Tôn giáo-Tín ngưỡng

Tín ngưỡng thờ chó đá của người Việt.

alt

Chó đá ở đền Cẩu Nhi (Hà Nội)

Quan niệm văn hóa về chó:

Chó là một trong các con vật thuộc lục súc. Trong lịch Á Đông, chó được xếp vào địa chi 12 con giáp ở vị trí thứ 11 (chi Tuất). Chó sống gắn bó với người như người bạn thân thiết, quấn quýt và trung thành với chủ nên được con người quý mến, chính vì vậy người ta thường gán đặc điểm này của nó cho người mang tuổi Tuất. Ví dụ, năm Mậu Tuất - Tiến Sơn Chi Cẩu (Chó vào núi) đối với người sinh năm Tuất, theo tử vi: là người chú trọng đến nhân tình, đạo nghĩa. Tính cách họ thẳng thắn và thành thực. Họ sống trân thành và dám hy sinh cho những người mình yêu quý và tôn trọng.

Chó gần gũi với đời sống người Việt từ rất sớm. Trên trống đồng Đông Sơn thời đại Hùng Vương và một số đồ đồng khác tìm thấy ở nước ta, con chó được khắc họa ở nhiều tư thế và trạng thái khác nhau như: con đang đuổi theo con mồi (trên rìu Trung Màu, Việt Trì và một số rìu khác), con thì đang trong tư thế nằm phủ phục rình mồi hoặc cùng con người vượt qua sóng gió trên những con thuyền lớn (trên trống đồng Ngọc Lũ)..v.v..

Biểu tượng phức tạp của con vật này trong văn hóa xa xưa gắn bó với bộ ba nguyên tố đất (thổ) - nước (thủy) - trăng (nguyệt) mà nội dung huyền bí là mang ý nghĩa âm tính, cõi âm, đồng thời là giá trị sinh trưởng, tính dục. Trong đó phần tính dục được dựa trên những truyền thuyết về cội nguồn của các dân tộc Hán, Dao, Pa  kô và thiểu số người Mêhico. Ngày nay người Dao vẫn coi mình là con cháu của Bàn Hồ. Do đó họ có tục thờ chó, trang phục mô phỏng chó hay trang trí hình chó và để tóc kiểu chó. Người Dao đỏ trong ngày cưới còn đội một chiếc mũ hình đầu chó, mặc váy có hình đuôi chó…. Người Pa Cô thuộc tộc Cơ Tu còn kiêng giết thịt, coi con chó như vật tổ truyền.

Trong văn học dân gian và hiện đại nước ta, hình tượng chó được nói đến rất nhiều:

Truyện cổ tích “Sự tích cây nêu ngày Tết” có nói đến việc Phật dậy con người dùng máu chó và lá dứa gai để dọa loài quỷ, không cho bén mảng đến đất của người. Trong truyện dân gian Việt Nam, người ta còn kể rằng, dưới địa ngục của Diêm Vương có con linh cẩu (chó ngao) chuyên để trừng phạt những kẻ trên dương gian từng phạm tội giết người hay hành hạ người khác bằng cách cắn xé kẻ tội đồ, rồi chuyện con chó của chú Cuội trên cung trăng ..v.v…

Vua Lê Thánh Tông làm thơ về Tượng chó đá có câu: “Quyền trọng ơn trên trấn cõi ngoài/ Cửa nghiêm chem chẻm một mình ngồi/ Quản bao sương tuyết nào chi kể/ Khéo giữ cao lương cũng chẳng nài”…

Còn nhà thơ Phùng Khắc Bắc thì viết: “Anh trở về làng đồi/ Con chó đá đón anh ngoài ngõ/ Cái thuở cha ông gạo tiền không có/ Nhưng lại nuôi chó đá giữ hồn…/ Và hôm nay khi anh vừa tới ngõ…/ Anh như bay như hoá/ Và hiểu thêm/ Ta phải là ta cả phần xác lẫn phần hồn”.

Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam có những câu rất hay khi dùng hình tượng chó để ví von: “Lai dai như chó nhai giẻ rách” (làm mãi một việc không xong), “Làm kiếp trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ”, “Làm người thì khó, làm chó thì dễ/no”, “Lang lảng như chó cái trốn con” (không muốn cho con bú nhiều), “Ngay lưng như chó trèo chạn” (khi chó ăn vụng phải đứng), “Nhẳng nhẳng như chó cắn ma” (sủa vu vơ, dai dẳng), “Trai ở nhà vợ như chó ở gầm chạn” (phải luồn cúi để có ăn), “Treo đầu dê, bán thịt chó” (bán hàng lừa lọc, không đúng thực tế)…vv…

Trong các nền văn hóa khác nhau, chó được quan niệm với hai đặc tính: tốt và xấu.

“Ở nhiều nơi trên thế giới, con chó được quý mến và nâng niu, người ta cũng đặt tên các chòm sao theo tên chó như: Tiểu Khuyển, Đại Khuyển, Lạp Khuyển.

Nhưng chó cũng được coi là con vật có cả mặt tốt và mặt xấu. Đạo Hồi coi chó là xấu xa đê tiện. Theo Shabestari, quyến luyến với cõi trần thế tức là tự đồng hóa mình với con chó ăn xác chết; chó là biểu tượng của sự tham lam, sự phàm ăn. Sự cùng tồn tại của chó và thiên thần là không thể có được. Tuy nhiên, theo các truyền thuyết đạo Hồi, con chó có đến 52 thuộc tính, trong đó một nửa là thánh thiện, một nửa là ác quái. Thí dụ, nó thức tỉnh, nó kiên nhẫn, nó không cắn chủ. Ngoài ra, nó còn sủa chống lại bọn vô lại..v.v… Tính trung thành của nó được ca ngợi: Khi con người không có anh em, chó là em của người ấy. Những người theo đạo Hồi còn phân biệt rạch ròi chó thường với chó săn, mà dáng đi quý phái của nó biến nó thành một con vật trong sạch.

Tại Viễn Đông, ý nghĩa biểu tượng của chó là hai chiều đối nghịch nhau về bản chất: lành, bởi vì chó là bạn gần gũi của con người và canh gác gìn giữ nhà cửa của người; dữ, bởi vì nó có họ hàng với chó sói và chó núi, nó được xem như một con vật bẩn thỉu và đáng khinh.

Một ý nghĩa rất gần gũi được người Tây Tạng nhìn nhận, nơi đây chó là biểu hiện của sự phóng dục, sự đam mê nhục dục và đồng thời là tính cả ghen. Ai sống như chó, Đức Phật dạy, thì khi thân xác tan rữa, sau khi chết người ấy sẽ đi với chó.

