Thời gian sớm nhất ra đời của đức Phật và 4 thánh tích quan trọng của Phật giáo

alt

Tranh vẽ (Sưu tầm) minh họa vườn Lumbini - nơi đức Phật được hoàng hậu Mayadevi sinh hạ. Ngài đi liền 7 bước và nói câu nổi tiếng “Thượng thiên, thượng hạ - Duy ngã độc tôn”.

Tìm thấy bằng chứng đức Phật xuất hiện sớm hơn chúng ta tưởng:

Năm 2013 báo chí nước ta đồng loạt trích đăng một tin khảo cổ học gây chấn động thế giới khi tại Nepal người ta tìm thấy dấu tích chứng minh đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên (TCN) chứ không phải vào thế kỷ thứ IV TCN như giả thuyết của các nhà nghiên cứu Phật giáo.

Ngày 25/11/2013, nhóm các nhà khảo cổ học thế giới đã công bố việc phát hiện một cấu trúc bằng gỗ chưa từng được biết đến tại ngôi đền Maya Devi tại Lumbini (Lâm Tỳ ni) ở Nepal – một trong những thánh tích Phật giáo thiêng liêng hàng năm thu hút rất đông tín đồ Phật Giáo và khách du lịch hành hương. Đây là đền thờ Hoàng hậu Maya Devi – người đã sinh ra đức Phật. Lumbini vốn bị rừng che phủ trước khi được tái phát hiện năm 1896. Nơi đây ngày nay là một di sản hóa thế giới được UNESCO công nhận.

Nhà khảo cổ học Robin Coningham thuộc ở Đại học Durham (Anh) – người đồng chỉ đạo nhóm khảo cổ quốc tế tại thánh tích Phật giáo này đã nói: “Câu chuyện rằng Lâm Tỳ Ni đã trở thành thánh tích dưới thời của Hoàng đế Ashoka cần được chỉnh lại bởi vì chúng ta đã biết rõ rằng trước đó nơi này đã được trùng tu trong suốt hàng trăm năm”.

Cho đến nay, bằng chứng sớm nhất về các công trình Phật giáo ở Lâm Tỳ Ni có niên đại không sớm hơn thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, ở thời kỳ trị vì của Hoàng đế Ashoka mà các Phật tử Việt Nam gọi là vua A Dục Kha.

Theo hãng tin AFP, những dấu vết về một cấu trúc dường như là một đền thờ bằng gỗ cổ đã được tìm thấy bên dưới một ngôi đền bằng gạch, nằm trong khu đền thiêng Maya Devi của đạo Phật tại Lumbini, phía Nam Nepal, gần biên giới với Ấn Độ.

Về thiết kế, cấu trúc gỗ này có sự tương đồng với ngôi đền Ashoka được dựng phía trên nó và có vẻ như một cái cây từng mọc lên từ đây - công trình bằng gỗ rỗng ở chính giữa và không có mái này dường như để bảo vệ cái cây - có khả năng là cây nơi đức Phật tổ ra đời. Các ngôi đền bằng gạch được xây dựng sau này cũng đều được xây bao quanh không gian trung tâm này.

Tại vị trí này người ta tìm thấy các rễ cây mà lại không có rác rưởi xung quanh chứng tỏ nơi đây là địa điểm thờ cúng thường xuyên có sự dọn dẹp những gì ô uế (trừ rễ của cây Sa la mà theo truyền thuyết, khi sinh hạ đức Phật, mẹ Ngài đã vịn vào một cành của nó). Các điển tích Phật giáo ghi lại rằng Hoàng hậu Maya Devi đã hạ sinh Đức Phật khi với tay lên một nhánh cây vô ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni khi đang trên đường tới vương quốc của cha mình để chuẩn bị sinh con.

Phần nhiều những gì được biết đến về cuộc đời của đức Phật đều có nguồn gốc từ những điển tích dân gian trong thư tịch Phật giáo, thiếu nhưng bằng chứng khoa học để chứng minh. Phát hiện khảo cổ này là cơ sở khoa học để chứng minh truyền thuyết. Sử dụng phương pháp đo phóng xạ trong các khoáng chất và các chất đồng vị carbon từ than và cát của cấu trúc gỗ, nhóm nghiên cứu kết luận niên đại của nó có từ thế kỷ 6 TCN.

Giả thuyết mà nhiều học giả đồng thuận rằng đức Phật - người đã từ bỏ ngôi vị Thái tử giàu sang để đi tìm kiếm và thuyết giảng về sự khai sáng - đã sống và truyền đạo ở thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, và qua đời ở tuổi 80 nay phải xem xét lại khi dấu tích khảo cổ mới trên đây chứng minh việc người ta thờ phụng đức Phật ngay từ thế kỷ 6 TCN (sớm hơn 2 thế kỷ mà chúng ta vẫn tưởng). Nghĩa là Phật giáo đã ra đời ít nhất là từ thời gian đó. Trước đó, một cột đá sa thạch có niên đại thế kỷ 3 trước Công nguyên tại chùa Maya Devi được tìm thấy và dựa vào đó người ta tin rằng là nơi mẹ Đức Phật đã sinh ra Ngài vào thời gian này.

Theo các tư liệu lịch sử, Đức Phật vốn là hoàng tử Siddhartha Gautama (Tất Đạt Đa), con vua Tịnh Phạn, nhưng ngài luôn cảm thấy đau khổ về thế gian xung quanh. Ngài đã từ bỏ ngôi vị Thái tử, ra đi tìm đường cứu vớt chúng sinh thoát bể khổ trần ai. Sau nhiều năm tu khổ hạnh không ngộ đạo, cuối cùng ngài đã giác ngộ (hiểu được nguyên nhân của những khổ đau của con người và cách tu tập để tự giải thoát bể khổ) khi thiền định dưới gốc cây Bồ Đề 49 ngày. Sau đó Đức Phật đã đi khắp nơi giảng pháp, truyền giáo lý cho mọi người hòng cứu vớt chúng sinh.

Tứ động tâm là gì và tứ động tâm có ý nghĩa như thế nào?:

Theo kinh Trường Bộ I (Đại Bát Niết Bàn), trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật đã có lời căn dặn đệ tử như sau:“Này Ananda, có bốn Thánh tích, người thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam nữ cư sĩ sẽ đến với niềm suy tư: Đây là chỗ Như Lai đản sanh, đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng, đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn. Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên”.

Tứ động tâm là bốn Thánh tích thiêng liêng của Phật giáo tại Ấn Độ, ghi dấu địa điểm diễn ra bốn sự kiện trọng đại trong cuộc đời và sự nghiệp hoằng hóa của Đức Phật Thích Ca.

Tứ động tâm gồm: 1. Lumbini (Lâm Tì Ni) nơi Phật đản sanh; 2. Bodhgaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) nơi Phật thành đạo; 3. Sarnath (Lộc Uyển) nơi Phật chuyển pháp luân - thuyết pháp lần đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như; 4. Kusinara (Câu Thi Na) nơi Phật nhập Niết bàn. Sở dĩ được gọi là động tâm vì bốn nơi này là thánh địa rất linh thiêng, khiến cho khách hành hương xúc động, chấn động mạnh mẽ khi đến chiêm bái tại đây và từ đó tăng trưởng niềm tin, tinh tấn hơn trong sự nghiệp tu tập.

Theo Kinh Trường Bộ I (Đại Bát Niết Bàn), trước khi nhập diệt, Đức Thế Tôn đã có lời căn dặn như sau: “Này Ananda, có bốn Thánh tích, người thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam nữ cư sĩ sẽ đến với niềm suy tư: Đây là chỗ Như Lai đản sanh, đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng, đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn. Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên”.

Chúng ta xem xét từng thánh tích một:

1. Lumbini - nơi đức Phật ra đời.

Nằm dưới chân núi dãy Himalaya, Lumbini cách thành phố Kapilavastu khoảng 25km về hướng đông, là vùng đất hành hương linh thiêng của đạo Phật. Nơi đây hoàng hậu Mayadevi đã hạ sinh đức Phật Thích Ca. Tương truyền, khi được sinh ra, đức Phật đã đứng vững bằng hai chân, mặt hướng về phía bắc đi bảy bước, mỗi bước đi của ngài đều được nâng bằng một tòa sen bên dưới và được chín con rồng che chở. Ngài đã một tay chỉ lên trời, một tay chỉ dưới đất nói câu nổi tiếng “Thượng thiên, thượng hạ - Duy ngã độc tôn” để tỏ rõ sự cao quý của mình. Hiện nay, tại các chùa đều có pho tượng Cửu long sơ sinh diễn tả việc này. Khu đền thờ Phật giáo này là Di sản Văn hóa thế giới, giờ đây thu hút hàng triệu lượt người đến mỗi năm.

2. Bodh Gaya - nơi Đức Phật thành đạo:

Đây là nơi đức Phật đã tọa thiền suốt 49 ngày dưới gốc cây bồ đề bên cạnh dòng sông Ni Liên Thiền. Dưới cội bồ đề, Người đã mở ra con đường giác ngộ và độ sanh cho chúng sinh. Mặc dù ngài đắc đạo đã mấy ngàn năm, nhưng mỗi lần đến thăm, du khách vẫn dường như cảm nhận được ánh từ quang tỏa chiếu, làm khơi dậy tính hướng thiện và lòng thanh tịnh trong mỗi con người.

Tại Bodh Gaya, chúng ta có thể đến tham quan Việt Nam Phật Quốc Tự do thầy Huyền Diệu chủ trì. Đặc biệt, ngôi đền Mahabodhi là chốn linh thiêng, xây theo hình tứ giác cao 52m được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Ngôi chính điện với pho tượng Phật mạ vàng uy nghiêm càng trở nên linh thiêng hơn trong niềm tin của hàng triệu tín đồ Phật tử đến lễ bái, dâng hoa, cầu nguyện… Có thể nói, Bodh Gaya đã trở thành một cái nôi của lịch sử văn hóa Phật giáo và các Phật tử đều ao ước được ít nhất một lần hành hương đến nơi này.

3. Sarnath - nơi đầu tiên đức Phật giảng pháp

Còn được biết đến với tên gọi vườn Lộc Uyển, Sarnath được xem là thánh địa của Phật giáo và là một trong những điểm hành hương không thể thiếu khi đến Varanasi. Theo ghi chép, sau khi đắc đạo dưới cây bồ đề, đức Phật đã thuyết giảng về quy luật tự nhiên của vạn vật cho năm vị tu sĩ khổ hạnh trong lần thuyết pháp đầu tiên. Ngài đã giác ngộ họ và Phật giáo bắt đầu từ đây được truyền bá rộng rãi. Đây cũng là trung tâm Phật giáo lớn nhất tồn tại hơn 1.500 năm sau ngày Phật nhập diệt và là nơi đức Phật trải qua mùa an cư kiết hạ đầu tiên.

4. Kushinagar - nơi Đức Phật nhập niết bàn

Cũng như các thánh địa liên quan đến những biến cố của đức Phật, Kusinagara đã trở thành địa danh quan trọng để các Phật tử đến chiêm bái. Bởi đây chính là nơi đức Phật, sau 49 năm giáo hóa không mệt mỏi, đặt dấu chân lên khắp một vùng rộng lớn của lưu vực sông Hằng, ngài đã nhập niết bàn để trở lên bất diệt. Đến với thánh địa này, khách hành hương thường chiêm bái những nơi thiêng liêng như: điện Mathakuar - nơi đức Phật thuyết bài pháp cuối cùng; chùa và tháp Đại bát Niết bàn - nơi đức Phật nhập diệt; tháp trà tỳ Angrachaya - nơi trà tỳ kim thân đức Phật; và tháp phân chia xá lợi Ramabhar, nơi làm lễ hỏa táng Đức Phật…

Đạo Phật ngày nay cùng với Thiên chúa giáo và đạo Hồi trở thành một trong 3 tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 500 triệu tín đồ và ngày càng tỏ rõ sức hấp dẫn của nó khi thu hút không chỉ tín đồ châu Á mà ngày càng đông người châu Âu, châu Mỹ tin theo. Với triết thuyết khoa học sâu xa mà ngày nay được khoa học hiện đại chứng minh nhiều luận điểm xác thực, Phật giáo có sức hấp dẫn không chỉ người dân bình thường mà cả các nhà vật lý nổi tiếng như Anhxtanh. Ông từng nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu - Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... là những nhà Phật học nổi danh. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động. Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”

Phạm Văn Thi sưu tầm, tổng hợp.

Đốt tiền, vàng mã, hàng mã – một hủ tục cần từ bỏ.

Đốt tiền, vàng mã, hàng mã – một hủ tục cần từ bỏ.

alt

Thực trạng hiện nay:

Hiện nay ở nước ta, việc đốt tiền mã, vàng mã, đồ dùng, voi, ngựa, hình nhân… bằng giấy đang được người dân thực hiện một cách thái quá. Với quan niệm “trần sao âm vậy”, một số người cho rằng, để hiếu đễ với người thân dưới âm phủ, họ phải đốt tiền, vàng, đồ dùng như quần, áo nón, mũ, giày, dép, ti vi, điện thoại, nhà lầu, xe máy, thậm chí cả ô tô, tàu thủy, người hầu gửi cho người âm. Số khác thì cho rằng, dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ nên họ không tiếc tiền mua hàng mã (có những thứ lên tới tiền triệu, vài triệu, chục triệu đồng) đốt dâng tại các đền, phủ, chùa, miếu.

Người ta đốt tiền, vàng  giấy (hóa vàng) vào các dịp tang ma, cúng bái đã đành, mà còn vào các ngày lễ, Tết, ngày Mùng Một, ngày rằm quanh năm, nhất là dịp rằm tháng Bảy (ngày lễ Vu lan báo hiếu theo quan niệm nhà Phật). Những nhà làm hàng mã chuyên nghiệp cho biết: Chỉ cần dốc sức cung ứng cho thị trường vào dịp cúng rằm tháng Bảy, là có thể thu nhập sống cả năm! Điều ấy chứng tỏ hàng mã bán chạy như thế nào! Rõ ràng là người ta đã đem tiền thật đi mua tiền, vàng giả về đốt không tiếc tiền cho những mục đích không nhìn thấy kết quả.

Hiện nay, ngày càng có nhiều người tiến bộ phản đối việc đốt hàng mã tràn lan, lãng phí, dễ gây hỏa hoạn, cho rằng đạo Phật không tán thành việc đốt vàng mã, vật dụng bằng giấy.

Trong kinh sách Phật giáo không không hề quy định việc đốt giấy tiền, vàng mã cho người chết. Vì theo Phật giáo, người chết chậm nhất là sau bốn mươi chín ngày thì nhất định sẽ được thác sinh vào một cảnh giới tương ứng với nghiệp mà họ đã gây tạo lúc sống. Ở mỗi cảnh giới khác nhau, sự thọ dụng đồ ăn, đồ dùng của họ trong các cảnh giới ấy hoàn toàn khác biệt, không giống như chúng ta quan niệm trần sao âm vậy. Do đó, dùng những vật dụng, tiền bạc của cõi dương để cung cấp cho các chúng sinh ở các cõi khác là điều không khả dụng. Đó là chưa nói việc đốt chúng gửi cho người âm không có địa chỉ (như trên trần thế) liệu họ có nhận được không? Mặt khác, mỗi nước, mỗi thế giới đều có đồng tiền riêng, nên việc làm vàng, tiền của người dương để gửi cho người âm là làm hàng giả, tiền giả làm sao người âm có thể dùng được (nào ai biết hình thù tiền mã, vàng mã của thế giới âm phủ ra sao).

