc Kỳ tách các xã Lâm Động, Bính Động, Lỗi Dương và Tả Quan thuộc tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên để lập tổng mới Tú Lâm, sau bỏ.

Làng Bính Động là quê của các nhà khoa bảng: 1- Trần Tông (? - ?) đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1508, làm quan nhà Lê đến chức Phó đô Ngự sử nhập thị Kinh Diên. 2 – Trần Quang Tá (? - ?) (con Trần Tông), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1559, làm quan nhà Lê tới chức Tự khanh (có sách chép: làm quan Thị lang).

Thời Nguyễn đặt đồn phòng thủ ở Bính Động, gọi là đồn Ninh Hải 3 (Ninh Hải đệ tam đồn). Năm 1872, đoàn thám hiểm Pháp do Senez dẫn đầu và thương thuyền của J Dupuis đến Cửa Cấm, đồn này vẫn có quân lính đồn trú.

Đình và miếu Bính Động thờ anh em sinh đôi Hoàng Lôi, Hoàng Chiêu là bạn kết nghĩa của Phạm Tế, người địa phương. Cả ba vị đều có tài, giúp vua Lý Nam Đế dẹp tan giặc Ma Na, đều được ban chức Trung phẩm đại tướng quân. Sau 3 ông mất ở quê, được vua sai lập miếu thờ và phong thần hiệu: Đô nguyên quân Đông Hải đại vương, Chiêu linh ứng đại vương, Hiển ứng đức mậu đại vương. Làng Bính Động sau thờ vị thần thứ tư là Đào Trí, người làng, thời Lê có công trị thủy. Sau khi mất được dân lập đền thờ ở xứ đồng Lăng Hóa và được ban thần hiệu: Quốc Uy dương đông nhạc tá sứ nghĩa công đại vương. Sự tích được khắc vào bia đá hiện để tại chùa Bính Động. Viện Hán Nôm còn giữ được thần tích (Ký hiệu Aea. 12 - 35, Aea. 12 - 36).

6. Làng Cam Lộ (xã Lại Xuân):

Trước năm 1945, là xã Cam Lộ, tổng Thượng Côi, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Làng Cam Lộ mãi đến thế kỷ XIX mới thấy xuất hiện trong “Đồng Khánh dư địa chí”. Làng Cam Lộ thực ra là một làng bị phiêu tán, sau mới tái lập, vì dân số quá ít, đến mức không thể dựng được đình. Đến thời Pháp thuộc, Cam Lộ tự nguyện nhập vào làng Hạ Côi. Vì thế dân gian vùng này có câu: “Bao giờ Cam Lộ có đình - Thượng Côi có miếu, Bảng Trình có chuông” (ý muốn trở lại một làng riêng, độc lập).

7. Làng Cao Kênh (xã Hợp Thành):

Trước thế kỷ XX, là xã Cao Kênh, tổng Thái Lai, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XV. Trước 1813, là xã Cao Kênh, tổng Thái Lai, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương

Quê nhà khoa bảng Bùi Trạch Lân (1468 - ?), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1499;  làm quan nhà Lê tới chức Tham chính.

Đình và miếu Cao Kênh thờ 4 vị thành hoàng: 1- Thịnh Đức, tên húy là Khoan Hòa. 2- Già Lam, thường gọi là Đức Thánh Ông. 3- Đông Cung Nhu Hòa, tên húy Thuần Túy. 4- Quảng Thiện, tên húy Đoan Túc; thường gọi là Đức Thánh Cả. Cả bốn vị đều không rõ sự tích, được thờ bằng long ngai; trừ vị Già Lam được thờ ở miếu, còn lại thờ ở đình. Trước năm 1938, xã Cao Kênh còn giữ được 4 sắc phong đời Khải Định 9 (1924). Hằng năm, tổ chức tế lễ vào Tết Nguyên đán và các ngày: 5-5, 15-5, 15-8;  9 và 10 tháng 11; 30-12; kiêng húy các chữ: “Nam” (có lẽ “Lam”), “Đông Cung”, “Thịnh Đức”, “Khoan Hòa”. Trong tế lễ, ai phạm lỗi phải phạt vạ 10 quả cau và chai rượu, chánh hội có quyền bắt lỗi.