Khu vực Trung Á có những huyền thoại mà qua đó ta có thể hiểu được vì sao con chó dần trở thành một con vật ô trọc, bị nguyền rủa, mang một vết nhơ nguyên lai không thể xóa tẩy:

Theo một bộ phận người Tatar, Thượng đế khi sáng tạo thế giới đã giao cho con chó canh gác loài người, ngăn chặn không cho quỹ dữ tới gần con người. Nhưng chó đã để cho kẻ thù mua chuộc và vì thế đã trở thành kẻ chịu trách nhiệm về sự sa ngã của con người. Theo người Yakoute, Thượng đế ban đầu tin cẩn giao những hình ảnh của mình cho chó canh giữ, nhưng nó đã để cho quỷ dữ bôi nhọ; để trừng phạt, Thượng đế đã bắt chó phải mang hình dạng hiện nay. Có nhiều dị bản lặp lại đề tài này ở những thổ dân sống dọc sông Volga, gần gũi với người Phần Lan. Tất cả chúng đều có một chi tiết chung quan trọng: con chó nguyên thuỷ lõa thể đã phải khoác lấy lông của quỷ dữ để trả giá cho sự phản bội của mình. Như vậy là sự phản bội đã được vật chất hóa thành bộ lông thú; nó dần dần biến sinh linh môi giới này thành một con vật nhơ bẩn, không sờ đến được; hơn thế nữa, sự phản bội ấy còn đem đến cho loài người những bệnh tật, những nhơ bẩn bên trong, tất cả những cái đó, cũng như bộ lông của chó, đều phát sinh từ nước bọt của quỷ dữ; và cũng như thế, con chó trở thành kẻ chịu trách nhiệm về sự chết, hệ quả cuối cùng của những tai họa ấy, của sự làm bẩn và sự nhỏ dãi ấy. Người Bouriate nói rằng Thượng Đế đã nguyền rủa con chó bội phản bằng những lời sau đây: Ngươi sẽ mãi mãi khổ sở vì đói, ngươi sẽ phải gặm xương, ăn những thức ăn thừa của con người, và họ sẽ đánh đập người không biết thương xót…

Tóm lại, chó là một biểu tượng với nhiều bình diện đối nghịch ở tất cả các nền văn hóa." (Trích Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, 1997)

Tục thờ chó đá:

Một số nơi trên đất nước ta có tục thờ chó đá (Tuy chó không phải là linh vật được tôn thờ phổ biến) trong đó có một số gia đình nông thôn Hải Phòng . Tục thờ chó của người Việt được thể hiện dưới hai hình thức: Một là chôn tượng chó đá trước cổng nhà như một linh vật để canh cổng với mong muốn nó sẽ bảo hộ trừ tà ma và tai họa. Hai là đặt chó đá trên những bệ thờ như một vật linh để thờ phụng như con kỳ lân, sư tử mà người Trung Quốc tôn thờ.

Mỗi vùng khác nhau có hình thức thờ chó đá khác nhau. Người Tày, Nùng một số nơi ở Lạng Sơn, Cao Bằng có tục chọn ngày tốt để đặt con chó đá trước cửa trông nhà và trừ tà ma. Ngày Tết, họ rửa ráy, lau chùi sạch sẽ chó đá, quàng vào cổ nó một dải vải đỏ, (thậm chí tuần, rằm còn đặt bát cơm trước mặt nó) để cầu mong chó trung thành canh giữ nhà cửa cho chủ nhân, xua đuổi tà ma, quỷ quái. Vào tối 30 tết, gia chủ sẽ rán lên lưng con chó đá một tờ giấy màu đỏ kiểu như mặc áo để ngài cùng đón năm mới với gia đình. Họ cho rằng, nếu gia đình nào không chú trọng đến con vật này thì năm đó gia đình ấy sẽ làm ăn xui xẻo.

Ở huyện Đan Phượng (Hà Tây) có hai nơi thờ phụng chó. Một bệ thờ chó đá ngoài vườn, trước cửa đình thôn Phù Trung, xã Thượng Mỗ. Một bệ thờ chó đá khác nằm cạnh quần thể di tích chùa Phúc Khánh và đình làng Địch Vĩ, xã Phương Đình. Thôn Yên Thị, xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) cũng thờ chó đá. Trẻ con và người già ở đây đều gọi chó đá là Cụ Thạch.

Tại phố cổ Hội An, khi xây cầu lầu (hay chùa Cầu) trên con lạch nhỏ chảy ra sông Thu Bồn, người Nhật cũng đặt 2 đầu cầu 2 tượng gỗ hình con khỉ và con chó quay mặt nhìn nhau với mục đích trấn yểm thủy quái. Các tượng đều được chạm bằng gỗ mít trong tư thế ngồi chầu, phía trước mỗi tượng có một bát nhang cúng vái.

Ở nước ta, tuy chó được coi trọng nhưng không phải là đối tượng thờ tự với đẳng bậc thần thánh. Người ta không coi nó là một linh thần nhưng đôi khi vẫn coi nó là con vật trấn giữ, bảo vệ nhà cửa, đền, lăng. Từ đó cho thấy tính chất linh thính của chó, năng lực trấn giữ của nó và như vậy, trong chừng mực nhất định nó cũng được coi là một linh vật.

Cần phải nói rằng, chức năng trấn giữ của chó, do ảnh hưởng từ nhiều luồng văn hoá – tín ngưỡng khác nên gần đây đã bị thay thế bằng kỳ lân, sư tử, các thứ bùa chú, chư vị hộ tự, hộ đền học theo kiểu người Trung Hoa. Còn nguyên thủy xưa, người Việt đã từng coi con nghê là linh vật trấn giữ đền, miếu, nhà thờ, lăng, mộ của mình. Nghê là con vật có hình dáng lai tạp giữa chó, sư tử hay khỉ (tùy theo sự sáng tạo của nghệ nhân người Việt chế tác nó và giai đoạn lịch sử) mà hình dáng chó vẫn là chủ đạo.

Ngày nay, người Việt một số nơi không chôn chó đá ở trước cửa nhưng vẫn mua chó gốm về để bày trong nhà như con vật phong thủy, vừa xua đuổi tà ma, vừa làm vật trang trí.

Chó được cho là có thể trấn áp tà ma, quỷ quái. Trước 1945, vẫn còn phổ biến ở một số địa phương tục chôn chó theo người chết vào giờ trùng để trừ tà/ thần trùng. Người ta chôn trên mộ người chết một cái hũ đựng một con chó còn sống với quan niệm tiếng chó sủa ban đêm sẽ có tác dụng đuổi  quỷ ma từ âm giới lên trần gian để bắt ma mới, làm hại thân nhân người chết.

Các thày phù thủy, thày pháp thường dùng máu chó và cành dâu để xua đuổi ma quỷ, trừ tà có lẽ cũng xuất phát từ quan niệm về khả năng cảnh báo, xua đuổi tà ma của chó.

Việc thờ chó đá không chỉ là tín ngưỡng đa thần mà còn là nét văn hóa độc đáo của một số dân tộc trên đất nước ta. Có thể thấy rằng, tín ngưỡng thờ chó đá đã có từ rất lâu và cho đến nay vẫn còn được gìn giữ trong văn hóa của người Việt ở nơi này, nơi kia. Rất khó để chứng minh sự màu nhiệm của tín ngưỡng này, nhưng chắc chắn rằng, khi có niềm tin tâm linh, con người sẽ sống thoải mái, an tâm hơn và hy vọng mong ước của mình sẽ thành hiện thực. Đây cũng chính là giá trị đích thực của tín ngưỡng thờ chó đá trong văn hóa tâm linh người Việt.

Thi Văn sưu tầm, tổng hợp.


Hình tượng ngựa trắng trong văn hóa Đông-Tây và tín ngưỡng thờ thần Bạch Mã của người Việt

 

Tượng ngựa trắng và đỏ trong đình, đền.

Ngựa là một trong 12 con giáp của văn hóa Phương Đông, đại diện cho chi Ngọ và là một con vật rất gần gũi với đời sống con người. Nó còn là một hình tượng đa dạng trong các nền văn hóa thế giới cũng như tôn giáo, trong đó hình tượng ngựa trắng (bạch mã) lại có một ý nghĩa đặc biệt. Trong các giai thoại, thần tích thì các nhân vật anh hùng, thần thánh thực thi sứ mệnh cao cả hầu như đều cưỡi ngựa trắng mà đức Phật Thích  Ca Mâu Ni là một ví dụ điển hình. Thái tử Tất Đạt Đa trước khi trở thành Phật đã cưỡi con Kanthaka (Kiền Trắc Mã, theo âm Hán-Việt) trong đêm, từ bỏ hoàng cung ra đi tìm đường tu để giải thoát cho mình và chúng sinh khỏi nỗi khổ trần thế. Con ngựa này khi trở về hoàng cung đã buồn bã nhịn ăn uống mà chết. Theo các kinh sách Phật giáo, sau khi thái tử Tất Đạt Đa thành Phật, Kanthaka được tái sinh làm một người Bà-la-môn và đều đặn đến chú tâm nghe Đức Phật giảng Pháp, đi đến giác ngộ, được giải thoát và nhập Niết-bàn.