Về mặt đạo đức, việc con người ta đốt tiền, vàng mã, đồ dùng mã cho người thân quá cố với mong muốn người nhà ở dưới âm được đủ đầy, không thiếu thốn là một tâm tưởng tốt, thế nhưng Phật giáo xem sự thể hiện “ hiếu đạo” bằng việc đốt vàng mã là một hủ tục, vì việc làm ấy hoàn toàn vô ích đối với người chết, chỉ lãng phí tiền của, công sức và gây ô nhiễm, hoả hoạn mà thôi. Và giả sử người chết có nhận được chăng nữa thì việc làm đó lại lợi bất cập hại bởi quan niệm nhà Phật là muốn tu tạo để chuyển sang một cảnh giới tốt, thì người chết phải từ bỏ mọi tham, sân, si. Thế mà người dương lại cứ làm cho người âm không dứt bỏ được ham muốn vật chất bằng cách gửi tiền, gửi đồ cho thì người âm thì sao họ có thể tu tạo, hồi hướng được.

Đối với các Phật tử và người dân chưa thông suốt giáo lý, vẫn quen với tập tục dùng vàng mã trong tang lễ và hiếu sự, Phật giáo không cấm đoán, chỉ khuyên nhủ họ từ bỏ hoặc thay thế bằng các việc làm có lợi ích thiết thực hơn như phóng sinh, dùng tiền mua vàng mã, đồ dùng đó để bố thí cho người nghèo, cứu giúp kẻ khó khăn nhằm chuộc tội cho người chết. Đây mới là việc làm “ âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm từ bi tuệ giác của đạo Phật.

Xuất xứ của tục đốt hàng mã:

Ở Trung Hoa, từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (năm 105 sau CN – đời Hán), ông Thái Linh bắt đầu lấy vỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Sau này, một người tên Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v... đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: “Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường Bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ”. Vậy nên ông Vương Dũ có thể coi là thủy tổ nghề vàng mã.

Cần phải nói rằng, việc đốt vàng mã là một tập tục đã có hàng nghìn năm nay ở Việt Nam, từ thời nước ta còn bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, mà cụ thể hơn là bắt đầu từ thời Đông Hán đô hộ (giai đoạn mà Thái thú Sĩ Nhiếp đẩy mạnh truyền bá Nho học ở Giao Chỉ - cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III). Phong kiến phương Bắc luôn chủ trương đồng hóa người Việt theo phong tục, văn hóa nước họ. Người Việt chúng ta không thể nói là không bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc (cả mặt tốt lẫn mặt xấu), trong đó có tập tục đốt vàng mã, đồ dùng mã. Với quan niệm đạo hiếu trong Nho học Khổng Tử thì việc đốt tiền, vàng, đồ dùng cho người thân nơi cõi âm được giới thống trị Trung Hoa mang sang phổ biến ở Giao Chỉ và ăn sâu, bén rễ ở nước ta đã hàng nghìn năm nay, không dễ ngày một, ngày hai có thể thuyết phục dân ta bỏ được.

Đến thời Đường – Tống, đồ tuẫn táng hay tùy táng (chôn theo người chết) bằng gốm sứ hay kim loại ít dần trong tang lễ. Người ta thay bằng ngựa giấy, bát giấy, người giấy, gia súc giấy,… vừa đáp ứng nhu cầu tuẫn táng cho người thân, vừa thông qua hỏa thiêu để chuyển hóa được sang cho cõi âm sử dụng.

Một câu hỏi đặt ra, tại sao ngày rằm tháng Bảy là ngày lễ Vu lan báo hiếu của đạo Phật người ta lại đốt rất nhiều vàng mã, đồ mã để gửi cho người thân dưới âm?

Xuất xứ của việc này được giải thích bằng chuyện chép ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo của Trung Hoa:

Vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (năm 762), khi Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: rằm tháng Bảy là ngày vua Diêm Vương ở âm phủ xem xét xá tội các vong hồn, nhà vua nên thông sức cho dân khi cúng lễ gia tiên vào ngày này nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong hồn.

Vua Đạt Tôn muốn lấy lòng dân nên đồng ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy để tỏ lòng hiếu nghĩa với gia tiên. Nhưng việc này lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích vì trái với quan điểm Phật giáo. Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người nhà Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, người đã chế ra đồ vàng mã.

Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài đã đục lỗ để thở và trữ sẵn thức ăn, nước uống. Khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng đem cả hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mạng ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ ầm ĩ. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài và anh chàng giả chết kia cũng từ từ ngồi dậy, lù đù bước từ quan tài ra, với một điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật lại chuyện với dân chúng rằng: “Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”. Dân chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mệnh được và thánh thần trong tam, tứ phủ cũng tham lễ đồ mã, tăng phúc, giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ cho ai có nhiều lễ biếu. Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần cũng tiêu dùng đồ mã, tất nhiên là vàng mã phải đắt hàng.

Trước đây Việt Nam bị phong kiến Trung Quốc đô hộ hơn 1.000 năm, phong tục của họ hay, dở mình buộc phải theo đã đành, nay nước ta là một quốc gia độc lập, tự chủ, có truyền thống bất khuất, không dễ gì bị đồng hóa, thì không lẽ lại vẫn học theo cái dở của người Tầu?.

Hiện nay nước ta đã và đang hội nhập sâu rộng với thế giới trên tất cả các lĩnh vực nhưng Đảng và Nhà nước luôn chủ trương “hòa nhập mà không hòa tan”. Chúng ta tiếp thu có chọn lọc những gì là tiên tiến, văn minh của các nước và phải từ bỏ những tàn dư lạc hậu xưa cũ, trong đó có việc đốt tiền, vàng mã, đồ mã. Mọi người, mọi nhà nên làm theo lời khuyên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được bày tỏ trong thông bạch số 31 vừa qua của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam là: “Đề nghị chư tôn đức tăng ni nêu cao tinh thần Bồ tát đạo, hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam”.

(Nguồn: Đốt tiền, vàng mã, hàng mã – một hủ tục cần từ bỏ./Phạm Văn Thi, Hội Văn hóa Dân gian HP//Tạp chí Khoa học & Kinh tế . - Số 182, năm 2018. - Tr. 38-39-40)


Văn hóa phi vật thể Hải Phòng – Tiềm năng du lịch nhân văn.

Văn hóa phi vật thể Hải Phòng – Tiềm năng du lịch nhân văn.

Bao đời nay, nông thôn Việt Nam in đậm trong ký ức những người xa xứ với hình ảnh cây đa, bến nước, những mái đình, mái chùa rêu phong cổ kính và tiếng chuông chùa ngân vang sáng tối, những lễ hội dân gian cổ truyền nghiêm trang xen lẫn những trò chơi dân gian vui nhộn. Những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể này cần phải được gìn giữ và phát huy tính tích cực của nó trong cộng đồng nhằm hun đúc lòng yêu quê hương, đất nước và tự tôn dân tộc – một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng mà hàng nghìn năm đô hộ của phong kiến phương bắc, hàng trăm năm Pháp thuộc vẫn không bị đồng hóa, không mất đi nét riêng độc đáo mình.

Nét riêng độc đáo này có thể là những ngành, nghề truyền thống của các địa phương làm ra các sản phẩm nông nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp có chất lượng và giá trị thẩm mỹ cao, dành được thiên cảm của người tiêu dùng không những trên địa bàn thành phố mà còn ở cả các tỉnh, thành trên cả nước. Những sản phẩm của bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo đó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người làm ra chúng mà còn là niềm tự hào của địa phương đã lưu truyền và gìn giữ được nghề cha truyền con nối của cha ông.

Theo nguồn tài liệu của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hải Phòng đã từng có trên 60 làng nghề với 20 loại hình nghề khác nhau, phần lớn là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, nhiều làng nghề được hình thành từ hàng trăm năm như: Sơn mài điêu khắc Bảo Hà (xã Đồng Minh); con giống Nhân Mục (xã Nhân Hòa) huyện Vĩnh Bảo; chiếu cói Lật Dương (huyện Tiên Lãng); mây tre đan Chính Mỹ (huyện Thủy Nguyên), Tiên Cầm (An Lão); gốm sứ Dưỡng Động, đúc kim loại Mỹ Đồng (Thủy Nguyên); đất nung Tiên Hội (An Lão), nước mắm Cát Hải, bánh trưng Thủy Đường, làm hương Kiền Bái (Thủy Nguyên); trồng hoa Đằng Hải; trồng-chế biến thuốc lào Tiên Lãng, Vĩnh Bảo… Tuy nhiên do nhiều hoàn cảnh và yếu tố như chiến tranh, biến động thị trường, nhu cầu khách hàng, sự cạnh tranh giữa các địa phương, gu thẩm mỹ từng thời kỳ… mà nhiều làng nghề Hải Phòng đã mai một, thất truyền. Đến nay trên địa bàn thành phố còn 31 làng nghề đang duy trì và phát triển, trong đó 17 làng nghề truyền thống, 14 làng nghề mới thuộc 25 xã, phường, thị trấn, tập trung vào các nghề: Mây tre đan, đồ mộc dân dụng, điêu khắc, sơn mài, cơ khí, chế biến bánh đa, dịch vụ vận tải, thủy sản…

Theo tiêu chuẩn công nhận làng nghề truyền thống của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hải Phòng có 12 làng nghề đạt tiêu chuẩn đã được UBND thành phố cấp bằng công nhận. Đó là các làng nghề: Mộc nội thất Kha Lâm (Kiến An), dệt chiếu cói Lật Dương (Tiên Lãng), điêu khắc gỗ, sơn mài Bảo Hà (xã Đồng Minh), sản xuất cá giống Hội Am huyện Vĩnh Bảo, mây tre đan Chính Mỹ, đúc cơ khí Mỹ Đồng, vận tải thủy An Lư, thủy sản Lập Lễ, trồng và chế biến cau Cao Nhân (Thủy Nguyên), bánh đa Khinh  Giao, mây tre đan Tiên Sa (An Dương), mây tre đan Tiên Cầm (An Lão).

Bên cạnh những làng nghề truyền thống có từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945, người dân một số địa phương đã chuyển đổi cơ cấu ngành nghề sản xuất, đầu tư phát triển những nghề mới và sản phẩm của họ đã tìm được chỗ đứng trên thị trường, giúp người dân không những phát triển kinh tế mà còn tạo thương hiệu cho những làng nghề mới như trồng nhãn, vải Bát Trang (An Lão), làng hoa Đồng Dụ (xã Đặng Cương huyện An Dương), xã Đồng Thái, Hồng Thái chuyên trồng đào, quất, hải đường.

Cần phải nói rằng, làng nghề không chỉ là sản phẩm văn hóa phi vật thể, tiềm năng kinh tế mỗi địa phương mà còn là tiềm năng của du lịch nhân văn. Khi kinh tế xã hội phát triển, đời sống được nâng cao thì nhu cầu du lịch, thăm quan của người dân ngày càng tăng. Du lịch làng nghề truyền thống giờ đây đang có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nội địa trong các tour - tuyến du khảo đồng quê, thậm chí cả du khách nước ngoài.

Cũng như một số tỉnh, thành phố trên đất nước ta, nền văn hóa – văn nghệ dân gian Hải Phòng rất phong phú với nhiều hình thức và thể loại, vốn đã trở thành truyền thống tại các địa phương.

- Về trò chơi dân gian có: Múa rối (cạn và nước) ở xã Đồng Minh, Nhân Hòa huyện Vĩnh Bảo; Thi pháo đất ở Tân Liên (Vĩnh Bảo); Thả đèn trời ở xã Nhân Hòa (Vĩnh Bảo); Tam cúc điếm ở lễ hội đền Phú Xá, An Dương; Bơi chải ở Cát Hải, Đồ Sơn, An Dương, Tiên Lãng…; Hội vật làng Vĩnh Khê, xã An Đồng huyện An Dương thu hút không chỉ các đô vật nam mà cả nữ ở Hải Phòng và các tỉnh lân cận về vui chơi, thi đấu, đó là chưa kể môn võ vật đã trở thành thế mạnh của các vận động viên Tiên lãng.

- Lễ hội dân gian truyền thống cũng phong phú ở nhiều địa phương trên địa bàn thành phố như:

Lễ hội “Từ Lương Xâm” (nay thuộc quận Hải An) tôn thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền; Hội làng Trinh Hưởng (xã Thiên Hương - Thủy Nguyên) tôn thờ 3 anh em họ Đào (Đào Tế, Đào Lai và Đào Độ) là những người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược do vua Lê Hoàn lãnh đạo trên sông Bạch Đằng năm 981; Lễ hội đền Phú Xá (nay thuộc phường Đông Hải 1 - quận Hải An) tri ân công đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và bà Bùi Thị Từ Nhiên; Lễ hội đình Từ Lâm xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo thờ vị thành hoàng Hoa Duy Thành, danh tướng có công trong kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần.

alt

Lễ hội minh thề ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy nhằm tri ân Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Toàn, chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Bà là người đã lập ra ấp Lan Niểu, nay là làng Hòa Liễu và lập ra hội thề chí công vô tư (nay gọi là Minh thệ).

Lễ hội với trò chơi dân gian tưởng nhớ danh tướng có công với đất nước, tiêu biểu như lễ hội vật cầu, chạy đá ở làng Kỳ Sơn, xã Tân Trào (Kiến Thụy)….

Ngoài những lễ hội lịch sử tôn thờ các vị nhân thần có công với dân, với nước như trên, Hải Phòng còn có những lễ hội tôn thờ các vị thiên thần, cầu sự che chở cho dân, cầu mưa thuận, gió hòa, cho mùa màng bội thu như lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đã trở thành 1 trong 15 lễ hội tiêu biểu cấp Quốc gia; Lễ hội phủ Thượng Đoạn thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh ở phường Đông Hải 1, quận Hải An hay gần đây có lễ hội thường niên tôn thờ nữ tướng Lê Chân - thành hoàng của Hải Phòng mà nhiều nơi phối thờ.

Lễ hội mang ý nghĩa kinh tế như lễ hội rước lợn ông Bồ và bánh dày ở làng Kỳ Sơn huyện Kiến Thụy nhằm cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát đạt.

Còn có một lễ hội cũng đề cao ý nghĩa nông nghiệp là lễ rước lợn hỗng trong lễ hội ở xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo tôn thờ Thành hoàng làng là Nguyễn Công Huệ - ông tổ của nghề tạc tượng, sơn mài làng Bảo Hà.

Một lễ hội khác tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề cho dân ở làng Lạng Côn (Kiến Thụy), đó là lễ hội tri ân người đã làm ra món bánh đa khô và bánh đa nhúng và nay đã trở thành nghề truyền thống của làng là ông Chu Xích Công, người Hoa ở thế kỷ thứ 10.

Những năm gần đây, một số địa phương đã chú trọng những lễ hội tôn thờ danh nhân văn hóa đất nước, có công với dân tộc và địa phương như lễ hội đền Trạng Trình (Vĩnh Bảo) thờ danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, lễ hội thờ trạng nguyên Trần Tất Văn ở xã Thái Sơn (An Lão), lễ hội đền trạng nguyên Lê Ích Mộc ở làng Thanh Lãng xã Quảng Thanh (Thủy Nguyên). Các lễ hội này nhằm đề cao sự nghiệp giáo dục, tôn vinh nhân tài địa phương trong phong trào khuyến học, khuyến tài.

