Về 2 tấm bia cổ được cho là của Trạng Trình.

alt

(Ảnh hai tấm bia được Tiến sỹ Nguyễn Văn Vịnh công btrên mạng và chia sẻ với bạn bè).

Vừa qua các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội sôi nổi đưa tin, trao đổi về việc “Nhóm nghiên cứu khoa học xã hội độc lập” của TS Nguyễn Văn Vịnh (Chủ nhiệm khoa Khoa học cơ bản, Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, kiêm Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Giáo dục thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) đã phát hiện ra hai tấm bia cổ được cho là từ thời nhà Mạc, với di ngôn của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại khu Cống cá bãi triều, thôn Thanh Trì, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng.

Xin nói thêm: Nhóm nghiên cứu khoa học xã hội độc lập” được tổ chức trên cơ sở tự nguyện gồm những người hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trên nguyên tắc không vụ lợi, nhằm nghiên cứu, trao đổi, hợp tác và chia sẻ thông tin trong các lĩnh vực khoa học xã hội nói chung, đặc biệt quan tâm những vấn đề thuộc Lịch sử, Dịch học, Phong thủy… Nhóm gồm các nhà nghiên cứu trong nước kết hợp với “Ngũ độn tẩu” (Năm người già ở ẩn, toàn những Cụ ngoài tám mươi và gần chín mươi tuối) - người Việt tại Pháp, những học giả có nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy tại Viễn Đông Bác cổ Paris và các đại học tại Pháp về Hán ngữ cổ và Phương Đông học. Từ 5 năm nay nhóm tập trung vào giải mã các dự ngôn của Á Đông. Qua đó tìm ra các phương pháp cổ nhân trước tác các dự ngôn, sấm thư, vĩ thư.

Ngày 06/05/2018 nhóm Nghiên cứu Khoa học độc lập (NCKHXHĐL) của TS. Nguyễn Văn Vịnh đã về thôn Thanh Trì, xã Kiến thiết  huyện Tiên Lãng, Hải Phòng khai quật được hai tấm bia đá cổ với kích thước: Cao 39cm, rộng 28cm, dày 8cm có nhiều chữ nho, nghi là của cụ Trạng Trình.

TS. Nguyễn Văn Vịnh cho biết: Để làm việc này, Tiến sỹ Vịnh đã thông qua lãnh đạo cấp cao nhất của thành phố và báo cáo công an huyện Tiên Lãng, lãnh đạo xã Kiến Thiết.

Điều đáng nói, 2 bia đá trên không phải được tìm thấy một cách tình cờ mà bằng nhiều phương pháp khác nhau, từ khảo cứu các bản chính văn  như: Cự ngao đới sơn, Ngụ hứng (cận thủy…), Ngụ hứng (thập nhị phong), Quy lão ký Lại bộ Thượng thư Kế khê bá, Trừ tịch tức sự, Xuân đán cảm tác, Lô hương ký… ), sấm ký và những câu đồng dao, thơ ca lưu truyền trong dân gian; kết hợp với rất nhiều lần đi nghiên cứu thực địa tại hai huyện Vĩnh Bảo và Tiên Lãng, tới các nơi như: Ba Đa, Ba Đồng, Chùa Đót, Thanh Trì, thôn Hà Dương, chùa Hoa Am…

Tóm tắt sự kiện tìm ra 2 bia đá: Sáng 06/05/2018 (tức 22 tháng 3 năm Mậu Tuất), Nhóm nghiên cứu trong nước do Tiến sỹ Nguyễn Văn Vịnh dẫn đầu khảo sát tại khu vực Cống Cá thôn Thanh Trì, xã Kiến thiết (Giờ bắt đầu khảo sát là giờ Bính Thìn, Ngày Mậu Tuất của Tháng Bính Thìn Năm Mậu Tuất). Sau hơn hai giờ đã tìm được 02 bia đá. Một cụ ông thạo chữ Nho trong thôn được mời ra đọc. Cụ cho biết, đây là bia liên quan tới mộ phần Trạng Trình và các vua nhà Mạc. Sau khi chụp ảnh các chi tiết cần thiết phục vụ cho nghiên cứu, bia được niêm phong và giao cho Ủy ban xã Kiến Thiết bảo quản. Chính quyền địa phương sau đó đã báo cáo sự việc lên cấp trên và các ngành hữu quan.