Cũng có thể thấy nguồn gốc của ngựa trắng liên quan đến Phật giáo là sự kiện: năm 67 (sau CN), hai Thiền sư Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dùng ngựa trắng chở kinh Phật từ Tây Trúc sang Lạc Dương (Trung Quốc), đánh dấu việc khởi truyền Phật pháp ở xứ Đông Độ (Từ điển Phật học Huệ Quang (cảo bản); Thích Minh Cảnh chủ biên.- 1996). Ở đây, ngựa trắng biểu thị cho sự phổ hóa Phật pháp.

Hình ảnh ngựa được thể hiện rộng rãi trong văn học dân gian, tranh vẽ, tranh thêu, điêu khắc, và đồ gốm - sứ cổ và hiện đại. Con ngựa (cả hình tượng lai tạp như long mã hay nhân mã) với các màu sắc khác nhau dường như đều có mục đích thể hiện ý nghĩa văn hóa hay tâm linh nhất định. Có thể nói hình tượng ngựa rất phổ biến trong văn hóa Đông – Tây.

Trong tranh dân gian Đông Hồ nước ta có một bức vẽ con ngựa không có người cưỡi mà lại có lọng che rất trang nghiêm. Chính “khoảng trống” dưới mái lọng che ấy là Đức Phật (theo Phật thoại: trời Đế Thích cầm lọng che cho thái tử Sakyamuni trên đường xuất gia). Trong Ấn Độ giáo thần Kalki (hay Kalkin) - vị thần biểu trưng cho tương lai, hóa thân thứ 10 của thần Vishnu cũng là con ngựa trắng.

Màu trắng được cho là màu của chiến thắng. Cho nên nhiều anh hùng, thánh nhân chiến thắng kẻ thù thường cưỡi ngựa trắng như một biểu tượng của sự đăng quang. Biểu tượng này còn được thể hiện trong Kinh thánh của đạo Thiên chúa. Đấng Cứu thế (Chúa trời) cưỡi ngựa bạch trong chương 19 của sách Khải huyền ra đi để chiến thắng kẻ thù. Ngài đem đến hòa bình và ơn cứu chuộc. Trong thần thoại Hy Lạp có con ngựa Pegasus. Nó là con ngựa thần, có cánh như chim đại bàng, lông trắng muốt. Sau khi giúp đỡ người anh hùng Hy Lạp Bellerophon đánh bại Chimera, thần Zeus (chúa tể của các thần) đã biến ngựa Pegasus thành một chòm sao đó là chòm sao có tên Nhân Mã (một trong 12 chòm sao của cung Hoàng đạo).

Ở Việt Nam, trong các đình, đền, miếu, phủ người ta thường đặt tượng ngựa đá, ngựa gỗ sơn son, sơn trắng làm con vật thờ, bởi nó là con vật mà các vị Thành Hoàng, thần linh, nhân thần thường cưỡi khi đánh trận hay di chuyển, làm việc (Thường là hai con ngựa gỗ giống nhau nhưng một con màu trắng, một con màu đỏ đặt hai bên đối xứng như âm – dương hòa hợp). Trong đó con màu trắng (màu hành Kim trong dịch lý Ngũ hành) thuộc về phương Tây (phương của Phật nên mới gọi Tây phương cực lạc), tượng trưng cho gió, sự di chuyển. Màu trắng là màu sắc của sự khởi đầu, đồng thời cũng là sự kết thúc trọn vẹn. Màu trắng còn có tính lạnh (âm)

Con màu đỏ (màu hành Hỏa trong Ngũ hành) thuộc về phương Nam, tượng trưng cho thánh thần  nên mới có câu: Thánh nhân ngồi quay mặt hướng nam nghe thiên hạ tâu bày. Màu đỏ có tính nóng, cũng là màu của mặt trời (dương).

Vậy là tượng ngựa trắng và ngựa đỏ không chỉ muốn nói đến sự hài hòa âm - dương mà còn tượng trưng cho phương tiện di chuyển của Thần, Phật.

Trong các đình làng ở miền Nam hay miền Trung (nhất là vùng ven biển) người ta thường thờ thần Bạch Mã với tên gọi Bạch Mã Thái Giám (mà để giải thích tại sao thì trong bài sau tác giả sẽ trình bày). Tại các xứ này, Bạch Mã Thái Giám được coi là vị thần phù hộ cho giới thương nhân buôn bán bằng đường thủy hay đường bộ.

Dân gian vùng này thường cho rằng tượng ngựa trắng thờ ở đình là con vật cưỡi của Thành Hoàng làng và là thuộc hạ hầu cận - Thái giám/ hoạn quan (nên mới gọi là Bạch Mã Thái giám). Điều này nghe ra không thỏa đáng. Đó là cách hiểu thế tục, còn trong truyền thống Phật giáo, ngựa trắng/bạch mã được coi là Balaha – hóa thân của Bồ Tát quan Thế Âm, hay chính là Phật. Thường thì triều Nguyễn xếp Bạch Mã Thái Giám vào bậc Trung đẳng thần. Song ở một số làng ở Thừa Thiên Huế, Bạch Mã Thái Giám được cấp sắc là Thượng đẳng thần, trong khi đó, thần Thành Hoàng đa phần chỉ là thần Hạ đẳng. Nghĩa là Thành Hoàng còn là vị thần có thứ hạng thấp hơn thần Bạch Mã Thái Giám.

Vì Bạch Mã Thái Giám cũng là hóa thân của Bồ Tát nên được nhà Nguyễn phong tặng danh hiệu “Dương Uy Ngự Vũ Bão Chướng Kiện Thuận Hòa Nhu Hàm Quang, Thượng Đẳng Thần” vào ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5. Bên cạnh đó, Thần Bạch Mã trở thành thần đồng tự với thần Thành hoàng nên được vua Thiệu Trị phong “Lợi Vật Kiện Thuận, Hòa Nhu Chi Thần” – vị thần mang lại lợi ích cho nhân gian. Bạch Mã Thái Giám là vị thần của triều đình và cũng là vị thần của dân gian.

Hình tượng ngựa trắng còn được thể hiện trong thần tích Việt Nam ở đền thờ thần Bạch Mã (Long Đỗ) ở Hà Nội:

Tương truyền khi Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư đến Đại La, đổi tên thành Đại La là Thăng Long. Nhà vua sai đắp lại thành, nhưng hễ thành đắp xong lại lở, bèn sai người đến cầu đảo tại đền thờ thần Long Đỗ. Chợt người cầu đảo thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, dạo quanh thành một vòng, đi tới đâu, để vết chân tại đó, và cuối cùng vào đền rồi biến mất. Nhà vua biết là thần Long Đỗ hiển linh hóa thân vào con ngựa trắng giúp mình xây thành, nên cứ theo vết chân ngựa mà đắp thì thành không lở nữa. Sau khi thành xây xong, vua sai người đúc tượng ngựa trắng để thờ tại đền thần Long Đỗ, phong thần làm thành hoàng của Thăng Long, trấn giữ, bảo vệ cho kinh kỳ. Các triều đại phong kiến sau này cũng tôn kính mà phong thần Long Đỗ là Bạch Mã Thượng đẳng thần, rồi Bạch Mã Quảng Lợi tối linh Thượng đẳng thần để muôn đời thờ phụng. Đền Bạch Mã đã trở thành một trong những Tứ trấn của Thăng Long nghìn năm văn hiến là vì lý do này.

Nhiều nơi ở Hải Phòng cũng thờ hình tượng Bạch Mã hay Long Mã.