- Vốn văn nghệ dân gian Hải Phòng cũng đa dạng, phong phú như hát chèo, hát tuồng ở xã Quang Trung (An Lão); Hát chèo ở xã Hợp Thành, lại Xuân, Kiền Bái (Thủy Nguyên); Hát cải lương ở xã Thái Sơn (An Lão), Thụy Hương (Kiến Thụy), Cát Hải; Hát ca trù ở làng Đông Môn, xã Hòa Bình (Thủy Nguyên); Hát đúm ở Phả Lễ, Lập Lễ, Phục Lễ (Thủy Nguyên), hát giao duyên trên thuyền ở đầm Kiến Thụy, hát thuyền phềnh, hò hái củi ở Thủy Nguyên…

Nhưng cũng phải nói rằng các hoạt động như trò chơi dân gian, văn nghệ dân gian ở nhiều nơi nay đã mai một hoặc thất truyền. Vốn văn hóa đầy bản sắc địa phương này cần phải được nghiên cứu phục hồi và khuyến khích phát triển trong nhân dân nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống tinh thần trong xã hội, động viên nhân dân lao động, sản xuất.

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nông thôn trong xã hội hiện nay, Hội Văn nghệ dân gian đề nghị thành phố có giải pháp khôi phục các loại hình nghệ thuật tiêu biểu đã mai một tại những nơi có truyền thống nêu trên bằng chủ trương và cơ chế chính sách thích hợp, thỏa đáng, tránh đầu tư dàn trải nhằm tạo điều kiện cho các địa phương phát triển vốn văn nghệ dân gian truyền thống của mình. Quan điểm của chúng tôi là chính quyền và ngành chức năng chú trọng đầu tư phát triển vốn văn hóa - văn nghệ dân gian, không đầu tư cho loại hình ca nhạc nhẹ, kịch nói mà chỉ khuyến khích tự phát triển.

Thành phố rà soát, chỉ đạo các địa phương có di sản văn hóa, tín ngưỡng xây dựng kế hoạch phục hồi di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu, xây dựng các trung tâm văn hóa tín ngưỡng như kiểu Khu di tích lịch sử văn hóa tâm linh Đồ Sơn gồm tháp Tường Long - đình Ngọc Xuyên - đền Long Tiên suối Rồng - đền Chúa Ngũ Phương và kết hợp tổ chức các hoạt động văn hóa-văn nghệ dân gian.

Để khuyến khích phục hồi văn hóa dân gian, Nhà nước và Thành phố cần có chế độ động viên bằng vật chất, tưởng nhớ, khen thưởng các danh hiệu: Nghệ nhân Dân gian, nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân đã có công phục hồi, gìn giữ vốn văn hóa dân gian truyền thống, tạo cho họ môi trường và điều kiện quảng bá nghệ thuật mà họ nắm giữ trong nhân dân. Việc này hiện chưa được quan tâm thích đáng ở Hải Phòng, trong khi cá tỉnh, thành như Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội đã có chế độ phụ cấp cho nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu.

Thành phố, các quận, huyện và ngành Văn hóa Hải Phòng cần quan tâm thích đáng cho phong trào văn nghệ dân gian, hàng năm tổ chức các hội thi, liên hoan văn nghệ dân gian để bảo tồn phát triển vốn văn hóa giàu bản sắc địa phương, khen thưởng kịp thời các điển hình tổ chức hoạt động tiêu biểu.

Thành phố cần có chính sách đẩy mạnh xã hội hóa việc phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa - văn nghệ dân gian theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng đóng góp, tạo nên khả năng phát huy vốn di sản văn hóa địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa mỗi làng, xã.

Phong trào xây dựng Nông thôn mới hiện nay cần được gắn kết với phong trào khôi phục, bảo tồn di sản văn hóa dân gian tiêu biểu mỗi địa phương bằng các tiêu chí cụ thể nhằm phát huy được sự đồng lòng của ý Đảng và tâm nguyện nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội văn minh, giàu đẹp.

Phạm Văn Thi, Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng.

Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức dân gian người Hải Phòng

Trong hoạt động tâm linh của người Hải Phòng, cũng như các vùng khác ở đồng bằng Bắc Bộ, từ xa xưa đã tồn tại song song việc thờ gia tiên tiền tổ với thờ Phật, thờ Tam tòa Thánh Mẫu và cả những nhân thần có công với nước, với dân trong Tứ phủ.

alt

Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn nói đến mối quan hệ tương hỗ giữa việc thờ Phật và thờ Mẫu (Tam phủ, Tứ phủ) trong tín ngưỡng dân gian người Hải Phòng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện từ rất sớm, nó có trước tôn giáo. Khi Phật giáo truyền đến Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hình thành trước đó với việc tôn thờ mẫu Mẹ Âu Cơ và những Mẹ Trời (mẫu Thượng Thiên) Mẹ đất (Mẫu Địa), Mẹ nước (Mẫu Thủy) mà trong niềm tin sơ khai của người Việt là những thế lực có quyền năng sáng tạo, sinh thành, bảo trợ và che chở cho họ.

Thủa mông muội, con người không hiểu những hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, sấm, chớp là từ đâu. Vậy nên mới có tục thờ Tứ Pháp. Khi đạo Phật truyền vào Việt Nam (khoảng 2000 năm nay) tín ngưỡng thờ Mẫu còn được thể hiện qua huyền tích Phật Mẫu Man Nương ở huyện Siêu Loại, hương Mãn Xá (Bắc Ninh nay).

Tại vùng này hiện nay có 5 ngôi chùa cổ: Chùa Dâu thờ Pháp Vân (nữ thần mây), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (nữ thần mưa), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (nữ thần sấm), chùa Dàn thờ Pháp Điện (nữ thần chớp) và chùa Tổ thờ bà Man Nương là mẹ của Tứ pháp (dân gian tôn là Phật Mẫu Man Nương).

Trong cuộc sống xưa, con người ta có biết bao hiểm nguy rình rập, bao nỗi lo sợ tai ương, như vào rừng thì sợ gặp thú dữ, cây đổ, đá đè. Xuống nước thì sợ vực sâu, nước cuốn, sóng gió lật thuyền..v..v. Vậy nên họ mới tưởng tượng ra những thần linh có phép thuật nhiệm màu như Mẫu Nhạc (Mẹ rừng), Mẫu Thoải (Mẹ nước) để tôn thờ, mong những thánh Mẫu tối cao này che chở họ khỏi tai ương. Trong suy nghĩ của con người ta thì người mẹ thường có tình mẫu tử thiêng liêng với những đứa con mình rứt ruột đẻ ra nên tất nhiên phải thương yêu, bảo vệ, ban phát ân huệ cho  con mình. Đó là lý do xuất hiện tục thờ thần Mẹ hay tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thủy, Mẫu Địa) và sau này là Tam Phủ Thánh mẫu (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) của người Việt.

Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu đã có ảnh hưởng tương giao với các tôn giáo và tín ngưỡng khác như đạo Phật, đạo Lão nên mới có hiện tượng tôn giáo đồng nguyên (cùng được phối thờ). Có thể coi đây là sự hỗn dung tôn giáo-tín ngưỡng.

Tại các chùa, đền, phủ hiện nay, ngoài việc thờ Phật, người ta còn thờ cả thánh, thần theo kiểu tiền Phật, hậu Thánh. Ở những nơi này, bên cạnh ban thờ Phật với hệ thống tượng pháp và đồ thờ bao giờ cũng có ban thờ Mẫu Tam phủ  và Tứ phủ với ban thờ Tam tòa Thánh mẫu hoặc hệ thống tượng Tứ phủ công đồng.

Tín ngưỡng thờ Tam phủ - Tứ phủ tuy có những quan điểm khác nhau nhưng lại không hề mâu thuẫn bởi vì chung quy lại đó đều là tôn thờ Thánh Mẫu, tôn thờ toàn vũ trụ với quan niệm dân gian:

– Đệ nhất thượng thiên

– Đệ nhị thượng ngàn

– Đệ tam thoải phủ

– Đệ tứ khâm sai (Đệ tứ địa phủ).

Đa phần các chùa tại thành phố Hải Phòng hiện nay, ngoài thờ Phật là chính đều phối thờ cả Tam tòa Thánh Mẫu với ban thờ riêng, thậm chí có chùa còn lập một gian riêng như điện thờ Tam phủ trong đó (như chùa Dư Hàng, chùa Lạc Viên). Tuy nhiên cũng có chùa chỉ thờ Phật, không thờ Mẫu như chùa Nam Hải (trụ sở Hội Phật giáo Hải Phòng) và Phổ Chiếu.

Lại có nơi trong đình (vốn thờ thần Thành hoàng làng) người ta lại thờ cả Tam tòa thánh Mẫu (như đình Hàng Kênh). Điều này có cái gì đó không hợp lý bởi thần Thành hoàng theo xếp bậc trong thần điện Việt Nam chỉ là Hạ thần hay Trung thần, trong khi đó ba vị nữ thần của Tam phủ được coi là bậc Thượng đẳng thần. Người ta chỉ có thể phối thờ vị thần bậc thấp trong đền thờ vị thần bậc cao chứ không thể thờ thần bậc cao tại nơi thờ thần bậc thấp hơn. Nói về những bất cập trong tín ngưỡng dân gian hiện nay còn có nhiều chuyện phải bàn.

Với việc nhân dân tôn thờ bà Chúa Liễu Hạnh là Đệ nhất Thánh Mẫu trong Tam phủ Thánh Mẫu đủ thấy vị trí linh thiêng của Mẫu Liễu Hạnh như thế nào trong tâm thức dân gian. Từ việc thờ Tứ phủ Thánh Mẫu, có nơi, có lúc người ta đồng hóa Mẫu Liễu Hạnh với Mẫu Địa để chỉ còn tôn thờ Tam tòa Thánh Mẫu thì có thể nói Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh Mẫu tối cao trong Thần Đạo Việt Nam và bà cũng là người phụ nữ duy nhất mà dân gian suy tôn trong 4 vị thánh bất tử của người Việt.

Như nhiều nơi trên miền Bắc, ở thành phố Hải Phòng cũng có đền thờ mẫu Liễu Hạnh. Đó là Phủ Thượng Đoạn thuộc phường Đông Hải 1, quận Hải An. Nơi đây là nơi thờ chính của bà, gắn với truyền thuyết về một lần bà và thị nữ đi thuyền du ngoạn đến đây và giúp dân trừng phạt một tên cường hào hại dân rồi được dân dựng miếu tôn thờ. Theo truyền ngôn, phủ được tôn tạo khang trang vào thế kỷ 16. Tại đây lưu giữ 23 bản sắc phong có niên đại 1846 – 1924. Các vua nhà Nguyễn phong chúa Liễu Hạnh là Thượng đẳng thần và cho được phụng thờ tại xã Thượng Đoạn (xưa).

Hàng năm vào dịp đầu tháng 3 âm lịch, phủ Thượng Đoạn mở lễ hội theo lối cách nhật với các hoạt động tế, lễ của 3 phường. Đặc biệt trong lễ hội có nghi thức rước kinh sách từ chùa Vẽ về Phủ để phối thờ. Đây là một hoạt động của lễ hội nhằm nhắc lại sự tích của Thánh Mẫu: tương truyền trong một kiếp hoá thân, chúa Liễu đã quy theo Phật nên lễ hội của phủ có nghi thức rước kinh Phật.

Mẫu Liễu Hạnh được thờ ở một số đền, phủ, bản điện và phối thờ trong hầu hết các chùa ở Hải Phòng với vai trò là Giáo chủ của Tam phủ Thánh Mẫu.

Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, người dân Hải Phòng còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, nữ tướng tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất hiển thánh trong quan niệm người Việt để hộ quốc tì dân,phù hộ cho quốc thái, dân an, mưa thuận, gió hòa. Có thể kể ra đây một số nhân thần tiêu biểu được ca ngợi công đức trong các giá hầu Thánh nữ như:

1. Chúa Bà Đệ tam Lâm Thao, còn gọi là chúa Ót (cách gọi chệch của “Út”), là vị Thánh cô thứ ba trong Tam vị Chúa Mường (thuộc Nhạc phủ). Tương truyền, bà là công chúa con gái Vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt nhưng hết lòng giúp vua cha lo quân lương trong các cuộc chiến trận. Ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam chữa bệnh cứu giúp dân lành. Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm Phật để cầu cho quốc thái dân an. Chúa Lâm Thao được thờ chính tại đền Lâm Thao ở Cao Mại, Việt Trì, Phú Thọ. Ở Hải Phòng, chúa Bà Đệ Tam Lâm Thao được thờ ở đền Nguyệt Cư phủ bên bờ sông Tam Bạc, dưới chân cầu mới do C.ty TNHH Sơn Trường xây dựng.

2. Bát Nàn Đông nhung Đại tướng quân (tên thật là Vũ Thị Thục), quê gốc ở Phượng Lâu, Việt Trì (Phú Thọ) - một trong số các tướng tài ba nhất của Hai Bà Trưng có công cứu nước, cứu dân từ buổi đầu kháng chiến chống quân Đông Hán xâm lược.

3. Đệ nhị Vương cô nhà Trần (tên thật là Trần Thị Tĩnh - con gái thứ hai của Hưng Đạo Đại Vương). Bà là vợ tướng quân Phạm Ngũ Lão, đã có công giúp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và chồng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược.

4. Bà chúa Thác Bờ (tên thật là Đinh Thị Vân), con gái một gia đình tộc trưởng người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình) đã có công giúp vua Lê Thái Tổ vận chuyển quân qua sông, dẹp loạn ở đèo Cát Hãn (Mường Lễ-Sơn La) .v.v…

Những nhân thần hiển Thánh trong quan niệm dân gian này thường được người ta thỉnh trong các giá hầu thánh tại các đình, đền, phủ có thờ Tam phủ, Tứ phủ hoặc bản điện tư gia.

5. Ở Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân – người có công lập lên trang An Biên (tiền thân của thành phố Hải Phòng) và giúp Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán, trấn thủ Hải Tần, được Vua Trưng phong chức Trưởng quản binh quyền, tước vị Thánh Chân Công chúa cũng được dân gian địa phương tôn làm Thánh Mẫu với đền thờ chính là Đền Nghè, chùa Vẻn (phối thờ), đình An Biên. Tại núi Voi, huyện An Lão Công trình tu bổ, tôn tạo đền thờ Nữ tướng Lê Chân (vốn trước đó Bà được phối thờ trong chùa Hang dưới chân núi) được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2013 trở thành một Di tích lịch sử của Thành phố nhằm tưởng niệm nữ tướng Lê Chân. Nơi đây được xem là căn cứ hậu cần, tích trữ lương thảo và rèn luyện  nghĩa quân xưa của Nữ Tướng.

Với việc trấn thủ vùng ven biển Đông Bắc, chú trọng chăm lo đời sống nhân dân, khuyến khích nghề nông, khai mở trang ấp, đoàn kết quân – dân Hải Tần để bảo vệ vùng ven biển nên nữ tướng Lê Chân được người Hải Phòng tôn thờ như Thành Hoàng bản thổ.

Tại Hải Phòng trong 3 dịp lễ trọng: Ngày 8-2 (âm lịch) ngày sinh của bà; ngày 15-8 (âm lịch) ngày thắng trận; ngày 25-12 (âm lịch) ngày mất của bà, nhân dân đều tổ chức cúng tế long trọng. Đặc biệt Lễ hội Nữ tướng Lê Chân vào tháng 2 âm lịch hàng năm bây giờ đã trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia của thành phố.