(Còn nữa)

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 2

alt

Trần Phương

2. Làng An Ninh Ngoại (xã An Sơn):

Trước năm 1945 là xã An Ninh Ngoại (thường gọi là An Ngoại), tổng Phù Lưu, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Vốn là xã An Ninh, sau tách thành An Ninh nội, An Ninh ngoại.

Đình An Ninh Ngoại thờ 3 vị thành hoàng: 1- Cao Sơn Viên Nha đại vương, tên húy Đại, sinh ngày 15-1, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, xã An Ninh Ngoại còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 5 sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (lễ kỳ phúc); 1-5; kiêng húy chữ “Đại”. 2- Côi Kỳ Dương Đình đại vương (chữ “Côi Kỳ” có sách chép là “Khôi Kỳ”), tên húy Hoằng, sinh ngày 19-2, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. 3 - Hồng Tế cư sĩ, tên húy Hồng, có công giúp thần Côi Kỳ đánh giặc. Trước năm 1938, xã An Ninh Ngoại còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 3 sắc phong thuộc các đời: Thành Thái I (1889), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (ngày sinh, cũng làm lễ kỳ phúc), 20-8; kiêng húy chữ “Hoằng”. Trước năm 1938, những người dự tế gồm “kỳ lão, hương lý tân cựu”. “Phần việc thì tùy theo mỗi khi ai không trở bụi gì thì dân cử chứ không nhất định gì”. Trước ngày lễ và trong ngày hành lễ, “những người được dự tế lễ phải tắm gội và ăn chay”.

3. Làng An Ninh Nội (xã An Sơn):

Trước năm 1945, là xã An Ninh Nội (thường gọi là An Nội), tổng Phù Lưu, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Thôn An Ninh Nội ngày nay gồm cả thôn Phù Lưu Ngoại cũ.

Đình An Ninh Nội thờ 2 vị thành hoàng: 1- Cao Sơn Viên Nha đại vương, tên húy Đại, sinh ngày 15-1, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, xã An Ninh Nội còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 5 sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (lễ kỳ phúc); 1-5; kiêng húy chữ “Đại”. 2- Côi Kỳ Dương Đình đại vương (chữ “Côi Kỳ” có sách chép là “Khôi Kỳ”), tên húy Hoằng, sinh ngày 19-2, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, xã An Ninh Nội còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 3 sắc phong thuộc các đời: Thành Thái I (1889), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (ngày sinh, cũng làm lễ kỳ phúc), 20-8; kiêng húy chữ “Hoằng”. Làng còn lập miếu thờ anh em Vũ Hồng và Vũ Thị Lê Hoa có công giúp Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân. Trước năm 1938, những người dự tế gồm “kỳ lão, hương lý tân cựu”. “Phần việc thì tùy theo mỗi khi ai không trở bụi gì thì dân cử chứ không nhất định gì”. Trước ngày lễ và trong ngày hành lễ, “những người được dự tế lễ phải tắm gội và ăn chay”.

Làng An Ninh Nội có chùa Long Tiên, xưa lợp bằng rạ nên dân chúng quen gọi là chùa Rạ.

(Còn tiếp)