Con ngựa Long Mã với đầu rồng, thân ngựa, vẩy cá chép, chân hươu, đuôi bò ở chùa Trà Phương thuộc Kiến Thụy - Hải Phòng (dấu ấn điêu khắc thời Mạc) - gắn với nguồn nước, biểu hiện cho vua chúa và ý chí tung hoành ngang dọc của thánh nhân trên trời, dưới nước, trên mặt đất.

Ít ai biết rằng ở làng Lệ Tảo thuộc phường Nam Sơn, quận Kiến An người dân cũng lấy thần Long Đỗ Bạch Mã làm Thành hoàng làng để thờ tự và sự tích xây đình cũng gắn liền với sự hiển linh của vị thần cưỡi con ngựa trắng.

Báo Công lý số ra ngày 05/01/2015 ghi lại lời kể của Ông Nguyễn Văn Hứa, Trưởng ban Trị sự đình Lệ Tảo về câu chuyện mang màu sắc ly kỳ:

“Tương truyền vào năm 1813, làng quyết định xây đình thờ thành hoàng làng “Bạch Thiên Quan Cán trúc tôn thần”, nhưng không hiểu sao đình cứ xây xong lại đổ, mấy năm liền không hoàn thành. Sau các cụ cao niên trong làng nhiều lần nằm chiêm bao thấy thần Long Đỗ cưỡi con bạch mã về báo mộng muốn giúp dân xây đình. Thế là ngay sau đó, làng phải cử người lên tận kinh thành để làm lễ, xin dấu, ấn của đền Bạch Mã. Kỳ lạ thay, kể từ đó đình làng nhanh chóng được hoàn thành và vững vàng qua bao thăng trầm thời gian cho đến tận ngày nay. Ghi nhớ công ơn này, nhân dân trong làng quyết định thờ thêm thần Long Đỗ Bạch Mã làm Thành hoàng, ngựa trắng trở thành vật thờ cúng thiêng trong đình”.

Xin nói thêm, dân Lệ Cảo (tên gọi xưa của những di dân từ kinh kỳ Thăng Long đến định cư) vốn thờ thần Long Đỗ (Bạch Mã) và đình Lệ Tảo là Di tích lịch sử được thành phố Hải Phòng cấp bằng công nhận năm 2003. Ở đây hiện còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong của triều Nguyễn, từ đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định…

Từ văn học dân gian đến nghệ thuật hội họa, điêu khắc và các câu chuyện thần thoại, thần tích, ta thấy hình tượng ngựa, nhất là ngựa trắng là một đối tượng thiêng liêng được người ta tôn thờ. Ngựa trắng ở miền Bắc hay Bạch Mã Thái giám (theo cách gọi người miền Trung, miền Nam) được coi như thần thánh trong tín ngưỡng dân gian với những lý do như đã trình bày ở trên.

PV. Thi sưu tầm, chú giải

Tìm hiểu Tam phủ Công đồng và Tứ phủ Vạn linh

alt

Ảnh minh họa trật tự sắp xếp (từ cao xuống thấp) của các vị thánh Tứ phủ

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu (mà đôi khi người ta gọi là “Đạo Mẫu” – một cách hiểu sai về tôn giáo) người ta không chỉ thờ riêng các vị Thánh Mẫu mà còn tôn thờ cả một hệ thống phức tạp các vị Thánh mà người ta thường gọi là: Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn Linh với một trật tự chặt chẽ mà trật tự này được thể hiện trong các giá hầu đồng người ta thỉnh các vị Thánh Mẫu, Chúa Bà, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu theo trật tự nhất định.

Trong điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu thì hầu hết các vị Thánh đã được lịch sử hóa, tức là đều hóa thân thành những con người có danh tiếng, có công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên đã có không ít những vị thánh vốn là các nhân vật có thật trong lịch sử, sau này được người đời suy tôn lên thành thần thánh. Ngoài ra còn có nhiều vị thần linh, vốn là các thiên thần hay nhiên thần nhưng lại được người đời lịch sử hóa thành nhân thần khi gán cho họ có sự nghiệp, có công trạng với đất nước hay một địa phương.

Vậy Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn Linh là gì và trật tự cao, thấp của các vị thần thánh trong đó ra sao?, chúng ta thử tìm hiểu:

I. Khái niệm Tam phủ công đồng & Tứ phủ Vạn linh:

Là hệ thống các vị Thánh mà người ta thờ phụng  trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ với một trật tự chặt chẽ thể hiện trong các giá hầu đồng mà người ta thỉnh các vị Thánh Mẫu, Chúa Bà, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu theo trật tự nhất định.

Tam phủ công đồng là ban thờ chung chư vị thần linh của ba miền: Thiên Phủ, địa phủ, thoải phủ theo thứ tự từ cao đến thấp.

Tứ phủ Vạn linh là ban thờ chư vị thần linh của bốn Miền: Thiên Phủ, địa phủ, thoải phủ, Nhạc phủ.

II. Khái niệm Tam phủ, Tứ phủ:

1) Tam Phủ (Tam: Là ba, Phủ: Là nơi làm việc của các quan).

Vậy Tam phủ được hiểu là nơi làm việc của các quan âm, chư vị thần linh của ba miền: Thiên Phủ, địa phủ, thoải phủ.

– Thiên phủ (Màu Xanh – Vua cha Ngọc Hoàng): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản bầu trời.

– Địa phủ (Màu Vàng – Vua cha Diêm Vương): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản vùng đất đai.

– Thủy Phủ (Màu Trắng – Vua cha Bát Hải): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản miền sông nước.

2) Tứ phủ là nơi làm việc của các quan âm, chư vị thần linh của bốn Miền: Thiên Phủ, địa phủ, thoải phủ, Nhạc phủ.

– Thiên phủ (Màu Đỏ – Mẫu Cửu): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản bầu trời.

– Địa phủ (Màu Vàng – Mẫu Liễu): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản vùng đất đai.

– Thủy Phủ (Màu Trắng – Mẫu Thoải): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản miền sông nước.

– Nhạc Phủ (Màu Xanh – Mẫu Thượng ngàn): Bao gồm các chư vị thần linh cai quản miền rừng, sơn lâm.

Theo sắp xếp thứ tự ngày xưa là: Thiên, địa, thoải, nhạc (vì nhạc xuất hiện sau). Tứ Phủ được đặc trưng bởi bốn màu: Màu đỏ (thiên phủ); Màu xanh (nhạc phủ); Màu trắng (thoải phủ); Màu vàng (địa phủ).

Quan điểm này ngày nay rất phổ biến trong việc xếp thứ tự tứ phủ hợp lý theo mặt không gian từ cao xuống thấp là Thiên phủ - Nhạc phủ - Thủy (thoải) phủ - Địa phủ. Theo đó, cao nhất là tầng trời (Thiên); sau đó đến vùng cao nguyên rừng núi (Nhạc); sau đến vùng đại dương sông nước (Thuỷ hay còn đọc chệch là thoải), rồi mới đến vùng địa phủ.

Tín ngưỡng thờ Tam phủ – Tứ phủ tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng lại không hề mâu thuẫn bởi vì chung quy lại đó đều là tôn thờ Thánh Mẫu, tôn thờ toàn vũ trụ.

– Đệ nhất thượng thiên

– Đệ nhị thượng ngàn

– Đệ tam thoải phủ

– Đệ tứ khâm sai (Đệ tứ địa phủ).

Như vậy Tứ phủ vạn linh là chỉ toàn bộ chư thánh của tín ngưỡng thờ mẫu mà đứng đầu là Thánh Mẫu.