Nữ tướng Lê Chân được nhiều vùng trên miền Bắc tôn thờ. Tại căn cứ Lạt Sơn xưa (thuộc Hà Nam) - nơi bà tổ chức chiến đấu đến cùng chống quân Mã Viện và tử tiết, có ngôi đền thờ vị nữ tướng anh hùng quanh năm khói hương. Nơi đây trên vách đá thung Bể còn lưu lại ba tấm bia niên đại năm 1671 - 1672 triều vua Lê Gia Tông thời Hậu Lê suy tôn nữ tướng với những danh hiệu cao quý. Bia nói đến việc xây chùa Thánh Chân (khởi nguồn là Tiên động Thánh Chân), một bia có khắc hình con hổ, gợi liên tưởng đến sự dũng mãnh của nữ tướng Lê Chân, điệp thêm sự tôn kính, nâng Bà lên hàng Thánh Mẫu, Phật Mẫu.

6. Còn một nhân vật lịch sử khác là Vũ Quyến Hoa đã giúp Ngô Vương Quyền lo quân lương, hậu cần, góp phần vào chiến thắng Bạch Đằng năm 938, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của nước ta. Bà được Ngô Vương phong Vũ Quận Chúa Quyến Hoa và được nhân dân tôn làm Vũ Quyến Hoa công chúa, coi là Chúa Ngũ phương cai quản 5 phương trời đất trong tín ngưỡng dân gian. Nếu chúng ta biết rằng bà Bùi Thị Từ Nhiên, người đã giúp Hưng Đạo Đại Vương lo quân lương trong trận Bạch Đằng năm 1288 chống quân Nguyên Mông thắng lợi và được ông phong Nữ tướng cũng không được dân gian tôn xưng như vậy thì đủ thấy Chúa bà Vũ Quyến Hoa có vị trí thế nào trong tâm thức dân gian.

Bà Vũ Quyến Hoa sinh ra trong một gia đình họ Vũ tại làng Gia Viên (xưa có tên là làng Cấm), nay thuộc quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Nhờ tài đảm lược, bà được Ngô Vương Quyền trao quyền cai quản toàn bộ quân nhu tại căn cứ Gia Viên quê bà trong trận thủy chiến chống quân Nam Hán xâm lược. Ngày thác của Chúa là ngày 16 tháng 6 (ÂL) khoảng năm 939 – 944.

Năm 1924, vua Khải Định sắc phong cho bà là “Vũ quận Quyến hoa Công chúa Tôn Thần”

Theo thần tích, bà là một vị tiên nữ trên Thiên Đình, được giáng trần để giúp nước, che chở cho dân. Khi mất, bà hồi tiên và được Thiên tiên Thánh Mẫu giao quyền cai quản năm phương trời đất, bản cảnh bản xứ ngũ phương vậy nên được dân gian tôn xưng là Bà Chúa Quận Năm Phương (hay còn có tên khác là Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa). Người ta thờ Chúa Bà Ngũ phương ở nhiều nơi trên đất Hải Phòng như chùa Cấm tên chữ là Cấm Giang Bản Cảnh Linh Từ hay Nguyệt Quang Tự. Nơi đây ngoài thờ Phật, trong hậu cung bản tự có tượng Chúa Bà rất đẹp, uy nghiêm trong trang phục màu trắng; Đền Tiên Nga ở phố Lê Lợi hay đền Chúa Bà Năm Phương ở Đồ Sơn tại ngõ 155 phố Suối Rồng, khu 1 quận Đồ Sơn; Đền Bảo Phúc tại 12 - phố Trần Phú. Đây là một ngôi đền nhỏ hiện nằm trong khuôn viên của khách sạn Habeview. Ngôi đền này mới được xây dựng trên cơ sở một ngôi miếu thờ Chúa Năm Phương; Ngôi đền tại số 1 - phố Lê Hồng Phong: Trước đây chỉ là một miếu thờ nhỏ thờ Chúa Năm Phương, sau thành ngôi đền đẹp do một công ty xây dựng phát tâm công đức khi được cấp mảnh đất xây dựng trung tâm thương mại tại đây. Ngoài ra, ngôi miếu nhỏ dưới tán cây đa 13 gốc thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, nơi tương truyền bà về ngự khi đền thờ bà ở ngã 3 vườn hoa Chéo bị phá bỏ cũng quanh năm có khói hương thờ cúng.

Ngày 16/6 âm lịch là ngày thánh hóa của bà Vũ Quận Quyến Hoa. Vào ngày này, các đềnthờ Chúa Bà Năm Phương đều tổ chức tế lễ. Cần nói thêm, tại những nơi thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền, nhân dân đều phối thờ cả Vũ Quận chúa Quyến Hoa.

Vũ Quận Quyến Hoa được xếp vào hàng thánh cô trong Tứ Phủ Chầu Bà. Trong các giá hầu tại Hải Phòng và một số vùng lân cận, người ta thường thỉnh bà trước giá Chầu Năm suối Lân (một Thánh Cô thuộc Sơn trang Thượng ngàn). Y phục của Chúa Bà Ngũ phương trong giá hầu đều có mầu trắng (kể cả cỗ xe tay mà bà ngự theo giai thoại). Có lẽ vì vậy dân gian còn gọi Bà là Bạch Hoa Công chúa.

Có một người phụ nữ thời nhà Mạc cũng được người dân Hải Phòng và vùng phụ cận thời đó coi như Mẫu nghi thiên hạ, Phật sống ở trần gian, đó là Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn - chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Tên tuổi của Bà đã xuyên suốt cả 3 đời vua đầu khi nhà Mạc thịnh trị. Bà là người làng Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng nay - một người có lòng nhân ái, mộ đạo Phật.

Theo cứ liệu lịch sử: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời, Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật. Nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Theo cứ liệu lịch sử: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời, Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật. Nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Thái Hậu “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành Nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn – nhà Hạ” như văn bia thời Mạc ghi việc trùng tu chùa Bảo Lâm, xã Trâu Bộ, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. (Bia  tạo tháng Giêng năm Kỷ Mùi, niên hiệu Quang Bảo thứ 5 (1559), triều vua Mạc Phúc Nguyên.

Vào năm 1562, khi vương triều Mạc còn thịnh, Thái Hoàng Thái Hậu đã kêu gọi các hoàng thân quốc thích trong Hoàng tộc khác cùng đóng góp, dựng nên ngôi chùa Thiên Phúc ở làng Hòa Liễu và mấy chục chùa khác ở các nơi. Bà cũng là người có công lập ra ấp Lan Niểu, nay là làng Hòa Liễu xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy và lập ra hội Minh Thệ (thề trong sáng, ngay thẳng) mà hiện nay người dân địa phương vẫn kế thừa được. Đây được coi là lễ hội chống tham nhũng độc đáo duy nhất ở nước ta và là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.

Riêng tại Hòa Liễu, bà xuất tiền mua 25 mẫu 8 sào ruộng cúng Tam bảo. Nhiều vị trong hoàng tộc hưởng ứng, số tiền quyên góp dư ra để mua 47 mẫu 3 sào. Từ số ruộng đó, làng cho nhà chùa 4 mẫu để cày cấy, còn lại làm ruộng công để dùng cho người có nhu cầu “đấu thầu” để canh tác. Những người nhận ruộng công sẽ phải trả lại một phần hoa màu để làm một “quỹ” dự trữ dùng vào việc cứu đói, giúp người nghèo, người cô đơn, quả phụ. Việc làm này có ý nghĩa nhân văn rất lớn, được nhân dân ghi nhớ, biết ơn.

Ngày 15/6 âm lịch hàng năm là ngày giỗ của bà. Để tưởng nhớ công đức của Thái Hoàng Thái Hậu, dân làng Hòa Liễu và chính quyền địa phương hiện nay đều tổ chức cúng tế long trọng. Người dân Hòa Liễu tôn thờ bà cùng Long Vân Thiên quan Đại vương như hai vị Thành Hoàng bản thổ.

Bà Vũ Thị Ngọc Toàn là người có nhiều công lao nhất trong các thành viên hoàng tộc nhà Mạc khi hưng công, xây dựng chùa chiền và hoằng dương Phật pháp. Bà được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Tổng cộng, Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng tiền bạc cho trên chục ngôi chùa ở Hải Phòng và các tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh…

Bà quả là một người đã dốc toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo dưới triều Mạc.Với những công lao nói trên, bà được dân gian tôn xưng là “Mẫu nghi thiên hạ”, “Phật sống giữa trần gian”. Bà còn được nhân dân, tín đồ Phật tử nhiều làng xã tạc tượng chân thân để tôn thờ trong các chùa chiền, đền, miếu với nhiều tư cách khác nhau, như hậu Phật, sư Tổ, hậu Thần, thành hoàng, thánh Mẫu…

Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan Âm. Đến nay, một số chùa ở Hải Phòng và một số nơi còn lưu giữ được nhưng pho tượng Hậu Phật bằng đá (tương truyền là chân thân của Bà). Đó là hình tượng một người phụ nữ nông thôn ngồi bình thân, mình đậm đà, đầu đội mũ vành cao, trang trí hoa dây, khuôn mặt sáng láng toát lên vẻ phúc hậu. Đây là tượng Hậu Phật được tôn lên hàng Quan Âm.

Dù được dân chúng Hải Phòng nói riêng và xứ Đông nói chung tôn sùng như vậy nhưng bà Vũ Thị Ngọc Toàn lại không được triều Nguyễn phong sắc, có lẽ vì triều Mạc bị các sử gia phong kiến coi là ngụy triều (cướp ngôi nhà Lê) chăng?.

Tín ngưỡng thờ Mẫu đóng vai trò quan trọng trong việc dung nạp các tín ngưỡng thờ thần nữ ở nước ta và góp phần hòa đồng các tín ngưỡng, tôn giáo như Thánh, Thần, Phật…với mục đích phù hộ độ trì cho con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng bản địa (do người Việt sáng tạo nên) còn có sự ảnh hưởng ngược lại đối với tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Công giáo…Tuy nhiên phải nhận thấy rằng, chỉ có tôn giáo nào gần gũi với quan điểm sống và nhận thức người Việt Nam như đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho mới được dung nạp đồng nguyên trong việc thờ phụng. Trong chùa, ngoài việc thờ Phật người ta còn thờ cả Tam tòa Thánh Mẫu và tòa Sơn Trang và ngược lại, tại đình, đền, phủ, ngoài việc thờ thần người ta cũng thờ cả Phật và đôi khi cả Thánh đạo Nho, Lão như Khổng Tử, Lão Tử. Tuyệt nhiên không thấy đâu trong những nơi này lại thờ cả Chúa Ki Tô hay Thánh A-La đạo Hồi. Đó chính là bản sắc riêng độc đáo của văn hóa tín ngưỡng người Việt.

Phạm Văn Thi

Kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử, văn hóa

Ngày 11/7/2019 tại hội trường tầng 3, Sở Khoa học và Công nghệ, số 1 Phạm Ngũ Lão, TP Hải Phòng; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hải Phòng đã tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ “Kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử, văn hóa”.

alt

Hội nghị đã nghe PGS. TS Nguyễn Văn Tiến- Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thuyết trình chuyên đề: Kiến trúc truyền thống các di tích lịch sử, văn hóa; bao gồm các mục: Kiến trúc cổ Việt Nam; Một số loại hình kiến trúc truyền thống tiêu biểu. Hội nghị nghe ông Nguyễn Đình Chỉnh- Phó Chủ tịch TT Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng thuyết trình chuyên đề: Bài trí thờ tự trong di tích lịch sử văn hóa; bao gồm các mục: Đối tượng thờ; Các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng; Nguyên tắc bài trí thờ tự; Văn miếu, văn từ, văn chỉ.

alt

Chương trình với mục đích trang bị thêm kiến thức cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, quản lý văn hóa, thực hành tín ngưỡng của thành phố về kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử văn hóa.

MT

Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Mạc

alt

Phật giáo Việt Nam từng có giai đoạn phát triển cực thịnh khi đạo Phật trở thành Quốc giáo (triều tiền Lê, triều Lý) và có những Quốc sư như Pháp Thuận, Ngô Khuông Việt và Minh Không mà nhà Vua cũng phải kính trọng và tham vấn việc trị quốc, an dân. Do nhiều nguyên nhân, dần dần đạo Phật suy giảm vị thế và đến khi nhà Hồ (Hồ Quý Ly) thay thế nhà Trần rồi nước ta bị nhà Minh đô hộ thì đạo Phật không còn vị trí đáng kể trong xã hội Đại Việt.

Kể từ khi Lê Hoàn lên ngôi năm 980 mở đầu cho thời kỳ đạo Phật thịnh và đến năm 1407 khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ để thống trị nước ta và thi hành âm mưu đồng hóa Văn hóa Việt thì phật giáo suy vi.

Giai đoạn cuối thời Hậu Lê khi triều chính suy đồi, kỷ cương hỗn loạn, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi với một số lãnh tụ cát cứ các địa phương thì Vua cũng trở lên bất lực không duy trì được vai trò trị quốc. Trong tình hình ấy, với thế lực mạnh và thực quyền của mình, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, lập lên nhà Mạc (tháng 6 năm 1527).

Trong 65 năm tồn tại chính thức (1527-1592) khi định đô ở Thăng Long và xây dựng Dương Kinh (xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy nay) quê hương mình làm kinh đô thứ hai, nhà Mạc đã thực thi một số chính sách thúc đẩy kinh tế, thương mại, mỹ thuật dân tộc, kích thích Phật giáo và nhất là mở mang thi cử tuyển chọn nhân tài giúp nước.

Triều Mạc tuy trị vì ngắn ngủi nhưng cũng mang lại cho đất nước bước khởi sắc về trật tự xã hội, kinh tế và văn hóa trong đó có việc chấn hưng Phật giáo.

Nhà Mạc không ban hành chính sách cụ thể về tôn giáo tín ngưỡng nhưng dựa trên những việc làm thực tế của vua quan, các thành viên hoàng tộc trong việc cúng tiền, tặng đất hưng công, xây dựng chùa chiền, tạc tượng chứng tỏ triều đại này rất quan tâm tới việc phát triển đạo Phật.

Ngay sau khi nắm quyền, Mạc Đăng Dung đã cho sửa sang lăng miếu của vua Lê ở Nam Kinh và định kỳ cúng tế. Có quan điểm cho việc làm này chỉ là mị dân, che mắt thế gian, mong yên lòng người, tránh sự phản kháng của quần thần nhà Lê. Nhưng đánh giá như vậy có thật khách quan không? Nếu Mạc Đăng Dung không phải người nhân đức trung nghĩa thì sao lại làm vậy? Lịch sử Việt Nam đâu phải không có chuyện, để độc bá thiên hạ, các triều đại sau đã triệt phá dấu tích của các vương triều trước. Nên xem việc duy trì lễ cúng tế tông miếu nhà Lê của Mạc Đăng Dung không phải chỉ để tri ân một triều đại đối với đất nước. Lớn hơn thế, việc ông làm là để tôn vinh công trạng của nhà Lê với lịch sử dân tộc trong quan điểm “uống nước nhớ nguồn”.

Tiếp đó Mạc Đăng Dung lệnh cho trưởng thái giám hiệu Thụy Trúc thiền sư xây dựng chùa bà Đanh (chùa Thiên Phúc) ở Kiến Thụy - Hải Phòng. Có thể coi việc làm này là sự mở đầu cho công cuộc sửa sang, xây dựng lại những ngôi chùa đã bị phá bỏ trong thời kỳ thuộc Minh và lãng quên bởi nhà Lê sơ, tạo tiền đề cho sự phát triển của đạo Phật. Tư liệu văn bia thời Mạc là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ trở lại của đạo phật. Trong số 146 bia thời Mạc còn lại tới nay có tới 109 bia chùa với nội dung về ruộng đất chùa, việc xây dựng và người hưng công.

Đi tiên phong cho việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông là các thành viên của hoàng tộc nhà Mạc, tiếp đó là những người hiển danh có điều kiện kinh tế, cuối cùng là nhân dân địa phương. Theo tư liệu văn bia, có hàng trăm thành viên trong hoàng tộc và các đại thần của triều đình tham gia tu bổ và xây chùa phật.