Qua đánh giá ban đầu cho thấy: đây không phải loại bia thường đặt trước mộ hay đình chùa, mà là hai tấm bia được làm để chôn xuống đất nhằm bí mật chuyển tải di ngôn của người làm bia cho hậu thế. Chữ trên bia là chữ cổ, có lẽ do làm bí mật, phải dùng thợ khắc yếu tay nghề nên chữ xấu, rất khó đọc.

Ngày 18/5/2018, Sở Văn hóa-Thể thao Hải Phòng đã có công văn đề nghị UBND Thành phố Hải Phòng cho dừng nghiên cứu về hai tấm bia tìm thấy, cho rằng đó là bia trôi nổi, không rõ nguồn gốc và nhóm nghiên cứu khoa học độc lập của TS. Nguyễn Xuân Vịnh đã vi phạm Luật Di sản khi tự ý tiến hành hoạt động khảo cổ học mà không báo cáo, xin phép cơ quan chức năng theo luật định.

Trước các phản ứng gay gắt của công luận và các nhà nghiên cứu, nhà sử học và những ý kiến, đề nghị tích cực của Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Hải Phòng, sự can thiệp của Văn phòng Chính phủ, UBND thành phố Hải Phòng đã giao cho Sở Văn hóa-Thể thao thành phố phối hợp với chính quyền địa phương huyện Tiên Lãng tiến hành các bước thẩm tra theo luật định, báo cáo UBND thành phố để có giải pháp phù hợp.

Ngày 12/9/2019 Sở VHTT Hải Phòng và Liên hiệp các hội khoa học & Kỹ thuật thành phố Hải Phòng tổ chức Hội thảo về hai tấm bia đá trên. Tuy chưa có biện pháp khoa học hiện đại để xác minh, nhưng đa số các đại biểu đều tin rằng đó là hai bia của cụ Trạng để lại cách đây hơn 400 năm. Nếu những nhận định bước đầu trên được khẳng định rõ ràng, 02 bia đá cổ trên sẽ rất quý, rất có giá trị về nhiều mặt: Lịch sử, văn hóa, rất có thể sẽ là chìa khóa để giới khoa học, học giả, sử học mở ra nhiều điều bí ẩn về Cụ Trạng, về một giai đoạn lịch sử của đất nước ta.

Với lòng ngưỡng mộ Trạng Trình và sự quan tâm đến Di cảo của Danh nhân Văn hóa kiệt xuất này, các nhà nghiên cứu Hán ngữ và dịch thuật trong và ngoài nước đã cẩn trọng dịch các nội dung văn khắc trong hai bia và bước đầu khẳng định, đây có thể là lời nhắn gửi thật sự của Trạng Trình cho hậu thế (cần đợi các phương pháp khoa học tiếp theo để khảo cứu). Có thể nói đây là sự kiện rất kỳ lạ trong khoa học, pha chút “ bí ẩn” tâm linh. Phải chăng thời điểm để bia đá phát lộ và những người trong nhóm nghiên cứu đã được sự xắp xếp “linh diệu” của Cụ Trạng Trình từ hơn 400 năm trước (?)

Về dư luận cho rằng bia được làm giả, không rõ nguồn gốc, theo ý kiến của một chuyên gia Hán Nôm nổi tiếng, đã từng nhiều lần đi điền dã thực địa để nghiên cứu, dịch thuật bia cổ cho rằng:

Trường hợp của 2 bia này, chất liệu đá xanh cứng, được lưu giữ ở địa tầng sâu, ổn định, nhiệt độ mát mẻ, luôn ngậm nước (theo tôi biết là dưới tầng phù sa ven sông Hàn). Cụ Trạng Trình lại chọn được huyệt đất kết (có thể tầng sâu có tính dưỡng thi), yếm khí….nên bia có được tình trạng bên ngoài còn tốt như vậy là điều dễ hiểu. Hơn nữa, ở câu cuối tấm bia “Di ngôn chí” ghi rằng: “Trấn trạch triệu cát địa bi” (Bia trấn nơi đất tốt để đặt mộ) càng làm rõ thêm nhận định nói trên.