III. Các Chư linh của Tứ phủ được phân chia theo vị trí sau đây:

1. Bảo hộ dân quốc thánh mẫu:

– Mẫu đệ nhất (Thiên phủ) danh hiệu Thanh Vân công chúa

– Mẫu đệ nhị (Nhạc phủ) danh hiệu Lê Mại đại vương

– Mẫu đệ tam (Thoải phủ) danh hiệu Xích Lân công chúa

– Mẫu đệ tứ (Địa phủ) danh hiệu Liễu Hạnh công chúa.

Trong các đền, điện thờ Tứ phủ, tam toà thánh mẫu được xếp theo thứ tự:

– Mẫu đệ nhất: Mẫu Liễu

– Mẫu đệ nhị: Mẫu thượng ngàn

– Mẫu đệ tam: Mẫu thoải.

2. Phụ vương đại thánh (Phối thờ)

– Ngọc Hoàng thượng đế (Thiên phủ)

– Bát hải long vương (Thoải phủ)

– Tản viên Sơn thánh (Nhạc phủ)

– Thập diện minh vương (địa phủ).

3. Hội đồng chúa (Phối thờ)

– Chúa Đệ Nhất Tây Thiên

– Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Nguyệt Hồ)

– Chúa Đệ Tam Lâm Thao.

– Chúa Cà Phê (Địa Phủ) & (Nhạc Phủ)

– Chúa Long Giao (Nhạc Phủ)

– Chúa Ngũ Hành Ngũ Phương (Nhạc Phủ)

– Chúa Thác Bờ (Thoải Phủ) & (Nhạc Phủ)

– Chúa Mọi (Nhạc phủ).

4. Ngũ vị tôn quan

– Quan lớn đệ nhất thượng thiên: quyền cai Thiên phủ trên trời, là thần làm mưa làm gió, là quan trong cung điện Ngọc hoàng, mặc áo màu đỏ.

– Quan Lớn đệ nhị Thượng ngàn: Quyền cai rừng núi Lâm cung, lên rừng xuống biển tâu về Bát Hải long vương, ông là vị giám sát trước để đánh trận xông pha, ông mặc áo màu xanh.

– Quan Lớn đệ tam thoải phủ: Là con vua Bát hải long vương, ông mặc áo bào màu trắng, cầm đôi bạch kiếm đi xông pha quỷ thế tà giới.

– Quan lớn đệ Tứ Khâm Sai: Là quan Địa linh quyền cai quản đất bằng, ông có trách nhiệm đi khâm sai các vùng dân, giữ an lành nước Việt, ông mặc áo màu vàng.

– Quan lớn đệ Ngũ Tuần Tranh: Là quan lớn, mặc áo bào màu xanh biển, cầm thanh long đao to.

– Đệ nhất vương quan. Danh hiệu Quan điều thất.

– Đệ thập vương quan. Danh hiệu Quan Hoàng triệu.

5. Tứ phủ chầu bà

– Chầu Đệ Nhất (hóa thân thánh mẫu Thượng Thiên): Thiên phủ

– Chầu Đệ Nhị (Nhạc phủ): Danh hiệu Ngôi kiều công chúa

– Chầu Đệ Tam (hóa thân Mẫu Thoải) Thoải phủ: Danh hiệu Thủy Điện công chúa

– Chầu Thác Bờ (Thoải phủ, Nhạc phủ): có người hầu giá thứ 3, tức là chầu đệ tam, bà chúa Thác bờ

– Chầu Đệ Tứ khâm sai Tứ phủ ( địa phủ): danh hiệu Chiêu dung công chúa. Đình Cốc thượng là nơi tôn thờ Chiêu dung công chúa Lý Ngọc Ba

– Chầu Ngũ thờ ở Suối Lân, Lạng Sơn (Nhạc phủ): Danh hiệu Suối Lân công chúa

– Chầu Lục (Nhạc phủ) Danh hiệu Lục cung công chúa

– Chầu Bảy (Nhạc phủ) Danh hiệu Tân la công chúa

– Chầu Bát thờ ở Tiên La Thái Bình (Nhạc phủ) : Danh hiệu nữ tướng Bát nàn

– Chầu Cửu (Cửu Huyền Thiên Nữ – Bỉm sơn – Thanh Hóa)

– Chầu Mười ở Mỏ Ba (Đồng Mỏ – Chi Lăng ) Nhạc phủ: Danh hiệu nữ tướng Đồng mỏ Chi lăng

– Chầu bé ở Bắc Lệ (Nhạc phủ): Danh hiệu Chầu bé Bắc lệ

– Chầu bà Bản đền: Danh hiệu thủ điện công chúa.

6. Thập vị Thủy Tế

– Ông Hoàng Cả (Thiên phủ): Danh hiệu ông Hoàng quận, Lê Lợi

– Ông Hoàng Đôi (Người Mán ): Nhạc phủ

– Ông Hoàng Bơ thoải cung

– Ông Hoàng Tư (Thoải phủ) Danh hiệu ông Hoàng khâm sai

– Ông Hoàng Năm

– Ông Hoàng Lục Thanh Hà

– Ông Hoàng Bảy (Nhạc phủ) danh hiệu ông Hoàng Bảo Hà

– Ông Hoàng Bát quốc (Thoải phủ) danh hiệu Ông Đệ bát đồng bằng sông diêm.

– Ông Chín Cờn (Thiên phủ) danh hiệu ông Cờn môn

– Ông Hoàng Mười (địa phủ) danh hiệu ông Nghệ an.

7. Tứ phủ thánh cô

– Cô cả Thượng Thiên (Thiên phủ)

– Cô Đôi Thượng Ngàn (Nhạc phủ)

– Cô đôi cam đường (Nhạc phủ)

– Cô Bơ Hàn Sơn (Thoải phủ) tức là cô bơ bông, cô bơ Tây hồ

– Cô Tư Ỷ La (Địa phủ)

– Cô Năm Suối Lân (Nhạc phủ)

– Cô Sáu Lục cung (Nhạc phủ)

– Cô Bảy Kim Giao (Nhạc phủ)

– Cô Tám Đồi Chè (Nhạc phủ)

– Cô Chín thượng ngàn

– Cô Chín Giếng (Cô 9 Sòng Sơn)

– Cô Mười Đồng mỏ (Nhạc phủ)

– Cô bé Thượng ngàn

+ Cô bé Đông Cuông: Nhạc phủ

+ Cô Bé Suối Ngang (Hữu lũng): Nhạc phủ

+ Cô bé Đèo Kẻng (Thất Khê)

+ Cô Bé Tân An (Lào cai)

+ Cô bé Cây xanh (Bắc Giang)

+ Cô bé Nguyệt hồ (Bắc Giang)

+ Cô bé Minh Lương (Tuyên Quang)

+ Cô bé Cây xanh (Tuyên Quang)

+ Cô bé Thác Bờ (Hòa Bình) Thoải phủ

+ Cô bé Thoải phủ (Thoải phủ)

+ Cô bé Núi Dùm

+ Cô bé Mỏ Than

+ Cô bé Bản Đền

+ Cô bé Den (Cô bé Sóc): Nhạc phủ.

8. Thập vị Triều Cậu

– Cậu Hoàng Cả Phủ Giầy (Thiên phủ)

– Cậu Hoàng Cả Sòng Sơn

– Cậu Hoàng Đôi (Nhạc phủ)

– Cậu Hoàng Bơ (Thoải phủ)

– Cậu Hoàng Tư

– Cậu Hoàng Năm

– Cậu Hoàng Bé Đồi Ngang (Cậu Hoàng Quận): Nhạc phủ

Ngoài ra ở mỗi bản đền lại có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền, trong đó thường hay ngự đồng như: Cậu Bé Phủ Bóng, Cậu Bé Đông Cuông,…

9. Ngũ hổ (Ông Lốt)

– Ngũ hổ:

+ Hắc Hổ trấn giữ phương Bắc

+ Bạch Hổ trấn giữ phương Tây

+ Hoàng Hổ trấn giữ trung tâm

+ Thanh Hổ trấn giữ phương Đông

+ Xích Hổ trấn giữ phương Nam.