Trong số những thành viên của hoàng tộc cung tiến tiền của xây dựng chùa trước hết phải kể đến các vị đương kim hoàng thượng như: Mạc Phúc Nguyên, đã ban “Cấm tiền” cho chùa Linh Cảm (Từ Sơn – Bắc Ninh, năm 1557), Mạc Mậu Hợp cúng 20 lạng bạc vào chùa Hoa Tân (Hải Phòng, năm 1582). Đặc biệt, Thài Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng bạc tiền cho trên chục ngôi chùa ở khu vực Dương Kinh (Kiến Thụy nay) và vùng phụ cận. Do công đức xây chùa, bà được dân gian tôn phong là “mẫu nghi thiên hạ, là Phật sống trên trần gian”. Chính vì lẽ đó bà Thái Hoàng Thái Hậu được dân làng nhiều nơi tạc tượng thờ còn để lại đến ngày nay ở một số chùa thành phố Hải Phòng.

Vị Thái hoàng Thái Hậu này còn tham gia xây chùa Thiên Phúc (như đã nói ở trên) cùng các thành viên hoàng tộc khác như: Hoàng Thái Hậu họ Phan, Khiêm Thái Vương họ Mạc, Tĩnh Quốc Thái phu nhân họ Nguyễn, Tu Hòa Thái Trưởng công chúa họ Mạc, Bảo Gia thái trưởng công chúa họ Mạc, Phúc Thành thái Trưởng công chúa họ Mạc, Khiêm Thái Vương phi họ Mạc,…..Tổng cộng 33 người. Đặc biệt bà Quận công Mạc Ngọc Liễn và Phúc Thành Thái trưởng công chúa tham gia xây dựng hàng chục ngôi chùa, quán, trong đó có Ninh Tiên. Tình cảm và niềm tin tôn giáo khiến họ trở thành tín đồ có pháp danh: Đức Quảng (Mạc Ngọc Liễn) và Từ Đức (phúc Thành) như nhà tu hành thực thụ. Các thành viên trong hoàng tộc đã công đức xây khoảng 80/168 ngôi chùa được xây dựng thời kỳ này.

Sự hưng khởi của đạo Phật vào thời nhà Mạc còn thể hiện ở chính sách ruộng đất. Nhà nước cho phép cá nhân cúng ruộng vào chùa dưới dạng làm công đức và đặt hậu. Chính vì vậy, dưới thời Mạc hầu như chùa nào cũng có ruộng, trong đó nhiều chùa có số ruộng lớn hàng chục mẫu như: chùa Pháp Vũ (Thường Tín – Hà Nội) 70 mẫu, chùa Hoa Tân (Hải Phòng) 50 mẫu, chùa Nghiêm Quang ( Hải Phòng) 31 mẫu, chùa Thiên Phúc (Hải Phòng) 25 mẫu 1 sào 2 thước.

Còn ở những nơi xa kinh kỳ như Ninh Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, việc xây dựng chùa đều do các quan địa phương khởi xướng với sự tham gia đóng góp của nhân dân trong làng xã.

Vào thế kỷ XVI, trong phạm vi kiểm soát của Bắc triều (Triều Mạc làm chủ từ vùng đất Ninh Bình trở ra Bắc), Phật giáo lại có điều kiện hưng khởi. Khắp vùng Hải Dương, An Bang, Sơn Tây, Kinh Bắc chùa chiền mọc lên khá nhiều. các chùa Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu thuộc Kinh Bắc đã được trùng tu. Trên đất Hải Dương các chùa Quỳnh Lâm, Sùng Quang, Đông Sơn được tu bổ lại to lớn, đẹp đẽ hơn.

Tư liệu về mỹ thuật đời mạc đến nay rất nghèo nàn vì chiến tranh và sự trả thù, thủ tiêu của tập đoàn Lê-Trịnh:

Năm 1592 khi truy kích quân Mạc ở huyện Thanh Hà thì nhà cửa tại các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn bị quân Lê-Trịnh đốt cháy gần hết.

Khi Chúa Trịnh giúp vua Lê khôi phục kinh sư đã đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai Hải Phòng, hủy bia đá ở mộ các thân vương nhà Mạc, chặt hết cây trồng trong lăng.

Tuy nhiên nhân dân nhiều nơi, nhất là người xứ Đông (gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình) vốn rất cảm tình với nhà Mạc đã gìn giữ được một số di vật quý giá mà từ trước năm 1945 ta đã biết là các bia đá và chân đèn gốm khắc rõ các niên hiệu thời Mạc, sau đó lại biết tượng Mạc Đăng Dung và bà bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản (vợ Mạc Đăng Dung) ở chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy, Hải Phòng); Tượng Mạc Đôn Nhượng ở chùa Phúc Linh (thôn Nhân Trai, xã Đại Hà, Kiến Thụy).

Năm 1987 pho tượng Đức Vua (nhà Mạc) bằng đá ở chùa Hưng Khánh, thôn Trung Hành, xã Đằng Lâm (nay thuộc quận Hải An, Hải Phòng) được hai nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Hạnh và Nguyễn Anh Tuấn đoán định thuộc thời Mạc.

Năm 1992, Viện Mỹ thuật đã trở lại 3 ngôi chùa trên để thẩm định phong cách và tìm hiểu những văn tự bổ trợ góp phần làm rõ niên đại và nhân thân tượng.

Ở chùa Thiên Phúc, tượng bà Vũ Thị Ngọc Toản ở trong vòm có 2 chữ Động Phủ, phía nam có 2 dòng chữ “trung nguyên tân hội niên tứ nguyệt sơ nhất nhật” “Tăng Phúc Huyền phụng hoành” cho biết tượng được làm từ năm 1551 do nhà sư Phúc Huyền tổ chức làm. Còn tượng Đức Vua ở chùa Hưng Khánh tìm được dòng chữ “Quý mùi niên, Trung Hành xã. Phù Đông Hầu tạo - Kính chủ xa – Ngũ nhân tạo” cho biết niên đại của tượng là 1583, do ông Phù Đông, tước hầu ở xã Trung Hành đặt làm (hay tạc tượng mẫu), còn tạc trực tiếp là 5 người thợ ở xã Kính Chủ.

Trở lại chùa Phúc Linh, pho tượng đá cho là của Mạc Đôn Nhượng có tước hiệu là Khiêm Vương. Nhưng Khiêm Vương lại là tước hiệu của Mạc Kính Điển còn tước hiệu của Mạc Đôn Nhượng là Ứng Vương. Vả lại pho tượng lại có dáng hình giống như tượng Đức Vua (Thái tổ Mạc Đăng Dung) ở chùa Hưng Khánh đã nói ở trên và chùa Bạch Đa và chùa Đại Linh dưới đây. Ngoài ra ở chùa Phúc Linh còn có pho tượng gỗ Ông Thiện có dáng dấp chung gợi nhớ tượng Mạc Đăng Dung ở chùa Thiên Phúc (Trà Phương). Phải chăng pho tượng đá ở đây cũng là Đức Vua (Mạc Đăng Dung) như ở chùa Hưng Khánh, còn pho tượng gỗ mới là Mạc Đôn Nhượng.

Chùa Phúc Hải (xã Đa Phúc) có pho tượng đá đức vua to bằng người thực, đội mũ bình thiên, áo hoàng bào, cầm hốt, ngồi ngai, tạc năm 1580. Chùa Đại Linh (thôn Đại Trà, xã Đông Phương, Kiến Thụy) có hai pho tượng đá là Đức Vua và Quan âm tọa sơn, tạc năm 1570. Chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu) có khá nhiều tượng đá có thể thuộc thời Mạc. Bên cạnh bộ tượng Tam Thế phải kể đến hai tượng Ông Hoàng được tạo hình mang dáng dấp tượng Đức Vua ở các chùa

trên, chỉ khác là ngồi bục chứ không ngồi ngai.

Có thể thống kê được 7 pho tượng Đức Vua ở Hải Phòng được cho là vua Mạc (Mạc Đăng Dung hoặc Mạc Mậu Hợp). Hai vị vua này để lại dấu ấn trong dân gian vì Thái tổ Mạc Đăng Dung có công lập lên triều Mạc, còn Mạc Mậu Hợp là người giữ ngai vàng lâu nhất (1562-1592)

Chùa Minh Phúc (Thôn Minh Thị - Xã Toàn Thắng - Huyện Tiên Lãng) cũng có tượng bà Hoàng Thái Hậu Vũ Thị (Bà Hoàng Thái Hậu có tên là Vũ Thị Quỳnh là vợ ba Thái Tổ Mạc Đăng Dung) gắn vào tấm bia mang hình thức vòm động có 3 chữ “Vân Thủy Âm”. Tượng có hình khối, đường nét bố cục tương tự tượng bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản ở hai chùa Hòa Liễu và Trà Phương. Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan âm có lẽ bởi lòng thương dân và những đóng góp cho việc hưng công, cúng dàng xây dựng chùa chiền. Hội minh thề khởi nguồn ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy là một minh chứng cho thái độ chống tham nhũng, tư lợi của bà.

Cuộc nội chiến Lê Mạc kéo dài hơn 140 năm đã gây lên bao nỗi khổ triền miên cho nhân dân, khiến con người tìm đến với đạo phật như một cứu cánh tinh thần. Đạo Phật đã chỉ cho con người thấy cuộc đời là bể khổ trầm luân, giả tạm. Từ Hoàng Hậu, thân vương, công chúa triều Mạc đến dân thường đã tìm thấy ở đạo Phật niềm an ủi trong tâm hồn.

Cần phải nói rằng trong thời Mạc, giáo lý Phật giáo kém phát triển. Mặc dù dưới triều Mạc xuất hiện một thiền sư khá nổi tiếng là Chân Nghiêm trụ trì tại chùa Sùng Quang, xã Xuân Lâm, huyện Cẩm Giàng có nguyện ước bảo tồn truyền thống dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhưng nhìn chung thời này giáo lý không có gì mới. Thiền sư Chân Nghiêm cho in và công bố sách Thánh Đăng Ngữ lục và viết lời tựa cho sách này vào năm 1550 đời Mạc Phúc Nguyên. Sách ghi chép tiểu sử của 5 vị đại thiền sư đời Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và Trần Minh Tông. Hạn chế của Thánh đăng ngữ lục là có nhiều tài liệu trùng với  Tam Tổ Thực Lục và Khóa Hư Lục.

Thời Mạc, ở các chùa làng có khá nhiều pho tượng Phật có giá trị lịch sử và mỹ thuật. Đặc biệt, pho Quan Âm Nam Hải ở chùa Đa Tốn (Gia Lâm-Hà Nội) có 42 tay lớn và 652 tay nhỏ. Đối với loại tượng quan âm nhiều tay thì đây là pho tượng ra đời sớm nhất ở nước ta. Mặt tượng có kiểu chân dung với vẻ đôn hậu, tươi mát của người thôn nữ Việt Nam bình dị.

Từ mật độ đình, chùa được xây dựng dưới thời Mạc và việc người dân bí mật bảo vệ hình tượng các thân vương nhà Mạc như Mạc Đăng Dung, Mạc Đôn Nhượng, 2 bà Hoàng Thái Hậu nói trên… cho thấy nhà Mạc đã biết cách lấy lòng dân thông qua hoạt động hoằng dương đạo Phật, đề cao khoa cử và như thế mới giải thích được việc tại sao khi nhà Mạc thất thế mà lòng dân xứ Đông vẫn tin theo (Nhiều tượng Đức Vua được che dấu dưới ao, giếng hay tượng bà Hoàng Thái Hậu, công chúa Mạc ẩn dưới lốt Phật bà quan âm, chúa Thượng Ngàn).

Cuối cùng, để đánh giá công lao của nhà Mạc đối với đạo Phật và văn hóa dân tộc, xin dẫn ra đây nhận định sau của các học giả: trong cuốn Mỹ thuật thời Mạc (Hà Nội, 1993), các nhà nghiên cứu khi xem xét mỹ thuật thời Mạc thể hiện trên các kiến trúc, điêu khắc, trang trí đình chùa, tượng Phật, tượng thờ, gốm sứ đã kết luận thời nhà Mạc trị vì là thời đại chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bởi chủ trương dương Nho ức Phật của nhà Lê sơ. Sự hưng khởi này đã tạo ra sức sống mãnh liệt cho một nền mỹ thuật mang đậm bản sắc dân tộc, dân gian.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Tục thờ Mẫu và nghi thức hầu đồng

Tục thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng (hay còn gọi là hầu bóng) là hoạt động tín ngưỡng dân gian chứa đựng những giá trị văn hoá tâm linh truyền thống của người Việt. Trong đó hầu đồng là nghệ thuật trình diễn tổng hợp, có âm nhạc, có lời ca, điệu múa và sự cộng hưởng cảm xúc thăng hoa của những người diễn xướng và tham dự. Trải qua thời gian thăng trầm, tục thờ mẫu và nghi lễ hầu đồng vẫn tồn tại đến ngày nay và giờ đây đã được chính thức ghi nhận bởi cơ quan quản lý văn hóa như một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống Việt Nam. Năm 2013 đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng với những giá trị văn hoá đặc sắc, đã được lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể.

alt

Thờ Mẫu là tập tục có từ lâu đời ở Việt Nam, bắt nguồn từ tục thờ các vị nữ thần có từ thời nguyên thủy, đại diện cho thiên nhiên như Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa…sau này nhân gian còn suy tôn các vị nữ anh hùng, các công chúa, Hoàng hậu, hay bà Tổ nghề của một làng nghề.. là Thánh Mẫu. Vậy là thánh Mẫu có thể là thiên thần có quyền năng màu nhiệm, huyền bí và cũng có thể là nhân thần có công lớn với dân với nước như người mẹ bao dung chở che, phù trì cho con người. Có lẽ vì vậy mà trong tâm thức dân gian người Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân vừa là Thành hoàng Hải Phòng lại vừa là một vị thánh Mẫu (thánh Chân công chúa).

Đối với người dân Việt Nam, vị nữ thánh tối cao được tôn thờ là thánh mẫu Liễu Hạnh. Theo truyền thuyết bà là công chúa-con của Ngọc Hoàng thượng đế, do có lỗi với Ngọc Hoàng mà bị vua cha đày xuống trần gian đầu thai (2 lần ở Nam Định, 1 lần ở Thanh Hóa). Dưới trần bà thể hiện là người phụ nữ giỏi công, dung, ngôn, hạnh, tài cầm, kỳ, thi, họa và thi triển nhiều phép nhiệm mầu cứu giúp nhân dân khỏi tai ách cũng như trừng trị bọn người xấu, quan lại độc ác. Sau khi hóa, bà còn âm phù giúp vua, chúa chống giặc ngoại xâm. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Hậu Lê đến triều Nguyễn đều phong mỹ tự và sắc phong danh hiệu thượng đẳng tối linh thần cho bà. Đền thờ chính thờ công chúa Liễu Hạnh ở Phủ Dầy (Nam Định). Ngoài ra nhiều nơi khác cũng có đền thờ bà như ở phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng (Thanh Hóa), phủ Lạng Sơn - là những nơi bà đã từng hiển linh… Ở Hải Phòng có một địa điểm thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh là phủ Thượng Đoạn (ở thôn Thượng Đoạn, xã Đông Hải, huyện Hải An xưa), nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An, Hải Phòng. Tương truyền, đây là nơi mẫu Liễu đã từng vân du làm việc thiện, được dân gian ghi nhớ công ơn lập đền thờ.