Hơn nữa, kể cả người không có nghề, dễ nhận thấy chữ khắc trên 2 tấm bia không phải của thợ lành nghề chuyên san khắc bia (thường ở kinh đô, hay xưởng in khắc của nhà nước), mà là của thợ vườn trong hương xóm. Nét chữ gãy, vụn, nhiều chữ thiếu nét, sái niêm luật. “Mới đầu, đây là điều tôi rất nghi ngờ có sự giả mạo, nhưng khi dịch xong đoạn văn: “Diên Thành bát niên đại thử tiết đồ mật san” thì tôi chợt hiểu ra tất cả.

Đoạn ấy có nghĩa là: “Đồ đệ (học trò của Cụ) bí mật khắc (bia) từ tiết Đại thử, năm Diên Thành thứ 8 (1585)”. Học trò tin cẩn của Cụ (không có nghề) tự khắc bia đá, mà lại phải bí mật (vì sợ lộ chỗ chôn cất vua Mạc và Trang Trình); hơn nữa, diện tích mặt bia quá nhỏ, số chữ lại nhiều, làm cho vỡ đá, thiếu nét, chữ xấu vụng là lẽ đương nhiên, chỉ miễn sau này đọc rõ, hiểu được thì thôi!

Ngày 28/5/2020, sau hơn 2 năm sau khi tìm được, nặng lòng với Di ngôn Trạng Trình Liên hiệp các hội KHKT Hải Phòng tiến hành tổ chức tọa đàm khoa học về 2 tấm bia được tìm thấy nhằm xem xét thêm những báo cáo nghiên cứu của các học giả, chuyên gia khoa học Lịch sử được mời tham gia tìm hiểu về 2 tấm bia trong cuộc hội thảo ngày ngày 12/9/2019.

Sau đây, xin giới thiệu một trong những bản dịch của các nhà nghiên cứu trong cuộc tọa đàm, đó là bài nói của ông Hoàng Phan – một trong những người có nhiều năm nghiên cứu về Trạng Trình. Ông hiện cư trú tại số nhà 106, khu Mùng 3 tháng 2, thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng:

“Xét về nội dung hai tấm bia đá, chúng ta thấy được sự uyên thâm của vị Trạng Nguyên triều Mạc. Người không chỉ dự báo chính xác về tương lai 400 năm sau cho con cháu mà còn chỉ dẫn cho thế hệ sau con đường đi tới, không chỉ nhắc nhở cháu con bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ mà còn chỉ ra con đường chấn hưng đất nước. Tình cảm của cụ đối với các vị vua triều Mạc, lòng trung trinh, nghĩa quân thần trong lịch sử thế giới từ cổ chí kim không ai sánh nổi. Để minh oan cho vua Mạc Đăng Dung cùng với nhà Mạc, Cụ đã dùng trên 400 năm ẩn táng cùng các vị vua Mạc, dùng 400 năm anh linh của mình làm minh chứng giải oan cho nhà Mạc, trên thế giới không có ai làm được việc như thế. Cụ viết: “Khởi tạo nghiên trụ tất/ Ngã cầu Mạc đắc chiêu/Tam đế mau phụ lý/ Dương hương Hạ Đồng thôn” (Đời sau tất có lời đồn đại nói xấu vua Mạc như vua Trụ, ta muốn đời sau nhà Mạc được sáng tỏ nên di dời long cốt của ba vị vua Mạc về quê vợ ta là làng Lý Dương, thôn Hạ Đồng)”.

Hai tấm bia đá đã chỉ rõ: Cụ đã di dời ba vua Mạc về ẩn thân với mình tại bờ Ao Dương đất Hạ Đồng hơn 400 năm qua và di dời vị vua Mạc thứ tư là Mạc Tuyên Tông về bờ đê Tiên Lãng. Đó là các vị vua Mạc mất trước khi Cụ mất”....

“Mỗi một bia, Cụ chia ra các phần có nội dung, ý nghĩa khác nhau, bia đá thì nhỏ, lượng thông tin gửi lại cho thế hệ sau lại nhiều, tôi cho rằng, đây là một việc làm nghiêm túc và hết sức khoa học của một con người đầy trí tuệ”.