– Ông Lốt (rắn):

+ Thanh Xà Đại tướng quân

+ Bạch Xà Đại tướng quân.

PV. Thi sưu tầm, chú giải)

Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu Trong tâm thức dân gian người Hải Phòng.

(Bài tham luận hội thảo “Tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn Hải Phòng”)

alt

Tượng Tam tòa Thánh Mẫu (ngồi giữa là Đệ nhất Thượng thiên, bên phải: Đệ nhị Thượng ngàn, bên trái: Đệ tam Thoải phủ)

Trong hoạt động tâm linh của người Hải Phòng, cũng như các vùng khác ở đồng bằng Bắc Bộ, từ xa xưa đã tồn tại song song việc thờ gia tiên tiền tổ với thờ Phật, thờ Tam tòa Thánh Mẫu và cả những nhân thần có công với nước, với dân trong Tứ phủ.

Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn nói đến mối quan hệ tương hỗ giữa việc thờ Phật và thờ Mẫu (Tam phủ, Tứ phủ) trong tín ngưỡng dân gian người Hải Phòng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện từ rất sớm, nó có trước tôn giáo. Khi Phật giáo truyền đến Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hình thành trước đó với việc tôn thờ mẫu Mẹ Âu Cơ và những Mẹ Trời (mẫu Thượng Thiên) Mẹ đất (Mẫu Địa), Mẹ nước (Mẫu Thủy) mà trong niềm tin sơ khai của người Việt là những thế lực có quyền năng sáng tạo, sinh thành, bảo trợ và che chở cho họ.

Thủa mông muội, con người không hiểu những hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, sấm, chớp là từ đâu. Vậy nên mới có tục thờ Tứ Pháp. Khi đạo Phật truyền vào Việt Nam (khoảng 2000 năm nay) tín ngưỡng thờ Mẫu còn được thể hiện qua huyền tích Phật Mẫu Man Nương ở huyện Siêu Loại, hương Mãn Xá (Bắc Ninh nay).

Tại vùng này hiện nay có 5 ngôi chùa cổ: Chùa Dâu thờ Pháp Vân (nữ thần mây), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (nữ thần mưa), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (nữ thần sấm), chùa Dàn thờ Pháp Điện (nữ thần chớp) và chùa Tổ thờ bà Man Nương là mẹ của Tứ pháp (dân gian tôn là Phật Mẫu Man Nương).

Trong cuộc sống xưa, con người ta có biết bao hiểm nguy rình rập, bao nỗi lo sợ tai ương, như vào rừng thì sợ gặp thú dữ, cây đổ, đá đè. Xuống nước thì sợ vực sâu, nước cuốn, sóng gió lật thuyền..v..v. Vậy nên họ mới tưởng tượng ra những thần linh có phép thuật nhiệm màu như Mẫu Nhạc (Mẹ rừng), Mẫu Thoải (Mẹ nước) để tôn thờ, mong những thánh Mẫu tối cao này che chở họ khỏi tai ương. Trong suy nghĩ của con người ta thì người mẹ thường có tình mẫu tử thiêng liêng với những đứa con mình rứt ruột đẻ ra nên tất nhiên phải thương yêu, bảo vệ, ban phát ân huệ cho  con mình. Đó là lý do xuất hiện tục thờ thần Mẹ hay tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thủy, Mẫu Địa) và sau này là Tam Phủ Thánh mẫu (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) của người Việt.

Với quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu đã có ảnh hưởng tương giao với các tôn giáo và tín ngưỡng khác như đạo Phật, đạo Lão nên mới có hiện tượng tôn giáo đồng nguyên (cùng được phối thờ). Có thể coi đây là sự hỗn dung tôn giáo-tín ngưỡng.

Tại các chùa, đền, phủ hiện nay, ngoài việc thờ Phật, người ta còn thờ cả thánh, thần theo kiểu tiền Phật, hậu Thánh. Ở những nơi này, bên cạnh ban thờ Phật với hệ thống tượng pháp và đồ thờ bao giờ cũng có ban thờ Mẫu Tam phủ  và Tứ phủ với ban thờ Tam tòa Thánh mẫu hoặc hệ thống tượng Tứ phủ công đồng.

Tín ngưỡng thờ Tam phủ - Tứ phủ tuy có những quan điểm khác nhau nhưng lại không hề mâu thuẫn bởi vì chung quy lại đó đều là tôn thờ Thánh Mẫu, tôn thờ toàn vũ trụ với quan niệm dân gian:

– Đệ nhất thượng thiên

– Đệ nhị thượng ngàn

– Đệ tam thoải phủ

– Đệ tứ khâm sai (Đệ tứ địa phủ).

Đa phần các chùa tại thành phố Hải Phòng hiện nay, ngoài thờ Phật là chính đều phối thờ cả Tam tòa Thánh Mẫu với ban thờ riêng, thậm chí có chùa còn lập một gian riêng như điện thờ Tam phủ trong đó (như chùa Dư Hàng, chùa Lạc Viên). Tuy nhiên cũng có chùa chỉ thờ Phật, không thờ Mẫu như chùa Nam Hải (trụ sở Hội Phật giáo Hải Phòng) và Phổ Chiếu.

Lại có nơi trong đình (vốn thờ thần Thành hoàng làng) người ta lại thờ cả Tam tòa thánh Mẫu (như đình Hàng Kênh). Điều này có cái gì đó không hợp lý bởi thần Thành hoàng theo xếp bậc trong thần điện Việt Nam chỉ là Hạ thần hay Trung thần, trong khi đó ba vị nữ thần của Tam phủ được coi là bậc Thượng đẳng thần. Người ta chỉ có thể phối thờ vị thần bậc thấp trong đền thờ vị thần bậc cao chứ không thể thờ thần bậc cao tại nơi thờ thần bậc thấp hơn. Nói về những bất cập trong tín ngưỡng dân gian hiện nay còn có nhiều chuyện phải bàn.

Với việc nhân dân tôn thờ bà Chúa Liễu Hạnh là Đệ nhất Thánh Mẫu trong Tam phủ Thánh Mẫu đủ thấy vị trí linh thiêng của Mẫu Liễu Hạnh như thế nào trong tâm thức dân gian. Từ việc thờ Tứ phủ Thánh Mẫu, có nơi, có lúc người ta đồng hóa Mẫu Liễu Hạnh với Mẫu Địa để chỉ còn tôn thờ Tam tòa Thánh Mẫu thì có thể nói Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh Mẫu tối cao trong Thần Đạo Việt Nam và bà cũng là người phụ nữ duy nhất mà dân gian suy tôn trong 4 vị thánh bất tử của người Việt.

Như nhiều nơi trên miền Bắc, ở thành phố Hải Phòng cũng có đền thờ mẫu Liễu Hạnh. Đó là Phủ Thượng Đoạn thuộc phường Đông Hải 1, quận Hải An. Nơi đây là nơi thờ chính của bà, gắn với truyền thuyết về một lần bà và thị nữ đi thuyền du ngoạn đến đây và giúp dân trừng phạt một tên cường hào hại dân rồi được dân dựng miếu tôn thờ. Theo truyền ngôn, phủ được tôn tạo khang trang vào thế kỷ 16. Tại đây lưu giữ 23 bản sắc phong có niên đại 1846 – 1924. Các vua nhà Nguyễn phong chúa Liễu Hạnh là Thượng đẳng thần và cho được phụng thờ tại xã Thượng Đoạn (xưa).