Theo tín ngưỡng dân gian, vũ trụ được chia ra làm ba miền (ứng với tam phủ) hoặc bốn miền (ứng với tứ phủ) và mỗi miền lại được biểu tượng hóa bằng màu sắc. Tam phủ gồm: Thiên Phủ (cõi trời-màu đỏ), Địa phủ (cõi đất-màu vàng) và Thoải phủ (cõi nước - màu trắng). Còn Tứ phủ ngoài Thiên Phủ, Địa phủ, Thoải phủ còn có thêm Nhạc phủ (miền rừng núi-màu xanh). Bởi vậy ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy có gian thờ Mẫu, trong đó có thờ tam tòa Thánh Mẫu hay Tứ Phủ với các bức tượng nữ thần trong trang phục màu đỏ (tượng trưng mẫu Thượng Thiên tối cao sinh ra muôn loài), trang phục màu vàng (địa phủ - Mẫu đất, cai quản thế giới âm), trang phục màu trắng (Thoải phủ - mẫu nước, cai quản thế giới nước) hay trang phục màu xanh (nhạc phủ - mẫu Thượng Ngàn, cai quản miền rừng).

Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian, Thánh Mẫu thực chất chỉ là một vị, nhưng đã được hóa thân thành 3 hoặc 4 vị nữ thần để cai quản những vùng miền khác nhau của vũ trụ. Bởi thế các Mẫu là đại diện của một vị Thánh Mẫu duy nhất là người mẹ tâm linh - biểu tượng bất diệt trong lòng người dân Việt. Ở đây bà chúa Liễu Hạnh được coi là vị Thánh Mẫu như vậy. Mẫu Liễu Hạnh cũng là vị thánh nữ duy nhất trong 4 vị thánh bất tửcủa Thần đạo Việt Nam là: Tản Viên sơn thánh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh công chúa.

Dân gian có câu “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ”. “Cha” ở đây là đức thánh Trần Hưng Đạo mà nhân dân tôn phong và “mẹ” chính là thánh Mẫu Liễu Hạnh, một người là nhân thần, một người là thiên thần. Trong tâm thức dân gian họ đều là những bậc đức cao, công lớn trong việc phù trì, bảo vệ nhân dân như người cha, người mẹ luôn che chở, bảo vệ con dân thoát khỏi khổ đau, hoạn nạn.

Trong tháng 3 và tháng 8 âm lịch hàng năm (ngày mất của mẫu Liễu và thánh Trần), người dân nước ta thường long trọng tổ chức tế lễ thánh Mẫu Liễu Hạnh và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Trong đạo Mẫu, ngoài các vật phẩm cúng dâng nữ thánh còn có các nghi thức tôn thờ khác với hình thức sân khấu tâm linh là lễ lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng). Hầu đồng dần trở thành nghi lễ quan trọng của sân khấu tâm linh với nghệ thuật hát dân gian kết hợp âm nhạc và điệu múa, đó là hát Chầu văn.

Nghi thức hầu đồng thường diễn ra ở các phủ, đền, chùa và không chỉ là hình thức tôn thờ thánh mẫu mà còn là hình thức tôn thờ các vị anh hùng, tướng lĩnh, thân hầu, công chúa, hoàng tử, những người có nhiều công lao với dân, với nước trong lịch sử dân tộc.

Trong đền, phủ bên cạnh các Mẫu còn có các quan được phối thờ như: Tôn quân thần Triều, Thái sư nhất phẩm, quan Đệ nhất, quan Đệ nhị, quan Đệ tam, quan Đệ tứ, quan lớn Tuần Tranh, quan Hoàng triều. Các đức chúa có: chúa Ba, chúa Thác Bà, chúa Bắc Lệ, chúa Mười Đồng Mỏ... Rồi các đức ông: Hoàng Cả, Hoàng Ba, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười. Bên dưới có các cô: cô Đệ nhất, cô Đôi Thượng, cô Đôi Thoải, cô Năm suối, cô Sáu lục cung, cô Tám đồi chè, cô Chín, cô Mười, cô Bé. Các cậu gồm: cậu Hoàng cả, cậu Hoàng đôi, cậu Hoàng ba, cậu Hoàng bé.

Các buổi hầu đồng được chuẩn bị rất kỹ càng với các lễ vật dâng cúng thần linh được bày biện đẹp mắt, ánh đèn nến lung linh tạo ra không gian sân khấu huyển ảo, lộng lẫy. Các giá đồng diễn ra trong tiếng đàn, tiếng phách, tiếng hát khi trầm khi bổng càng lối cuốn hấp dẫn người tham dự. Các giá đồng thường có từ 2 đến 4 người phụ giúp để chuẩn bị các trang phục lễ lạt cho “cô” đồng, “cậu” đồng. Trong một buổi lên đồng thường có nhiều giá đồng (có tới 36 giá). Mỗi lần thay giá đồng, người ta lại phủ một tấm vải đỏ lên đầu người hầu đồng và mỗi giá đồng phải thay một bộ trang phục, quần áo, khăn chầu, cờ quạt cho tương xứng với vị thánh hay ông Hoàng, bà chúa được tôn thờ.

Bản chất nghi thức hầu đồng là việc mượn thân xác của các ông đồng, bà đồng để thần linh nhập vào nhằm cầu xin tài lộc, sức khỏe ban cho con người. Người hầu đồng, gọi chung là Thanh đồng, nếu là nam giới thì được trang điểm như nữ giới và gọi là “cậu”, còn nữ giới được gọi là “cô” hay “bà đồng”. Trong tiếng nhạc, tiếng đàn, tiếng hát cung văn khi trầm khi bổng ngâm các bài thơ cổ kể lại những câu chuyện, tích xưa, người hầu đồng khi thì hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một vị quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa. Điệu múa của Thanh đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của từng giá đồng. Giá quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao; giá các chầu bà thì múa quạt, múa khăn; giá ông hoàng thì có múa cờ, còn giá các cậu thường múa hèo (gậy), múa lân ...Những người lên đồng lúc đó như diễn viên biểu diễn, hóa thân thành các nhân vật lịch sử được tôn thờ.

Về thanh đồng: bất cứ ai nếu có căn đồng (theo quan niệm) đều có thể nhập đồng và biểu diễn các giá đồng, gồm 36 giá. Mỗi giá đồng thể hiện một nhân vật cụ thể, với tên tuổi và tính cách khác nhau. Ví dụ: giá bà chúa Bắc Lệ phải khác với Mười Đồng Mỏ; giá các đức ông thì phải oai phong, lẫm liệt, múa kiếm, bắn cung; giá các cô bé thì phải điệu đàng, duyên dáng; giá các cậu thì nhí nhảnh, nghịch ngợm..

Thanh đồng khi nhập đồng múa các điệu theo tính cách của từng giá đồng, còn ở dưới cung văn tấu nhạc theo làn điệu chầu văn, lời ca mô tả nhân vật của giá đồng, tả quang cảnh nhân vật xuất hiện, kể sự tích và công đức của họ. Các lời ca kể chuyện, lời thơ được xướng lên trầm bổng, du dương cùng các điệu múa phụ họa, âm thanh, màu sắc, hương thơm hoa quả, khói hương và sự tham dự của nhiều người khiến không khí buổi hầu đồng trở lên linh thiêng, cuốn hút.

Nghi lễ hát lên đồng được chia ra các phần: Mời Thánh nhập; kể sự tích, công đức; xin Thánh phù hộ và đưa tiễn. Do đó, cuối mỗi giá đồng, cung văn đều tấu câu “Xe loan Thánh giá hồi cung”. Ban nhạc chầu văn thường có các nhạc cụ: đàn nguyệt, trống ban (trống con), nhị, sáo, phách, thanh la...

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong nước và quốc tế đều cho rằng: tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng mang giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt, đó là tinh hoa chắt lọc suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, đó là biểu tượng của sức mạnh cộng đồng, truyền thống biết ơn, tôn thờ đấng bảo hộ, chở che, của người Việt Nam. Với những giá trị văn hoá đặc sắc như vậy, đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng là những loại hình di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của dân tộc cần được bảo tồn và phát triển.

Với những giá trị văn hóa độc đáo, mang bản sắc Việt Nam, tháng 12 năm 2016, Uy ban Văn hóa-Khoa học-Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận “Thực hành nghi thức thờ Tam phủ của người Việt” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Đó là một vinh dự của đất nước ta, nó chứng tỏ bản sắc văn hóa Việt Nam đã được thế giới biết tới.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Đặc điểm nhà Mạc trong lịch sử dân tộc

VIỆC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG PHỐ: CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ, MẠC THÁI TÔNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC.

alt

GS. TSKH Phan Đăng Nhật

Trên báo Tuổi trẻ ngày 9-6-2015 có đăng bài “Giải mã nhà Mạc quanh chuyện đặt tên đường”và ý kiến của ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở V-TT&DL T/P Hà Nội, muốn “lắng nghe ý kiến rộng rãi” của nhân dân. Tôi xin phát biểu ý kiến về vấn đề trên.

Để đặt tên đường phố, cần phải nắm chắc toàn diện công lao của nhân vật lịch sử, nếu là người lập nên một triều đại, cần đối chiếu công lao của cá nhân với triêu đại mà họ lập nên. Chỉ chú mục vào một sự kiện và tách rời sự kiện đó ra khỏi hoàn cảnh lịch sử để khen hoặc chê là thái độ thiếu khách quan. Vì vậy, đầu bài của chúng tôi có các nội dung như trên và trình tự của bài viết gồm có các phần chính:

-Tóm tắt đặc điểm của nhà Mạc trong lịch sử dân tộc.

-Công lao của Mạc Thái tông và Mạc Thái tổ

I.TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

1.Nhà Mạc tồn tại tương đối lâu dài

+Tổng số thời gian tồn tại là 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử:

-Thời kỳ Thăng Long-Dương Kinh: 65 năm (1527-1592)

-Thời kỳ Cao Bằng, 91 năm (1592-1683)

-Thời kỳ Hậu Cao Bằng, 86 năm (1683-1769)

Xin đối chiếu với một số triều đại khác:

+các triều đại được coi là chính thống: Lý: 215 năm, Trần: 175 năm, Lê sơ: 99 năm, Lê Trung hưng: 245, Nguyễn: 143

+các triều đại bị quy là không chính thống: Hồ : 7 năm, Tây Sơn: 24 năm.

+Nhà Mạc bao gồm 12 đời vua và một đời chúa ( chúa lớn chẩu luông-Hoàng Công Chất).

Chúng tôi nghĩ rằng các con số trên đây, chứa đựng rất nhiều thông tin. Trước hết, chứng tỏ, nhà Mạc là một vương tộc được nhân dân rất ủng hộ, mà nhân dân đã đem xương máu bảo vệ, trong hai thế kỷ rưỡi, bất kỳ ở đâu; ở Thăng Long-Đông Đô, 65 năm; ở hành tại Hải Dương, 7 vạn người lập tức đi theo dưới cờ vua Mạc Kính Chỉ; ở miền núi Cao Băng; ở miền núi Tây Băc, dưới cờ chúa lớn Hoàng Công Chất . Về vấn đề này, GS Nguyễn Minh Tường đã nhận định đúng: “Nhiều nhà nghiên cứu đã nói tới vị trí hiểm trở của vùng cát cứ Cao Bằng và sự che chở của nhà Minh, nhà Thanh đối với họ Mạc. Nói như vậy là hoàn toàn đúng, song có lẽ chưa thật đầy đủ. Vì lẽ, nếu như con cháu họ Mạc không nhận được sự ủng hộ của nhân dân ở hầu khắp miền Bắc thì dù địa bàn hoạt động thuận lợi mấy đi nữa hay kể cả được phong kiến Trung Quốc gây áp lực với triều đình Lê - Trịnh, họ cũng không thể trụ lại ở Cao Bằng lâu như vậy (91 năm)”.

Đến đây có vấn đề được đặt ra, tại sao được như vậy, lại trong hoàn cảnh bị Lê-Trịnh truy sát, tiêu diệt một cách man rợ, vấn đề này xin được bàn vào dịp khác.

Thông tin thứ hai là, tính kiên định, kiên cường của nhà Mạc trong sự nghiệp chiến đấu chống phong kiến Lê-Trịnh (điểm 2)

2.Tuyệt đối kiên định, bất di bất dịch là đánh đổ phong kiến Lê-Trịnh , lập nên và lập lại vương triều Mạc (phục Mạc).

3.Quyết tâm bảo vệ đất nước, dầu hoàn cảnh nào “cũng không mời người Minh/ ngoại xâm đặt chân lên đất nước ta, coi đó là một tội lớn” (Mạc Ngọc Liễn)

-năm 1540 Thái tổ Mạc Đăng Dung đã đẩy lùi 22 vạn quân Minh đã kéo sang biên giới nước ta. (sẽ trình bày kỹ ở phần sau-công lao của Mạc Thái Tổ)

-Chúa lớn (chẩu luông ) Hoàng Mạc Công Chất, đánh đuổi giặc Phẻ, từ Vân Nam sang, thu hồi đất đai toàn Tây Băc, lấy lại Thập Châu bị phong kiến Trung Quốc chiếm: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Châu La, Luân Châu, Quảng Lãnh, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Toàn, Tuy Phụ, Khiếm Châu.

4. Hết sức chăm lo đời sống cho nhân dân

Nhà Mạc chăm lo đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân, đã từng xây dựng một xã hội no ấm, ổn định, kỷ cương.

Chính sách kinh tế của nhà Mạc đã đem lại đời sống ấm no, an lạc cho nhân dân. Mặc dù quan điểm đối nghịch nhưng các sử gia nhà Lê vẫn phải thừa nhận về cảnh thái bình thời Mạc “Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”.

Về nội dung này, sách Toàn thư ghi như trên và thêm một số chi tiết: “Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”.

Phan Huy Chú nhân nói về vua Mạc Đăng Doanh, cũng ca ngợi tình hình xã hội và đời sống của nhân dân đương thời: “Mạc Đăng Doanh tính tình khoan hậu. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khoá. Bấy giờ được mùa, nhà no người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình”.

Một sự kiện lịch sử được các nhà sử học đồng thanh nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ rằng đó là một sự thật hiển nhiên.

5.Chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân:

-Nhà Mạc sùng Nho, sùng Phật, Lão, Mẫu, văn hóa dân gian,… (Thăng Long -Dương Kinh)

-Khi ở Mường Thanh, thủ lĩnh Hoàng Công Chất lại tiếp tục chăm lo đến đời sống nhân dân như các tiên đế của mình, điều này đã được ghi trong câu ca mà nhân dân đời đời truyền tụng:

“Người Thái với người Lào, người Xá.

Vui vẻ cùng nhau tay làm miêng hát” (Hậu Cao Bằng).

6.Nhà Mạc phát triển kinh tế toàn diện, “trọng nông” mà không “ức thương”, phát triển mạnh thủ công nghiệp, đặc biệt là đồ gốm; phát triển nội, ngoại thương (không “bế quan tỏa cảng”).

7.Nhà Mạc rất quan tâm đào tạo nhân tài, tổ chức đều mỗi ba năm một kỳ thi hội, kể cả lúc quân Trịnh sắp đánh đến Thăng Long. Đào tạo được 13 trạng nguyên và 458 tiến sỹ, trong đó có những nhân tài kiệt xuất như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trạng nguyên Giáp Hải.

Nhà Mạc là triều đại duy nhất, trong “ngót nghìn năm của lịch sử khoa cử Việt Nam phong kiến” (Ngô Đức Thọ), đã lấy đỗ một nữ tiến sỹ độc nhất, bà Nguyễn Thị Duệ. Sau khi phát hiện bà Duệ giả trang con trai để đi thi, vua Mạc Kính Cung, không tru di về tội khi quân, mà mời bà vào triều. Điều này , thêm một lần nữa, trong muôn vàn sự kiện chứng minh tính chất dân chủ , nhân văn của nhà Mạc.