Xin giới thiệu về 2 bia đá:

I- Bia số 1 có bài Di ngôn chí: 1. Mặt trước bia chia làm 3 phần:

a) Phần chính giữa là bài Di ngôn chí; b) Phần chỉ dẫn của Cụ Trạng gồm 2 cột ngoài cùng bên trái bia; c) Phần ghi tác dụng của bia đá

  a) PHẦN “DI NGÔN CHÍ”

貽言志

DI NGÔN CHÍ

  雲還始四百年

Bạch vân hoàn thủy tứ bách niên

雪江墳 嶼 化左田

Tuyết giang phần dữ hóa tả điền

適時來生尋的穴

Thích thời lai sinh tầm đích huyệt

清持皇族墓復原

Thanh trì hoàng tộc mộ phục nguyên

傘神選 諦為 心  梵

Tản thần tuyển đế vi tâm phạn

沱靈南替伯聖明

Đà linh Nam thế bá thánh minh

北狂西怒東海變

Bắc cuồng Tây nộ Đông hải biến

戊戌 新君越建榮

Mậu tuất tân quân Việt kiến vinh.

Nhận xét: Đây là thể thơ thất ngôn bát cú, làm theo lối “cổ phong”, không quá câu nệ, gò bó vào niêm luật, chỉ cốt chuyển tải ý tứ, với ngôn từ hàm súc, đa nghĩa, có tính dự ngôn; buộc phải giải nghĩa bằng các phép “đồng âm thông giả” và ” đồng nghĩa/ chuyển chú”.

Trước tiên, với nghĩa thực (nghĩa “đen”), tiêu đề “DI NGÔN CHÍ” nghĩa là “Để lại chí hướng bằng lời di ngôn”; nhưng hàm nghĩa của nó đầy đủ hơn nhiều.

Giải nghĩa Di ngôn chí:

- Câu thứ nhất: Bạch Vân (mây trắng), sau 400 năm lại trở về như thủa xưa. Hình ảnh Bạch Vân cư sĩ là anh linh của Cụ lại hiện về khi tìm thấy bia mộ.

- Câu thứ hai: Gò mộ cao bên trái dòng sông Tuyết giang xưa nay đã hóa cánh đồng (trong một bia đá Cụ còn gọi đây là Thiên Vực, có thể xưa là gò cao bên một cái ao sâu)

- Câu thứ ba: Đến thời sau, vào lúc thích hợp, con cháu sẽ tìm thấy nơi mộ huyệt này.

- Câu thứ tư: Tại làng Thanh Trì, khu mộ của dòng họ lớn (Cụ dùng chữ Khổng tộc) – ta hiểu đây là họ lớn, họ của vua Mạc, không phải họ Nguyễn của Cụ, sẽ được khôi phục lại.

- Câu thứ năm: Thần núi Tản Viên đã lựa trọn vua Mạc là người hiền đức, mang tâm của Phật làm vua (chữ “Đế” có bộ ngôn và chữ “Phạn” đều mang hàm ý đó. Chữ “Đế” trong tứ diệu “Đế”, “Phạn” trong mô phạm. Song chữ “Đế” ở đây cũng ngầm chỉ vua Mạc Đăng Dung trong từ “Tuyên đế”.

- Câu thứ sáu: Có người dịch: Linh khí thần sông Đà thay kẻ vương bá hủ bại bằng bậc thánh minh. Ông Hoàng Phan thì dịch: Sông Bạch Đà (là nơi ẩn cốt của vua Mạc và thánh minh là Cụ). Chữ “Bá” cũng hiểu là chữ “Mạc”, mộ. Sông Bạch Đà cắt ngang huyện Vĩnh Bảo chứ không phải sông Đà ở Hòa Bình, một đầu thông với sông Tuyết giang giáp Tiên Lãng, một đầu đổ ra sông Hóa giáp Thái Bình. Có câu Sấm “Đà Giang nhị khẩu” là vậy. Con sông này có từ thời cổ, nghe truyền lại tới thời Mạc được chính Cụ Trạng cho khơi rộng và sâu thêm, Cụ đặt tên cho sông là Bạch Đà, nhờ đó tạo ra vùng buôn bán giao thương sầm uất khu Cống Hiến kéo dài tới thời Nguyễn. Ai đã tới chùa Đông Hội thuộc xã Liên Am, bên cạnh sông Bạch Đà sẽ thấy câu đối cổ trước cửa chùa:

Ngoại cảnh Đà giang ngư thỉnh kệ

Tiền Đình cổ thụ điểu văn kinh

(Cá ngoài sông Đà nghe thỉnh kệ/ Chim trên cành trước lắng nghe kinh)

- Câu thứ bảy: Trung Quốc ngông cuồng (làm cho) Mỹ và Tây Âu giận dữ, (vì thế) biển Đông có biến loạn.