Hàng năm vào dịp đầu tháng 3 âm lịch, phủ Thượng Đoạn mở lễ hội theo lối cách nhật với các hoạt động tế, lễ của 3 phường. Đặc biệt trong lễ hội có nghi thức rước kinh sách từ chùa Vẽ về Phủ để phối thờ. Đây là một hoạt động của lễ hội nhằm nhắc lại sự tích của Thánh Mẫu: tương truyền trong một kiếp hoá thân, chúa Liễu đã quy theo Phật nên lễ hội của phủ có nghi thức rước kinh Phật.

Mẫu Liễu Hạnh được thờ ở một số đền, phủ, bản điện và phối thờ trong hầu hết các chùa ở Hải Phòng với vai trò là Giáo chủ của Tam phủ Thánh Mẫu.

Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, người dân Hải Phòng còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, nữ tướng tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất hiển thánh trong quan niệm người Việt để hộ quốc tì dân,phù hộ cho quốc thái, dân an, mưa thuận, gió hòa. Có thể kể ra đây một số nhân thần tiêu biểu được ca ngợi công đức trong các giá hầu Thánh nữ như:

1. Chúa Bà Đệ tam Lâm Thao, còn gọi là chúa Ót (cách gọi chệch của “Út”), là vị Thánh cô thứ ba trong Tam vị Chúa Mường (thuộc Nhạc phủ). Tương truyền, bà là công chúa con gái Vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt nhưng hết lòng giúp vua cha lo quân lương trong các cuộc chiến trận. Ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam chữa bệnh cứu giúp dân lành. Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm Phật để cầu cho quốc thái dân an. Chúa Lâm Thao được thờ chính tại đền Lâm Thao ở Cao Mại, Việt Trì, Phú Thọ. Ở Hải Phòng, chúa Bà Đệ Tam Lâm Thao được thờ ở đền Nguyệt Cư phủ bên bờ sông Tam Bạc, dưới chân cầu mới do C.ty TNHH Sơn Trường xây dựng.

2. Bát Nàn Đông nhung Đại tướng quân (tên thật là Vũ Thị Thục), quê gốc ở Phượng Lâu, Việt Trì (Phú Thọ) - một trong số các tướng tài ba nhất của Hai Bà Trưng có công cứu nước, cứu dân từ buổi đầu kháng chiến chống quân Đông Hán xâm lược.

3. Đệ nhị Vương cô nhà Trần (tên thật là Trần Thị Tĩnh - con gái thứ hai của Hưng Đạo Đại Vương). Bà là vợ tướng quân Phạm Ngũ Lão, đã có công giúp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và chồng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược.

4. Bà chúa Thác Bờ (tên thật là Đinh Thị Vân), con gái một gia đình tộc trưởng người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình) đã có công giúp vua Lê Thái Tổ vận chuyển quân qua sông, dẹp loạn ở đèo Cát Hãn (Mường Lễ-Sơn La) .v.v…

5. Ở Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân – người có công lập lên trang An Biên (tiền thân của thành phố Hải Phòng) và giúp Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán, trấn thủ Hải Tần, được Vua Trưng phong chức Trưởng quản binh quyền, tước vị Thánh Chân Công chúa cũng được dân gian địa phương tôn làm Thánh Mẫu với đền thờ chính là Đền Nghè, chùa Vẻn (phối thờ), đình An Biên. Tại núi Voi, huyện An Lão Công trình tu bổ, tôn tạo đền thờ Nữ tướng Lê Chân (vốn trước đó Bà được phối thờ trong chùa Hang dưới chân núi) được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2013 trở thành một Di tích lịch sử của Thành phố nhằm tưởng niệm nữ tướng Lê Chân. Nơi đây được xem là căn cứ hậu cần, tích trữ lương thảo và rèn luyện  nghĩa quân xưa của Nữ Tướng.

Với việc trấn thủ vùng ven biển Đông Bắc, chú trọng chăm lo đời sống nhân dân, khuyến khích nghề nông, khai mở trang ấp, đoàn kết quân – dân Hải Tần để bảo vệ vùng ven biển nên nữ tướng Lê Chân được người Hải Phòng tôn thờ như Thành Hoàng bản thổ.

Tại Hải Phòng trong 3 dịp lễ trọng: Ngày 8-2 (âm lịch) ngày sinh của bà; ngày 15-8 (âm lịch) ngày thắng trận; ngày 25-12 (âm lịch) ngày mất của bà, nhân dân đều tổ chức cúng tế long trọng. Đặc biệt Lễ hội Nữ tướng Lê Chân vào tháng 2 âm lịch hàng năm bây giờ đã trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia của thành phố.

Nữ tướng Lê Chân được nhiều vùng trên miền Bắc tôn thờ. Tại căn cứ Lạt Sơn xưa (thuộc Hà Nam) - nơi bà tổ chức chiến đấu đến cùng chống quân Mã Viện và tử tiết, có ngôi đền thờ vị nữ tướng anh hùng quanh năm khói hương. Nơi đây trên vách đá thung Bể còn lưu lại ba tấm bia niên đại năm 1671 - 1672 triều vua Lê Gia Tông thời Hậu Lê suy tôn nữ tướng với những danh hiệu cao quý. Bia nói đến việc xây chùa Thánh Chân (khởi nguồn là Tiên động Thánh Chân), một bia có khắc hình con hổ, gợi liên tưởng đến sự dũng mãnh của nữ tướng Lê Chân, điệp thêm sự tôn kính, nâng Bà lên hàng Thánh Mẫu, Phật Mẫu.

6. Còn một nhân vật lịch sử khác là Vũ Quyến Hoa đã giúp Ngô Vương Quyền lo quân lương, hậu cần, góp phần vào chiến thắng Bạch Đằng năm 938, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của nước ta. Bà được Ngô Vương phong Vũ Quận Chúa Quyến Hoa và được nhân dân tôn làm Vũ Quyến Hoa công chúa, coi là Chúa Ngũ phương cai quản 5 phương trời đất trong tín ngưỡng dân gian. Nếu chúng ta biết rằng bà Bùi Thị Từ Nhiên, người đã giúp Hưng Đạo Đại Vương lo quân lương trong trận Bạch Đằng năm 1288 chống quân Nguyên Mông thắng lợi và được ông phong Nữ tướng cũng không được dân gian tôn xưng như vậy thì đủ thấy Chúa bà Vũ Quyến Hoa có vị trí thế nào trong tâm thức dân gian.

Bà Vũ Quyến Hoa sinh ra trong một gia đình họ Vũ tại làng Gia Viên (xưa có tên là làng Cấm), nay thuộc quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Nhờ tài đảm lược, bà được Ngô Vương Quyền trao quyền cai quản toàn bộ quân nhu tại căn cứ Gia Viên quê bà trong trận thủy chiến chống quân Nam Hán xâm lược. Ngày thác của Chúa là ngày 16 tháng 6 (ÂL) khoảng năm 939 – 944.

Năm 1924, vua Khải Định sắc phong cho bà là “Vũ quận Quyến hoa Công chúa Tôn Thần”

Theo thần tích, bà là một vị tiên nữ trên Thiên Đình, được giáng trần để giúp nước, che chở cho dân. Khi mất, bà hồi tiên và được Thiên tiên Thánh Mẫu giao quyền cai quản năm phương trời đất, bản cảnh bản xứ ngũ phương vậy nên được dân gian tôn xưng là Bà Chúa Quận Năm Phương (hay còn có tên khác là Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa). Người ta thờ Chúa Bà Ngũ phương ở nhiều nơi trên đất Hải Phòng như chùa Cấm tên chữ là Cấm Giang Bản Cảnh Linh Từ hay Nguyệt Quang Tự. Nơi đây ngoài thờ Phật, trong hậu cung bản tự có tượng Chúa Bà rất đẹp, uy nghiêm trong trang phục màu trắng; Đền Tiên Nga ở phố Lê Lợi hay đền Chúa Bà Năm Phương ở Đồ Sơn tại ngõ 155 phố Suối Rồng, khu 1 quận Đồ Sơn; Đền Bảo Phúc tại 12 - phố Trần Phú. Đây là một ngôi đền nhỏ hiện nằm trong khuôn viên của khách sạn Habeview. Ngôi đền này mới được xây dựng trên cơ sở một ngôi miếu thờ Chúa Năm Phương; Ngôi đền tại số 1 - phố Lê Hồng Phong: Trước đây chỉ là một miếu thờ nhỏ thờ Chúa Năm Phương, sau thành ngôi đền đẹp do một công ty xây dựng phát tâm công đức khi được cấp mảnh đất xây dựng trung tâm thương mại tại đây. Ngoài ra, ngôi miếu nhỏ dưới tán cây đa 13 gốc thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, nơi tương truyền bà về ngự khi đền thờ bà ở ngã 3 vườn hoa Chéo bị phá bỏ cũng quanh năm có khói hương thờ cúng.