8.“Mạc thị sùng Nho” nhưng không độc tôn Nho giáo, khuyến khích cả Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ thần làng, văn hóa dân gian, đạo Mẫu, và không bài xích tôn giáo ngoại nhập.

9. Mở rộng sở hữu tư nhân, coi trọng vai trò sáng tạo cá nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử , tên nghệ nhân và người cung tiến được khắc trên đồ gốm.

10.Triều Mạc, thông thoáng, cởi mở về tư tường và ngôn luận

11.Vào thời Mạc, chúng ta đã xây dựng được một nền mỹ thuật riêng phát triển rực rỡ và độc đáo. GS Trần Lâm Biền đã viết: “Chúng tôi tạm có thể yên tâm mà nói rằng, thực sự đã có một nền mỹ thuật Mạc riêng. Nền mỹ thuật này đậm tính nhân bản, biểu hiện nhiều yếu tố tự do và phản ánh được một số vấn đề của lịch sử….Cuối cùng có thể nói rằng, nghệ thuật tạo hình dân dã trong thế kỷ XVI đã diễn ra dưới mắt ta như một sự “bùng nổ” tất yếu. Dưới bàn tay điêu luyện của nghệ sỹ đương thời, dòng nghệ thuật dân tộc đã được kế thừa và phát triển như mở đầu cho một thời kỳ “phục hưng” .

12.Văn học Mạc tiếp cận sâu sắc đa dạng về đời sống thực tiễn. Điều này được coi là phát hiện lớn “được coi là phát hiện lớn” , là “mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực, đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường”, “là một cống hiến đáng kể của văn học thời Mạc” (Huệ Chi). coi trọng hiện thực trong sáng tác văn chương, mở ra một nền văn chương có tính thực tế và tính nhân văn

13.Nhà Mạc rất trọng chữ nôm. Thơ văn nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Hoàng Sỹ Khải, Lê Bá Ly,… đã tạo ra một thời kỳ văn học nôm rực rỡ trong lịch sử văn học dân tộc.

Nhận định chung về nhà Mạc, Trần Khuê, đã viết cách đây 24 năm (1991), lúc bấy giờ tư liệu mới về nhà Mạc chưa nhiều như ngày nay : “Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém vương triều chính thống nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những nét độc đáo, mang bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau này sánh nổi”

II.CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ VÀ MẠC THÁI TÔNG

Thái tổ chỉ làm vua ba năm, sau đó giữ vai trò Thái thượng hoàng lui về Dương Kinh, làm “ngoại viện” cho Mạc Thái tông, thời gian 10 năm, tận cho đến khi Thái tông băng hà . Cho nên trong công lao của Thái Tông có sự đóng góp của Thái tổ.

II.1.Mạc Thái Tông

PGS. TS Trần Thị Vinh nhận định về vua Mạc Đăng Doanh như sau:“Nắm giữ triều chính trong bối cảnh đất nước còn nhiều loạn lạc và lắm mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến thù địch, Mạc Đăng Doanh đã khéo biết chèo lái, vừa giữ vững pháp độ, vừa cấm làm những việc hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và tạp dịch, tạo dựng cho dân lành một cuộc sống bình yên, no đủ “ban đêm ngủ cửa không cần phải khoá”, “khi ra đường không phải mang theo khí giới để phòng vệ”, “nhiều năm liền phong đăng, dân cả bốn trấn đều yên ổn”. “Về mặt Văn hoá giáo dục thì triều vua Mạc Đăng Doanh đã làm được những việc vô cùng quan trọng và vô cùng có ý nghĩa, không chỉ đặt nền móng cho các triều vua sau mà còn cho cả vương triều Mạc, đó là việc đào tạo được một đội ngũ trí thức nho học có nhiều tài năng và tâm huyết phụng sự vương triều Mạc với những gương mặt vô cùng sáng giá đại diện cho lớp trí thức mới của thời Mạc nói riêng và trí thức của Đại Việt trong thế kỷ XVI nói chung, như: Nguyễn Thiến, Bùi Vịnh, Nguyễn Lương Bật, Nguyễn Bỉnh Kiêm, Giáp Hải v.v.. họ đều là những bậc trí thức có tài đỗ đạt dưới triều vua Mạc Đăng Doanh. Vào đầu thời Mạc, dưới triều Mạc Đăng Dung mới chỉ tổ chức được một khoa thi Tiến sĩ (năm 1529) tuyển chọn người tài vào giúp việc triều đình thì dưới triều vua thứ hai - Mạc Đăng Doanh, cứ đều kỳ, 3 năm mở một khoa thi chọn Tiến sĩ, mặc cho chiến sự xảy ra triền miên. Dưới triều Mạc Đăng Doanh đã tổ chức được 3 khoa thi vào các năm: Nhâm Thìn(1532), lấy đỗ được 27 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng Nguyên Nguyễn Thiến (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh); năm Ất Mùi (1535) lấy đỗ 32 Tiến Sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) và khoa thi năm Mậu Tuất(1538) lấy đỗ 36 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Giáp Hải (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) ”.

II.2.Mạc Thái Tổ: Cách ứng xử của Mạc Thái tổ-một kinh nghiệm lịch sử về đấu tranh “hoãn xung”

II.2.1.Duyên cớ của chủ trương “xuất quân chinh phạt” của nhà Minh, hành động bán nước của nhóm Trịnh Duy Liêu

Phong kiến nhà Lê đã nhiều lần liên tục cho người đi cầu cứu nhà Minh đem quân sang đánh ta. Với danh nghĩa là đánh Mạc, nhà Minh sẽ thừa cơ tàn sát tiêu diệt luôn cả nước Việt. Đây là một mục đích truyền đời của phong kiến phương Bắc. Nhà Lê thừa biết điều này, nhưng vì quyền lợi ích kỷ của vương quyền, vẫn cứ ra sức van nài nhà Minh. “Nhà Mạc muốn tránh nguy hiểm trong cuộc đụng độ với nhà Minh. Tuy nhiên, nguy cơ chiến tranh ngày càng thúc bách, một phần bởi những mưu đồ thù địch của một số bề tôi trung thành với nhà Lê”

Rất nhiều lần phái đoàn vua Lê hoặc bề tôi cũ của nhà Lê đi sang Trung Quốc để tố cáo nhà Mạc, kích động chiến tranh của nhà Minh. Riêng năm 1537 liên tiếp có 3 lần (kể cả trường hợp Vũ Văn Uyên):

- “Năm 1529, Trịnh Ngung, bề tôi cũ của nhà Lê đã sang Trung Quốc để tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngay sau khi trung hưng triều Lê, năm 1533, Trịnh Duy Liêu liền được cử đi Trung Quốc để tiếp tục tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngày 3 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (13 - 3 - 1537), cháu dòng đích của vua An Nam tên là Lê Ninh (Trang Tông) sai người trong nước là bọn Trịnh Duy Liêu gồm 10 người đến kinh đô xin hưng binh hỏi tội để cứu nguy nạn nước”.

- “Tháng 6 năm 1537, phái bộ của Trịnh Duy Liêu do triều đình Lê phái sang Yên Kinh”.

- “Ngày 6 tháng 9 năm Gia Tĩnh thứ 16 (9 - 10 - 1537). Trước đó người Giao chỉ Vũ Văn Uyên mang đồng đảng đến hàng... Văn Uyên có 10.000 quân, đợi thiên binh xuống phía Nam, sai cháu là Vũ Tử Lăng đóng tại cửa ải Thạch Lang để nhập theo”.

Tóm lại, âm mưu của phong kiến nhà Lê “cõng rắn”, “rước voi” rất dai dẳng, quyết liệt. Hơn nữa, không những chỉ van xin, mà còn ra sức tạo điều kiện vật chất, cụ thể để quân Minh nhanh chóng và thuận lợi kéo sang đánh ta.

Như thế rõ ràng là phong kiến Lê-Trịnh đã dẫm vào vũng bùn cũ, đi theo vết xe đổ của Trần Ích Tắc, mà những kẻ thực thi là Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên. Họ đã nhiều lần quyết liệt, khẩn khoản van lạy nhà Minh kéo quân sang An Nam để “hưng binh hỏi tội”.Họ lại còn tạo điều kiện cụ thể để quân Minh giết hại dân ta có hiệu lực. Kết quả là Minh Thế Tông đã giao cho Mao Bá Ôn chỉ huy 22 vạn quân kéo sang biên giới, Vũ Văn Uyên và cháu là Vũ Tử Lăng đóng 1 vạn quân ở cửa ải để làm nội ứng.

Lịch sử cần ghi thêm danh sách những kẻ “cõng rắn”, “rước voi”, bên cạnh Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Gia Long; còn có Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên.

Đây thực sự là bán nước, không hiểu tại sao nhiều người che đậy?

Có hành động bán nước trên , Mạc Đăng Dung mới buộc phải cứu nước theo phương hướng hoãn xung.

II.2.3.Chiến lược của Mạc Đăng Dung

Mạc Đăng Dung thực hiện một chiến lược vừa đánh vừa hoà.

- Chuẩn bị đánh: “Lê triều thông sử cũng cho biết Mạc Đăng Doanh đã tu sửa trại, sách, luyện tập thuỷ quân; trưng cầu hết thảy những cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước”. Phục chức cho Thái bảo tĩnh quốc công Vũ Hộ, cử làm tả đô đốc Đông quân Chưởng phụ sự.

Thù vực chu tư lục cho biết triều đình nhà Minh còn tranh cãi khá gay gắt về việc đánh hay không đánh. Khi Mao Bá Ôn đến Nam Ninh đã thấy quân dân Việt chuẩn bị chống lại quyết liệt, lấy thuốc độc, bã đậu bỏ vào suối nước, đào hố chôn cọc tre để ngựa sa hố, lại phao ngôn sẽ theo đường biển tập kích Quảng Đông. Như vậy, chứng tỏ khi ấy nhà Mạc chuẩn bị sẵn sàng hai kế sách chiến và hoà”.

- Lập nhiều đồn luỹ ở biên giới mà trong “Vãng giao chỉ đồ”, in ở An Nam đồ chí, nhà Minh gọi là “tặc doanh”.

- Cho người làm nhiệm vụ tình báo “dò la bám sát các hoạt động quân sự của nhà Minh, như trường hợp tri châu Nguyễn Cảnh, năm 1537, được nhà Mạc bí mật phái sang đất Minh để thu thập tin tức bị thổ quan của Vân Nam giữ lại.

II.2.4. Thực chất việc thần phục, “dâng đất”

Một số người buộc Mạc Đăng Dung về “tội” đầu hàng và dâng đất. Hãy căn cứ vào tư liệu lịch sử chính xác để xem xét hai sự kiện này.

Ngô Đăng Lợi viết: “Qua ghi chép của Nghiêm Tông Giản, thì Mạc Đăng Dung cùng đoàn tuỳ tùng không được mặc phẩm phục, cổ đeo dây lụa tượng trưng cho sự đầu hàng đến lậy và cúi đầu (ngũ bái, tam khấu đầu) trước long đình che lọng vàng, tượng trưng cho hoàng đế nhà Minh, chứ không phải quỳ lạy viên tướng nhà Minh”, cũng không phải cởi trần tự trói.

- Trả lại đất :

* “Bốn động biên giới đã bị nhà Minh lấy lại từ trước, thành chuyện đã rồi đối với nhà Mạc. Mạc Đăng Dung thực sự không hề mắc tội phản quốc, mà trái lại đã góp một phần quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, cũng như tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh”. Còn Lê - Trịnh mãi đến 1597 mới được nhà Minh xét công nhận (xem thêm ở phần sau).

* Trong biểu tâu vua Minh, Mạc Đăng Dung cũng viết đúng là bốn động vốn thuộc nhà Minh, mà họ đã lấy lại từ trước và ông đã nêu cụ thể lời của tri châu châu Khâm, Lâm Hy Nguyên, làm nhân chứng, chắc chắn đó là sự thật: “Mới đây thần nghe tri châu châu Khâm tỉnh Quảng Đông, Lâm Hy Nguyên, xưng rằng, các động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích, Chiêm Lãng là đất cũ của châu Khâm; nếu đúng như vậy, thần xin vâng lời”.

* “Quả là Mạc Đăng Dung chưa hề cắt đất cho nhà Minh, nhưng ông đã bó tay và buộc phải chấp nhận sự kiện các động trưởng của bốn động sát biên giới Đông Bắc trở lại với nhà Minh... Làm sao nhà Mạc có thể giữ lại được bốn động trên khi mà các động trưởng đã bỏ về với nhà Minh? Thực tế chỉ có bốn động thuộc hai đô như vừa trình bày ở trên trả lại đất châu Khâm”.

*Cùng với các tư liệu trên, Minh Thực Lục ghi rất rõ , lệnh của Minh Thế Tông: “Sau khi bàn bạc rồi phúc tấu, Hoàng thượng mệnh: Ty phiên Quảng Tây mỗi năm cấp lịch Đại thống để thờ phụng theo chính sóc, hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, cho châu Khâm,…”

Xin nói rõ: “hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, trả cho châu Khâm,” (Minh Thực lục) khác hẳn với : “những đất Trung Quốc chiếm được chưa phải là lãnh thổ của Trung Quốc, bây giờ Mạc Đăng Dung đem dâng….” (Trần Thị Băng Thanh)

Nếu đối chiếu các điều kiện thần phục, trong tình hình đối nội, đối ngoại quá gay gắt và phức tạp như vậy, thì việc thần phục của vua Mạc đã mất một số hư danh mà được nhiều thắng lợi thực tế. Trong đó, quan trọng là tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc, bao gồm lực lượng của quân Minh bên ngoài ép vào và quân Lê - Trịnh từ trong đánh ra.

Xét trong lịch sử ngoại giao của chúng ta với phong kiến Trung Quốc có nhiều trường hợp phải hết sức lựa chiều, khéo léo.

“Bình Định vương Lê Lợi đại thắng quân đô hộ Minh nhưng vẫn phải cấp tàu xe, lương thảo cho Vương Thông rút quân, phải trả lừa, ngựa, binh khí, tù binh cho y; lại phải thực hiện danh nghĩa phù Trần diệt Hồ của nhà Minh mà dựng Trần Cảo làm vua, phải cống người vàng...”.

Về việc này, Phan Huy Chú nhận định: “Xét: Buổi đầu Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần; dùng lời nói dịu dàng, mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho, trải 3 năm mà mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Thế cũng đủ thấy sự thế bây giờ là khó”.

Hoàn cảnh lịch sử của Vua Lê thuận lợi hơn hẳn Vua Mạc, thế mà phải hết sức mềm dẻo. Vì vậy, “Mạc Đăng Dung thần phục giả vờ để giữ độc lập thực sự” (Trần Quốc Vượng) là kế sách tuyệt diệu.

Vua Mạc Đăng Dung nhận các điều kiện thần phục, nhưng các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, dùng ấn vàng, phong tước vương cho các con, toàn quyền điều hành đất nước về mọi mặt, nhà Minh không can thiệp và đặc biệt là không có bóng quan quân Minh trên đất nước Việt.

“Thế là nhà Mạc được nhà Minh công nhận, nhà Lê - Trịnh thì không, mãi đến 1597 mới được nhà Thanh xét và phải theo lệ cũ thời Lê sơ, cống người vàng đền mạng Liễu Thăng”.