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 1

alt

Trần Phương

Là một địa bàn chiến lược chịu rất tác động của nhiều biến cố lịch sử diễn ra trong suốt nhiều thế kỷ đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các làng xã huyện Thủy Nguyên. Tính biến động của làng xã thể hiện rõ ở sự tăng, giảm, tách ra hay mất đi của một số làng nào đó mà nguyên nhân chủ yếu là do các điều kiện lịch sử, xã hội, thậm chí do mâu thuẫn trong nội bộ các làng xã. Đến đời Đồng Khánh, tên xã Gia Đước vẫn được liệt kê trong danh sách làng xã thuộc tổng Dưỡng Động, nhưng không hiểu vì lý do gì, ngay sau đó dân làng đã phiêu bạt mà không thấy sách nào chép tới. Làng Hữu Quan được tách ra từ làng gốc Tả Quan, làng Giáp Động tách ra từ làng gốc Phương Lăng; làng Câu Tử vốn có nguồn gốc là trang Hùng Khê thời Trần, sau tách thành Câu Tử Nội và Câu Tử Ngoại,. Tương tự, làng Niêm Sơn (tên nôm là làng Nóm) tách thành Niêm Sơn Nội và Niêm Sơn Ngoại. Làng Phù Lưu tách thành Phù Lưu Nội và Phù Lưu Ngoại; làng An Ninh tách thành An Ninh Nội và An Ninh Ngoại…Sách “Tên làng xã Việt Nam” chép ở tổng Thủy Đường có xã Nam Triệu, song trên thực tế, đến đời Đồng Khánh, làng đã bị phiêu tán hết, chỉ còn lại một cái miếu giữa đồng gọi là miếu Nam Triệu. Trong trường tồn lịch sử, có nhiều tên thôn, tên làng xã bị phiêu tán, thay đổi do thiên tai, nhân họa, chiến tranh hoặc do nguyên nhân xã hội nào đó.

Xét về hình thức, làng là một điểm tụ cư, nhưng thực chất nó là một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp. Xét về cội nguồn, làng là sự phát triển mở rộng của một gia đình lớn, của gia tộc từ thuở khởi đầu. Hầu như làng nào ở Thủy Nguyên cũng đều có một đến vài dòng họ gốc, họ lớn nhất, rồi từ đó tiếp nhận thêm các dòng họ mới bằng nhiều quan hệ khác nhau. Cùng với quá trình tăng trưởng dân số, xáo trộn dân cư, quan hệ hôn nhân, các làng từ quan hệ thân tộc trở thành quan hệ láng giềng là chính. Mỗi làng ở Thủy Nguyên là một thiết chế tự quản thông qua việc tự quản bằng cơ cấu tổ chức, tự quản bằng các quan hệ xã hội và hương ước. Tự quản bằng cơ cấu tổ chức thể hiện ở chỗ mỗi làng là một phức hợp dựa theo 5 hình thức tập hợp: gia đình và dòng họ, xóm ngõ, giáp, bộ máy chính trị - xã hội làng xã, các phường hội. Mỗi làng có bản hương ước riêng, làm công cụ để quản lý đời sống cộng đồng. Hương ước vốn là những quy ước truyền miệng, nhiều khía cạnh đã dần trở thành phong tục của làng về mặt đời sống và dần được văn bản hóa. Mỗi làng có tục lệ riêng về cưới xin (thể hiện ở việc nộp cheo), về tang ma (thể hiện ở lệ táng), về ngôi thứ, khao vọng…, trở thành những nét riêng của làng, để phân biệt với làng bên cạnh. Làng xã Việt Nam như một thứ vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương ước) và tiểu triều đình (trong đó có hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp; nhiều làng tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ)”. Tín ngưỡng thờ thành hoàng là một trong những yếu tố tạo cho mỗi làng diện mạo văn hóa riêng. Nguồn gốc các vị thành hoàng ở Thủy Nguyên rất đa dạng: Thiên thần (thần ở trên trời xuống), nhiên thần (thổ thần, sơn thần, thủy thần), nhân thần (những người có công với nước, người khai lập làng (tiên công), người truyền nghề thủ công cho dân làng…). Thành hoàng là vị thần bảo vệ, che chở cho cộng đồng làng xã. Do vậy trách nhiệm thờ cúng, tham gia đóng góp xây dựng đình, đền, miếu thờ thành hoàng và tổ chức lễ hội là đương nhiên, bắt buộc với mọi người. Dưới đây là lược khảo về các làng xã của huyện Thủy Nguyên.