Trong bài thơ Cự ngao đới sơn 500 năm trước, Cụ vẫn lo cho đất nước hôm nay. Ai đã từng đọc bài Cự ngao đới sơn mới hiểu được nỗi lòng yêu giang sơn bờ cõi , tầm nhìn chiến lược của Cụ về Biển Đông:

Vạn lý Đông Minh quy bả ác

Thiên niên Nam cực điện long bình.

Dịch:

Biển Đông vạn dặm giang tay giữ

Đất Việt ngàn năm vững trị bình

- Câu thứ tám: Năm Mậu Tuất (có lẽ năm 2018) xuất hiện bậc anh quân (vua sáng). Chữ “Anh” có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa hai núi chồng nhau (núi kép) anh quân: Vua kép (hai trong một)

b) Phần chỉ dẫn của Cụ Trạng (gồm 2 cột bên trái bia)

Dịch nôm: VỰC TÀNG NHẬP TRI DƯƠNG NGOẠI LÝ KỶ HỢI NHẤT KHỞI HIỆN LAI SINH THIÊN CƠ TẤT ĐẠT.

Trong đó: Chữ VỰC hơi bị mờ, gồm chữ “Thổ” và chữ “Hoặc”. Khu mộ (của ta cùng ba vua), ở đây Cụ dùng chữ “Vực” nghĩa là khu, không phải một chiếc) không ở nơi này, năm Kỷ hợi nhất định sẽ khởi hiện sống lại, thiên cơ sẽ phát lộ. “Sống lại” ở đây cần hiểu là anh linh của Cụ được phục sinh.

b) Phần C: Phần ghi tác dụng của bia đá

Dịch nôm: LAI DUYÊN VI SẤM PHỤC VIỆT TỘC

                   TRẤN TRẠCH TRIỆU CÁT ĐỊA BI.

Duyên tới khôi phục lại dân tộc Việt Nam (Hiểu ngầm: Có lẽ Cụ còn có kế sách khác để lại giúp việc chấn hưng nước Việt, đang để ở đâu đó)

Đây là bia trấn trạch đất tốt.

2. Mặt sau bia số 1: Là đôi câu đối (Theo tôi đó cũng là lời tiên tri của Trạng)

Dịch nôm:

KHỨ THIÊN NIÊN ĐINH HOÀN ĐINH HỘ QUỐC

LAI SÁNG THẾ VIỆT BÁ VIỆT HỮU BANG.

Chúng ta chú ý cặp đối ĐINH HOÀN ĐINH với VIỆT BÁ VIỆT. Có ý kiến cho rằng chữ “VIỆT” trong từ Việt cổ xưa . Chữ đó là chữ “VIỆT” mới hợp với câu đối của Cụ. Đây là một câu sấm khó giải cho gãy nghĩa, chúng tôi tạm hiểu là nhà Đinh đã mở ra một thiên niên kỷ (1000 năm) đã qua, chúng ta đang bước vào một thiên niên kỷ mới vẻ vang hơn (“sáng thế”). Ở đây có thể Cụ còn muốn gửi gắm những ý nào đó trong cặp đối “Đinh hoàn Đinh “ với “Việt bá Việt” mà chúng ta còn phải giải mã tiếp.

Đọc những lời này chúng ta tin rằng nước Việt Nam ta đang sắp bước vào một thiên niên kỷ mới. Từ thời Đinh Tiên Hoàng tới nay là một thiên niên kỷ, có thể từ bây giờ tới ngàn năm sau là thiên niên kỷ tiếp theo rạng rỡ hơn.

II - Bia thứ 2:

Dịch nôm:“Mạc triều Duệ Hoàng đế đồng tông Nguyễn Công Văn Đạt chi cửu nguyên” (Khu mộ của Duệ Hoàng đế và tông tộc nhà Mạc, cùng với Nguyến Công Văn Đạt).

Đây là bia mộ của vua Mạc Phúc Nguyên và dòng họ của Cụ (Thực ra trong bia chỉ nói tới nhà Vua và Hoàng hậu, khôn nói tới con cháu của Cụ).