Ngày 16/6 âm lịch là ngày thánh hóa của bà Vũ Quận Quyến Hoa. Vào ngày này, các đềnthờ Chúa Bà Năm Phương đều tổ chức tế lễ. Cần nói thêm, tại những nơi thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền, nhân dân đều phối thờ cả Vũ Quận chúa Quyến Hoa.

Vũ Quận Quyến Hoa được xếp vào hàng thánh cô trong Tứ Phủ Chầu Bà. Trong các giá hầu tại Hải Phòng và một số vùng lân cận, người ta thường thỉnh bà trước giá Chầu Năm suối Lân (một Thánh Cô thuộc Sơn trang Thượng ngàn). Y phục của Chúa Bà Ngũ phương trong giá hầu đều có mầu trắng (kể cả cỗ xe tay mà bà ngự theo giai thoại). Có lẽ vì vậy dân gian còn gọi Bà là Bạch Hoa Công chúa.

Có một người phụ nữ thời nhà Mạc cũng được người dân Hải Phòng và vùng phụ cận thời đó coi như Mẫu nghi thiên hạ, Phật sống ở trần gian, đó là Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn - chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Tên tuổi của Bà đã xuyên suốt cả 3 đời vua đầu khi nhà Mạc thịnh trị. Bà là người làng Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng nay - một người có lòng nhân ái, mộ đạo Phật.

Theo cứ liệu lịch sử: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời, Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật. Nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Theo cứ liệu lịch sử: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời, Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật. Nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Thái Hậu “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành Nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn – nhà Hạ” như văn bia thời Mạc ghi việc trùng tu chùa Bảo Lâm, xã Trâu Bộ, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. (Bia  tạo tháng Giêng năm Kỷ Mùi, niên hiệu Quang Bảo thứ 5 (1559), triều vua Mạc Phúc Nguyên.

Vào năm 1562, khi vương triều Mạc còn thịnh, Thái Hoàng Thái Hậu đã kêu gọi các hoàng thân quốc thích trong Hoàng tộc khác cùng đóng góp, dựng nên ngôi chùa Thiên Phúc ở làng Hòa Liễu và mấy chục chùa khác ở các nơi. Bà cũng là người có công lập ra ấp Lan Niểu, nay là làng Hòa Liễu xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy và lập ra hội Minh Thệ (thề trong sáng, ngay thẳng) mà hiện nay người dân địa phương vẫn kế thừa được. Đây được coi là lễ hội chống tham nhũng độc đáo duy nhất ở nước ta và là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.

Riêng tại Hòa Liễu, bà xuất tiền mua 25 mẫu 8 sào ruộng cúng Tam bảo. Nhiều vị trong hoàng tộc hưởng ứng, số tiền quyên góp dư ra để mua 47 mẫu 3 sào. Từ số ruộng đó, làng cho nhà chùa 4 mẫu để cày cấy, còn lại làm ruộng công để dùng cho người có nhu cầu “đấu thầu” để canh tác. Những người nhận ruộng công sẽ phải trả lại một phần hoa màu để làm một “quỹ” dự trữ dùng vào việc cứu đói, giúp người nghèo, người cô đơn, quả phụ. Việc làm này có ý nghĩa nhân văn rất lớn, được nhân dân ghi nhớ, biết ơn.

Ngày 15/6 âm lịch hàng năm là ngày giỗ của bà. Để tưởng nhớ công đức của Thái Hoàng Thái Hậu, dân làng Hòa Liễu và chính quyền địa phương hiện nay đều tổ chức cúng tế long trọng. Người dân Hòa Liễu tôn thờ bà cùng Long Vân Thiên quan Đại vương như hai vị Thành Hoàng bản thổ.

Bà Vũ Thị Ngọc Toàn là người có nhiều công lao nhất trong các thành viên hoàng tộc nhà Mạc khi hưng công, xây dựng chùa chiền và hoằng dương Phật pháp. Bà được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Tổng cộng, Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng tiền bạc cho trên chục ngôi chùa ở Hải Phòng và các tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh…

Bà quả là một người đã dốc toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo dưới triều Mạc.Với những công lao nói trên, bà được dân gian tôn xưng là “Mẫu nghi thiên hạ”, “Phật sống giữa trần gian”. Bà còn được nhân dân, tín đồ Phật tử nhiều làng xã tạc tượng chân thân để tôn thờ trong các chùa chiền, đền, miếu với nhiều tư cách khác nhau, như hậu Phật, sư Tổ, hậu Thần, thành hoàng, thánh Mẫu…

Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan Âm. Đến nay, một số chùa ở Hải Phòng và một số nơi còn lưu giữ được nhưng pho tượng Hậu Phật bằng đá (tương truyền là chân thân của Bà). Đó là hình tượng một người phụ nữ nông thôn ngồi bình thân, mình đậm đà, đầu đội mũ vành cao, trang trí hoa dây, khuôn mặt sáng láng toát lên vẻ phúc hậu. Đây là tượng Hậu Phật được tôn lên hàng Quan Âm.

Dù được dân chúng Hải Phòng nói riêng và xứ Đông nói chung tôn sùng như vậy nhưng bà Vũ Thị Ngọc Toàn lại không được triều Nguyễn phong sắc, có lẽ vì triều Mạc bị các sử gia phong kiến coi là ngụy triều (cướp ngôi nhà Lê) chăng?.

Những nhân thần hiển Thánh trong quan niệm dân gian này thường được người ta thỉnh trong các giá hầu thánh tại các đình, đền, phủ có thờ Tam phủ, Tứ phủ hoặc bản điện tư gia.

Tín ngưỡng thờ Mẫu đóng vai trò quan trọng trong việc dung nạp các tín ngưỡng thờ thần nữ ở nước ta và góp phần hòa đồng các tín ngưỡng, tôn giáo như Thánh, Thần, Phật…với mục đích phù hộ độ trì cho con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng bản địa (do người Việt sáng tạo nên) còn có sự ảnh hưởng ngược lại đối với tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Công giáo…Tuy nhiên phải nhận thấy rằng, chỉ có tôn giáo nào gần gũi với quan điểm sống và nhận thức người Việt Nam như đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho mới được dung nạp đồng nguyên trong việc thờ phụng. Trong chùa, ngoài việc thờ Phật người ta còn thờ cả Tam tòa Thánh Mẫu và tòa Sơn Trang và ngược lại, tại đình, đền, phủ, ngoài việc thờ thần người ta cũng thờ cả Phật và đôi khi cả Thánh đạo Nho, Lão như Khổng Tử, Lão Tử. Tuyệt nhiên không thấy đâu trong những nơi này lại thờ cả Chúa Ki Tô hay Thánh A-La đạo Hồi. Đó chính là bản sắc riêng độc đáo của văn hóa tín ngưỡng người Việt.

Phạm Văn Thi, Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng.

Video Tổng Hợp

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay144
mod_vvisit_counterHôm qua173
mod_vvisit_counterTất cả108788