1. Làng An Lư (xã An Lư):

Làng An Lư (tên nôm là làng Sưa (Xưa)), một số thư tịch ghi làng An Các (Yên Các), nhưng trong huyện Thủy Nguyên (Thủy Đường cũ) không có làng An Các, có thể do lầm chữ “Các” và chữ “Lư” vì mặt chữ hơi giống nhau; có sách ghi thôn An Lư là thôn Bình Lư, nhưng huyện Thủy Đường không có thôn Bình Lư.

Trước năm 1945, là xã An Lư, tổng Thuỷ Tú, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước 1813, là xã An Lư, tổng Thủy Đường, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Dân An Lư vốn là dân Nghĩa Phú, xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương di cư đến. Địa bàn xã An Lư ngày nay tương ứng với một phần xã Nam Triệu thời cổ. Theo sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí”, trên địa bàn huyện Thủy Đường, có một con sông nhỏ từ xã Hà Tây chia nhánh chảy về phía nam qua xã An Lư đến xã Tả Quan, dài 14 dặm, 11 trượng, 5 thước. Cầu Sưa do bà Mai Thị Tuyết vận động dân đóng góp xây dựng để quân đội nhà Trần qua sông đánh giặc trong trận Bạch Đằng năm 1288.

An Lư là quê hương của các nhà khoa bảng: 1- Vũ Trực Hành (1467 - ?), đỗ Đồng tiến sĩ năm 1493, làm quan nhà Lê đến chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên. 2- Nguyễn Huân (1479 - ?), đỗ Đồng tiến sĩ năm 1505, làm quan nhà Lê đến chức Giám sát ngự sử. 3- Nguyễn Đạc (? - ?) (con Nguyễn Huân), đỗ Đồng tiến sĩ năm 1538, làm quan nhà Mạc đến chức Giám sát ngự sử.

Đền An Lư (di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng quốc gia) và miếu An Lư thờ ba vị thành hoàng: 1- Nguyễn Hoằng (tên húy là Nguyễn Tĩnh - nhà dược học nổi tiếng Tuệ Tĩnh). Ông sinh ngày 12-2, hóa ngày 11-9. Trước năm 1938, làng An Lư còn giữ được một số sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924); ngày tế lễ hàng năm:12-2; 11-9 và 11-11; ngày 1-6 làm lễ hạ điền, 1-7 làm lễ thượng điền; kiêng húy chữ “Tĩnh”. 2- Trần Quốc Tảng (con thứ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), sinh ngày 12-10, hóa ngày 3-8, có công đánh giặc Nguyên trên sông Bạch Đằng, được thờ bằng long ngai. Trước năm 1938 làng còn giữ được sắc phong đời Khải Định 9 (1924); ngày tế lễ hàng năm: 12-10 (ngày sinh), 3-8 (ngày hóa); các ngày: 1-6 làm lễ hạ điền; 1-7 làm lễ thượng điền; kiêng húy chữ “Tảng” (đọc là “Tưởng”). 3- Đông Hải đại vương Đoàn Thượng, được thờ bằng long ngai. Trước năm 1938, còn giữ được 2 sắc phong đời Khải Định 3 (1918) và 9 (1924); ngày tế lễ hàng năm: 1-6 (lễ hạ điền), 1-7 (lễ thượng điền), 10-8. Khác với nhiều làng trong vùng, khi tế xong, “các đồ lễ đem phân phát cho các tân cựu lý dịch hưởng”.

Tấm bia “Trần triều hiển thánh” ở đền An Lư khắc ghi tên người, tên làng xã có công trong trận Bạch Đằng năm 1288. Hằng năm, hội đền An Lư diễn ra vào ngày 11-11; trong hội có nhiều trò vui dân gian như: đu tiên, hát đúm, chọi gà, cờ tướng…Trước thế kỷ XIX, văn miếu huyện Thủy Đường đặt ở xã An Lư; mùa xuân và mùa thu, hàng huyện hội tế.

(còn tiếp)

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay55
mod_vvisit_counterHôm qua171
mod_vvisit_counterTất cả36797
Hiện có 3 khách Trực tuyến