Bia số 2 này, theo nội dung được chia làm 5 phần, có nội dung khác nhau.

a) Cột chính giữa (Bia mộ)

b) Niên đại, thời gian khắc bia, người soạn, người khắc (2 cột ngoài cùng bên trài, phía trên)

c) Bài thơ nói về việc di dời long cốt 3 vị vua Mạc về làng Lý Dương , thôn Hạ Đồng, (gồm 4 cột bên trài bia, phía dưới).

d) Phần nói về quá trình di dời long cốt của Vua và hài cốt của Hoàng hậu Nam Phương, phu nhân Uyển Nhân về thiên vực tại Tiên Lãng.

e) Phần sơ đồ khu mộ Vua và Hoàng hậu.

DIỄN GIẢI:

a) Cột chính giữa (Bia mộ của vua Mạc Tuyên Tông)

Phiên âm: Mạc triều Duệ Hoàng đế đồng tông Nguyễn Công Văn Đạt chi cửu nguyên

Dịch nghĩa: Đây là khu mộ của vua Mạc Tuyên Tông và dòng họ nhà ông Nguyễn Văn Đạt (Tên húy của Cụ Trạng Trình).

b) Về niên đại và người khắc: Dịch nôm: “Diên thành bát niên đại thử tiết đồ mật san trí sĩ Trung Am hương Nguyễn lão soạn” (Bia làm vào tháng 6 năm Diên thành thứ 8 (1585), do cụ già nghỉ hưu thôn Trung Am soạn (tức cụ Trạng), học trò bí mật khắc. (Chú ý rằng Cụ mất vào tháng 11 năm đó). Học trò của Cụ bí mật khắc dĩ nhiên là không được đẹp bằng các thợ chuyên nghiệp được. Đây cũng là lý do làm cho nhiều ý kiến nghi ngờ, thậm chí cho là bia ngụy tạo. Nhưng nếu để ý tới bố cục và nội dung của 2 bia, ta thấy rằng những kẻ phàm tục muốn làm giả cũn không nổi.

c) Bài thơ nói về việc di dời long cốt 3 vị vua Mạc về làng Lý Dương , thôn Hạ Đồng:

Phiên âm: KHỞI TẠO NGHIÊN TRỤ TẤT

                   NGà CẦU MẠC ĐẮC CHIÊU

                       TAM ĐẾ MAI PHỤ LÝ

               DƯƠNG HƯƠNG HẠ ĐỒNG THÔN.

Dịch nghĩa: - Đời sau tất xảy ra chuyện đồn đại nói xấu vua Mạc như vua Trụ.

Đoạn này có mấy chữ hơi mờ, phải nhìn kỹ mới đọc được như các chữ “Khởi tạo nghiên trụ”, “Dương hương Hạ Đồng thôn”. Chữ “Đồng” ở đây dùng chữ “Đan” và bộ sam.

- Ta mong muốn đời sau nhà Mạc được sáng tỏ nên di dời long cốt của 3 vị Vua về quê vợ ở làng Lý Dương, thôn Hạ Đồng. (3 vị vua Mạc ở đây là Thái Tổ Mạc Đăng Dung (mất năm 1541), Thái Tông Mạc Đăng Doanh (mất năm 1540), Hiển Tông Mạc Phúc Hải (mất năm 1546).

Còn vị vua thứ tư là Tuyên Tông Mạc Phúc Nguyên (mất năm 1561) Cụ di dời về bờ đê thôn Thanh Trì , xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng (nơi nhóm Nghiên cứu KH Xã hội độc lập của TS. Nguyễn Văn Vịnh đã tìm thấy) 2 bai đá. Tới năm 1585 Cụ mới mất.

d) Phần nói về quá trình di dời long cốt của Vua và hài cốt của Hoàng hậu Nam Phương, phu nhân Uyển Nhân về thiên vực tại Tiên Lãng.

Phần ghi bên phải và bên trái của cột giữa bên trên (Bên phải có 3 dòng, bên trái có 2 dòng) chữ nhỏ, hơi mờ, có nội dung như sau:

- Bên phải:

TAM NHẬP PHÓ BỘ CHI HẬU NGÃ ĐẮC LAI

PHẦN HỢP LONG DĨ CHỦNG HÀNH KHOẢNH THIÊN VỰC
TẨU DĨ KHUÔNG PHÙ NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU LIÊM.

- Bên trái:

PHU NHÂN UYỂN NHÂN THẬP SƯ BẢN NGUYỄN NHỮ

PHẠM THỊ BÀO AM HƯƠNG CHI BỘ TỬ TÔN.

Dịch nôm: Ta đã 3 lần về kinh phò Vua và Hoàng hậu Nam Phương cùng với phu nhân Uyển Nhân đưa về khu gò cao nơi đây chính là thiên vực để an táng.