Đến năm này, Lê Duy Đàm thi hành việc cống người vàng, đồng thời xin nhà Minh phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp:

“ Ngày 5 tháng 2 năm Vạn Lịch thứ 34 (13-3-1606) Con Huệ là Ninh kế tục nghiệp nhà Lê tại vùng sông Tất Mã, truyền được 4 đời. Đến Duy Đàm cùng bề tôi là Trịnh Tùng hợp mưu khởi binh diệt họ Mạc, lấy hết đất đai cũ. Nhân tiến người vàng thay thân, xin triều đình chiếu mệnh, được phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp. Lúc này vào năm Vạn Lịch thứ 25…”14

Ở đây có hai việc tương tự:

Việc thứ nhất: nhà Mạc nhận chức Đô thống sứ, thì bà Băng Thanh lớn tiếng phê phán : “ xóa bỏ cả một đất nước đã có truyền thống mấy nghìn năm văn hóa , tổ tiên đã đỏ bao xương máu tâm trí để khai thác giữ gìn thì đó là một sai lầm không thể bỏ qua” . Xin nói thêm, nhận Đô thống sứ, nhà Mạc không hề xóa bỏ đất nước, họ vẫn xây dựng đất nước, đem lại cảnh ấm no, mở mang công thương nghiệp, tổ chức thi cử, đúng ba năm một kỳ. Về mặt thể chế ,các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, toàn quyền điều hành đất nước (vừa nêu ở trên) . Minh thực lục ghi đúng điều này, bà Băng Thanh một lần nữa, lại nói ngược với Thiên triều. : “Từ họ Mạc đến nay, tuy xưng Đô thống sứ, nhưng chế độ trong nước vẫn theo đế chế; triều đình tuy cấp ấn bạc nhưng không (sai sứ) đưa sách mệnh, lệnh đến gõ cửa quan ải để lĩnh” , nghĩa là nhà Mạc lờ đi , không nhận, nhà Minh cũng ỉm luôn.

Lịch sử thực tế diễn ra như thế nào, nói như thế ấy, đừng vu khoát, tưởng tượng.

Việc thứ hai: nhà Lê xin được phong chức Đô thống sứ, còn cống người vàng nữa. Thế thì nhà Lê có “xóa bỏ đất nước” không? Sự kiện rành rành như vậy, sao bà Băng Thanh lại dấu kín ?

II.2. 5.Nguyên nhân thắng lợi của chiến lược nhà Mạc

Nhờ đâu mà đập tan được âm mưu nhà Lê cầu xin Minh, đấy lùi được quyết tâm xâm lược sắt đá của nhà Minh?

- Trước hết là ý chí của nhà Mạc, bằng mọi giá không cho giặc đặt chân vào đất nước ta, như Mạc Ngọc Liễn là Đô uý thái phó Đà Quốc công, đồng thời là phò mã, khi lâm chung có di chúc lại: “... Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Mạc Ngọc Liễn không phát ngôn ý kiến cá nhân mà tuyên bố tư tưởng lớn của nhà Mạc. Đinh Khắc Thuân nhận định đúng như vậy: “Lời trối trăng cuối cùng này của Mạc Ngọc Liễn cũng chính là ý nguyện của nhà Mạc nhằm tránh một cuộc chiến tranh ngoại bang”.

Thứ hai, là chủ trương vô cùng sáng suốt của Thái tổ Mạc Đăng Dung, chiến hoà kết hợp, hoà nhưng sẵn sàng chiến đấu. “Đầu hàng giả, chiến đấu thật”. Trong hoà không hại gì cho đất nước, chỉ dâng đất khống.

Thứ ba, Mạc Thái Tổ cũng dùng cả đấu tranh chính trị, đưa trạng nguyên Giáp Hải đi, để biểu lộ ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước qua việc hoạ thơ. Có người nói bài thơ đã đuổi được giặc. Không thật đúng. Bài thơ là một bộ phận của cuộc đấu tranh toàn diện, có vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh này.

Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho Thiên triều đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi đươc 22 vạn quân ngoại xâm và ít nhất một vạn nội phản; mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

Nếu không có Mạc Đăng Dung và nhà Mạc thì đất nước ta lại trải qua một cuộc tàn sát dã man dưới lưỡi gươm của giặc Minh, được sự hỗ trợ hiệu lực của Lê-Trịnh. Nếu không có Mạc Thái Tổ, lại một lần nữa :

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

(Bình Ngô đại cáo) Có thể nói, vua Mạc Đăng Dung và nhà Mạc đã đấu tranh rất thông minh, đặc biệt năng động, nhờ vậy cứu đất nước khỏi một thảm hoạ chiến tranh đã liền kề. Lịch sử nước nhà và nhân ta cần biết ơn, ghi đậm công lao to lớn này.

Nguyễn Hải Kế nhận định rằng, những khu xử của nhà Mạc, tránh được cuộc chiến tranh mà trên thực tế vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia:“Với nhà Minh thì bên cạnh việc tăng cường phòng bị, bằng hàng loạt các biện pháp chính tri- ngoại giao mà triều đình nhà Mạc đã triển khai để tránh được một cuộc chiến tranh , mà trên thực tế vẫn bảo vệ được chủ quyền quốc gia. Đặt trong bối cảnh thế kỷ XVI, những khu xử mà nhà Mạc đạt được là kết quả thực tiễn của tình cảm và trí tuệ đương thời”

Quân dân và vua quan nhà Mạc đã nêu một bài học đấu tranh hoãn xung trong tình trạng thế và lực ta quá yếu so với đối phương, bao gồm cả ngoại xâm và nội phản hợp lại.

III.TÓM TẮT NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ MẠC

Trên đây, chúng tôi đã nói nhiều đến những đặc điểm của nhà Mạc, nhưng cuối cùng vương tộc này đã thất bại nặng nề, nguyên nhân tại đâu?

Sự thất bại của nhà Mạc do một hệ nguyên nhân tổng hợp kéo dài nhiều thập kỷ. Có thể nêu ra 4 nguyên nhân chính:

1. Có những hiện tượng mất đoàn kết trong triều đình nhà Mạc, tiêu biểu là vụ Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi và Khiêm vương Mạc Kính Điển. Hai Ngài đều là đại trung thần của nhà Mạc , đều có tài nghiêng trời lệch đất . Chỉ tiếc là quan niệm về chọn người kế vị ngai vàng khác hẳn nhau nên dẫn đến việc đem quân đánh lại nhau gây tổn hại về thực thể và tinh thần rất lớn.

2.Cũng giống như bao triều đại phong kiến khác trong lịch sử, các vị vua nối ngôi về sau không giữ được những phẩm chất tốt đẹp của các bậc tiên đế , cũng góp phần khiến cho cơ nghiệp tổ tông không giữ được. Tuy nhiên, chúng ta cần thận trọng để khỏi nghe theo kẻ xấu đổ tội oan cho tiền nhân.

3. Có thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng về thủ lĩnh:

.1540, vua Mạc Đăng Doanh mất

.1541, vua Mạc Đăng Dung mất

.1546, vua Mạc Phúc Hải mất

4.Nguyên nhân quan trọng nhất là trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI có 2 xu hướng:

. Xu hướng tư hữu hoá ruộng đất, hình thành tầng lớp hữu sản , tư tưởng cởi mở phóng khoáng, trọng cả Nho, Phật , Lão và văn hoá dân gian; tôn trọng cá nhân; phát triển kinh tế nhiều mặt, nông công thượng nội ngoại thương.

. Xu hướng quan liêu bảo thủ Tống nho, trọng nông ức thương, bế quan toả cảng, độc quyền Nho giáo.

Cả hai xu hướng này đấu tranh loại trừ lẫn nhau. Sự thất bại của nhà Mạc là sự thất bại của xu hướng thứ nhất. Trong hoàn cảnh lịch sử đương thời, nhà Mạc chưa đủ điều kiện để chiến thắng xu hướng thứ hai. Xu hướng này còn tồn tại dai dẳng qua nhà Nguyễn và đến Cách mạng tháng Tám 1945 mới được giải quyết về cơ bản.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1.Phương pháp tiếp cận mà chúng tôi thực hiện trong bài gồm mấy điểm liên kết với nhau:

-Chỉ tìm hiểu một sự kiện, một nhân vật lịch sử cũng rất cần đặt trong mối liên quan gần và xa của sự kiện và nhân vật đối tượng.

-Kết luận và nhận định phải thiết kế trên tư liệu, không thể trên sự phỏng đoán thiếu tư liệu, không nên phỏng đoán -giả sử, kiểu “Chẳng lẽ người Minh dễ lừa đến thế” (Trần Thị Băng Thanh). Phải tìm cho ra “dễ lừa hay không”.

Theo xu hướng của sủ học hiện nay được gọi là tân sử học (new history) hay xã hội sử học (social history), hoặc truyền khẩu sử học (oral history).

-Đã tìm được tư liệu rồi không nên coi “như đinh đóng cột” ngay.

Phải thẩm định đối chiếu thận trọng. Ví dụ: về “trả lại đất” chúng tôi đã dựa trên bốn tư liệu (xin xem trong bài) .

GS Trần Quốc Vượng nói : sử gia Lê-Trịnh bôi đen lịch sử nhà Mạc , điều này rất đúng, mãi mãi đúng. Chúng ta rất biết ơn công lao các sử gia, không “phủ định sạch trơn” , như vậy là sai lầm nghiêm trọng, nhưng phải sử dụng thận trọng.

2.Trên cơ sở các phương pháp trên đây, chúng ta có thể rút ra nhận định:

-Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông đã có công lập nên môt triều đại tồn tại 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử, 12 đời vua, một đời chúa; có những đặc điểm nổi trội (13 đặc điểm) mà không phải triều đại phong kiến nào cũng có được.

-Ngoài ra, riêng Mạc Thái Tổ đã làm tròn hai sứ mệnh lớn lao và nặng nề:

+lật đổ triều đại nhà Lê suy đồi để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn,

+bằng các phương thức hoãn xung, phi chiến tranh, đẩy lùi cuộc chiến tranh nội ngoại xâm, của liên minh 23 vạn quân Minh-Lê-Trịnh.

Trên những thực tế lịch sử đtrên đây, chúng tôi đồng ý với GS Văn Tạo:

“Tôi tán thành việc Hà Nội đề xuất đặt tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông. Vì triều đại nhà Mạc tồn tại trong 65 năm nhưng đã cống hiến cho lịch sử, xã hội Việt Nam những thành tựu đặc sắc, mang lại phồn vinh, thịnh trị cho đất nước.”

3. Cho đến nay, nhiều tỉnh thành đã đặt tên Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông như: Quảng Ngãi, An Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Gia Lai, Thanh Hóa, T/P Hồ Chí Minh.

Vậy Hà Nội, nơi nhà Mạc đóng đô 65 năm, việc đặt tên các vị là đúng đắn và cần thiết.

P.Đ.N

Về bức đại tự An Nam Lý Học ở đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

alt

Ngô Đăng Lợi

Buổi sáng ngày 21 tháng 7 năm 2016, tại chùa Phổ Chiếu, trụ sở CLB Hải Phòng học có buổi sinh hoạt khoa học, Tiến sĩ Lã Trọng Long đã thuyết trình một số chữ Nho ở một số di tích lịch sử văn hóa mà ông cho là sai. Tôi nhất trí một số kiến giải của Tiến sĩ, nhưng riêng những phát hiện và yêu cầu sửa 4 chữ: An Nam Lý Học thì không. Ta biết Lê Quý Đôn soạn giả sách Kiến văn tiểu lục chép: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683). Xán có tiếng hay thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh núi sông bè bạn tặng, đáp vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 48 bài, đặt nhan đề là Sứ Giao ngâm. Khi về dâng lên triều đình. Trong các bài thơ ấy có câu “Y quan văn vật trọng Nam cương, lại tự chua rằng: Nhân vật nước này, về phần lý học có Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế (kinh bang tế thế - Giúp nước cứu đời. N.Đ.L chú) có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh; còn về phần văn học có khá nhiều”.

Như thế thì tiếng tăm các bậc tiền bối nước ta vang đến Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp. Nguyễn Công Vọng, Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điển tiếp đãi ở sứ quán, Nguyễn Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống, đều có thơ tặng vừa thất ngôn, vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đều chép thành tập nhan đề là Nam Giao hảo ngâm, phụ vào với các tập trước đều khắc ván gỗ phát hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được Trung Quốc quý trọng.

Tôi thấy cần nói thêm dưới thời vua Lê Hy Tông (1676 – 1705) với niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680), Chính Hòa (1681 – 1705) được người đương thời ca ngợi là thời thịnh trị bậc nhất thời Lê Trung Hưng. Quan hệ bang giao giữa vua ta và vua nhà Thanh khá thân thiện, tháng 9 năm Mậu tý (1683) vua Thanh sai sứ sang ban cho vua Lê dòng chữ đại tự “Trung hiếu thủ bang” (cò lòng trung thành, hiếu kính để giữ nước). Đây là sự tri ân nhà Lê đã từ chối không cứu viện cho Ngô Tam Quế, bầy tôi phản nghịch chống nhà Thanh. Vua Thanh còn sai sứ ban lễ phẩm cho việc tế vua Lê Huyền Tông (1663 – 1671) và Lê Gia Tông (1672 – 1675).

Thời gian thịnh trị này, không thể không nhắc đến vai trò của vị chúa trí đức song toàn Trịnh Căn (1682 – 1709).

Tuy nhiên, Lê Quý Đôn ghi Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ 4 (1683) chắc sai. Chúng tôi đã đối chiếu với Bang giao chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thấy ghi rõ: Hy Tông năm Chính Hòa thứ 3 (1682) ngang với Khang Hy thứ 21 (1682) nhà Thanh, vua ta sai Thân Toàn, Đặng Công Chất sang cống nhà Thanh.

Về tiểu sử 2 sứ thần Thân Toàn và Đặng Công Chất, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 do Ngô Đức Thọ chủ biên – NXB Văn học 1993 cho biết:

- Thân Toàn (1621 - ?) người xã Phương Đỗ huyện Yên Dũng nay thuộc xã Mai Khê huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang đỗ Đồng tiến sĩ khoa Nhâm thìn Khánh Đức thứ 4 (1652) làm quan trải các chức Đô ngự sử, Tả thị lang bộ Hộ (1676) được cử sang sứ nhà Thanh năm 1682. Sau khi hoàn thành sứ mệnh được thăng Tham tụng, Thượng thư bộ Binh tước Bá.

- Đặng Công Chất (1622 – 1683) người xã Phù Đổng huyện Tiên Du nay thuộc quận Gia Lâm Hà Nội, đỗ Trạng nguyên khoa Tân sửu niên hiệu Vĩnh Thọ thứ tư (1661) đời Lê Thần Tông làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Hình, mất năm Chính Hòa 4 (tháng 8 – 1683) được tặng Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lại, tước Bá. Năm Chính Hòa 3 (1682) làm Phó sứ sang cống nhà Thanh.

Qua những sử liệu trên, có thể khẳng định Lê Quý Đôn nhớ nhầm năm Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ tư (1683).

Còn câu An Nam lý học hữu Trình Tuyền là lời Vũ Phương Đề chứ không phải của Chu Xán.

Nhà nho Vũ Phương Đề có lý khi ông dựa vào ý của Chú Xán đề 4 chữ trên, còn các nhà nho nổi tiếng Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo, Hồ Sĩ Dương được Chu Xán coi là nhà Lý học, nhưng đền thờ các ông và hậu thế đều không xác nhận là An Nam lý học.

N.Đ.L

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay147
mod_vvisit_counterHôm qua125
mod_vvisit_counterTất cả48508
Hiện có 36 khách Trực tuyến