(Phu nhân Uyển Nhân vốn là người họ Phạm, làng Bào Am, làm trong phủ họ Nguyễn Nhữ , được tiến cử về kinh làm thứ phi, khi mất được cụ Trạng đưa hài cố về quê ngoại cùng với hài cốt Mạc Tuyên Tông. Có ý kiến cho rằng bà là người đã sinh ra vua Mạc Mậu Hợp vì theo gia phả họ Mạc, Hoàng hậu của vua Mạc Phúc Nguyên là Nam Phương Hoàng hậu không có con trai).

Tại sao cụ Trạng lại gọi gò cao thôn Thanh Trì, xã Kiến Thiết , huyện Tiên Lãng bên bờ đê sông Thái Bình là thiên vực ?. Có thể đó là vị trí cực kỳ quan trọng, mong các nhà phong thủy tiếp tục nghiên cứu.

e) Phần sơ đồ khu mộ Vua và Hoàng hậu:

Bên phải bia, phía dưới là sơ đồ khu mộ của nhà Vua (có chữ “MỘ PHẦN”), và còn 8 chữ khác tôi cho là sơ đồ khu mộ Vua táng tại đây.

Để ý quan sát, ta thấy trên bờ có một số cổ vật, nơi nhóm của TS. Nguyễn Văn Vịnh đã khai quật, có thể là các bia đá, trụ đá chưa khai quật hết...

Bên dưới ruộng có 3 ngôi mộ, riêng ngôi ở giữa có chữ VƯƠNG, tôi nghĩ đó là ngôi mộ của vua Mạc Tuyên Tông, ngôi mộ gần bờ là của Nam Phương Hoàng Hậu, ngôi mộ xa nhất là của Uyển Nhân phu nhân. Trên mỗi ngôi mộ lại có chữ rất khó đọc, mang theo ẩn ý nào đó, rất mong các cao nhân cùng tham khảo.

III – Ý nghĩa và tầm quan trọng của 2 tấm bia đá

Trước tiên phải xin cảm ơn nhóm NCKHXH độc lập của TS. Nguyễn Văn Vịnh đã có công tìm thấy 2 bia đá cổ này, dù cho cách tìm bằng con đường nào đi nữa thì sự hiện hữu của 2 bia đá hôm nay cũng là những chứng cứ khoa học không thể chối bỏ. Những nội dung ghi trên 2 bia đá giúp chúng ta hiểu thêm về một vĩ nhân, đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với một tấm lòng trung quân ái quốc, ưu thời mẫn thế, nhà tiên tri lỗi lạc, hơn 400 năm qua vẫn lo cho dân, cho nước. Người mang chí của bậc quân tử, chứa đức của bậc thánh minh. Câu thơ trong bia “Bạch Vân hoàn thủy tứ bách niên” đã nói lên điều đó.

Căn cứ vào nội dung 2 tấm bia đá này hậu thế chúng ta có thể xác định được nơi an táng của Cụ Trạng cùng với 4 vị vua Mạc và một số người nữa do tự tay Cụ chôn giấu. Biết đâu từ những vị trí đặc biệt này, chúng ta có thể tìm thấy thêm những tư liệu bí mật khác của cụ để lại như kế sách giúp cho dân tộc Việt Nam vươn lên bảo toàn lãnh thổ , phát triển kinh tế, sánh vai với các cường quốc năm châu như lời sấm “Duyên lai vi sấm phục Việt tộc” hay “Lai sáng thế Việt bá Việt hữu bang” đã ghi trong 2 bia...

Hiện nay có một số người chưa hiểu hết về hai tấm bia này , buông lời thô thiển, chụp mũ duy tâm, xúc phạm tới anh linh của Thánh nhân, cho rằng đây là việc làm ngụy tạo. Xin thưa rằng trong thời đại KHKT như bây giờ, không ai có thể ngụy tạo nổi, đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh, càng không có chỗ cho sự gian đối. Xin mượn lời một cao nhân từng nói: “Nếu chỉ biết dùng nhục nhãn và nhục nhĩ thôi sẽ không hiểu nổi ý của thánh nhân”...

Phạm Văn Thi tổng hợp.

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay168
mod_vvisit_counterHôm qua173
mod_vvisit_counterTất cả108812
Hiện có 35 khách Trực tuyến