Tư tưởng “Hòa quang đồng trần” của Phật Hoàng Trần Nhân Tông thể hiện bằng hành động.

alt

Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử (Quảng Ninh).

Hoàng đế Trần Nhân Tông – vị anh hùng dân tộc, một nhà tu hành nổi tiếng đã sáng lập lên trường phái Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam. Với tư tưởng “Hòa quang đồng trần” Ngài đã hành động theo phương châm Đạo không thoát li đời mà cứu đời cũng chính là tu đạo. Chính vì vậy Ngài đã có những cách hành xử kỳ lạ khi đã trở thành nhà tu hành mà sau này người ta phải đi sâu tìm hiểu và lý giải.

Sau đây là một số minh chứng mà tác giả bài này sưu tầm được, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Hòa Quang đồng trần nghĩa là gì? Theo Phật âm từ điển:

Hoà quang đồng trần (和光同塵) Hòa ánh sáng cùng với bụi. Nghĩa là hòa hợp với trần tục mà không tự lập dị. Từ ngữ này có xuất xứ từ câu Hòa kì quang, đồng kì trần của Lão tử. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho việc Phật, Bồ tát vì cứu độ chúng sinh phải ẩn giấu ánh sáng trí tuệ, dùng thân Ứng hóa tạm thời phương tiện sinh trong cõi trần dẫy đầy phiền não, kết duyên với chúng sinh để rồi lần lượt dắt dẫn họ vào Phật pháp. Ma ha chỉ quán quyển 6 phần dưới gọi việc làm quyền xảo trên đây là Hòa quang đồng trần. Nhưng kinh Niết bàn quyển 6 (bản Bắc) thì gọi là Hòa quang bất đồng trần, nghĩa là Phật và Bồ tát vì đạt mục đích cứu độ mà hòa hợp với chúng sinh cõi trần, nhưng không bị những điều xấu ác làm ô nhiễm.

Thượng tọa Thích Thanh Đạt - Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội cho rằng:

“Tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông là tư tưởng Thiền nhập thế. Đây cũng là đặc điểm chung của tư tưởng các vị tiền bối của ông  như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung.  Điều này đã được giới học giả cơ bản thống nhất công nhận. Tinh thần nhập thế đó thể hiện rõ ràng trong cả hành trạng, ứng xử, các lời thuyết giảng, thảo luận và trong thơ văn của Trần Nhân Tông.

Điều lạ lùng đầu tiên về Ngài Trần Nhân Tông là sau khi làm vua, dù đã ngộ đạo, Ngài vẫn cầm quân đánh giặc. Hành động của Ngài phải chăng đã mâu thuẫn với giới không sát sanh trong nhà Phật? Có thể thấy rằng nếu lúc đó Ngài giữ giới sát, không dám bảo vệ đất nước, cuối cùng để bao nhiêu con người phải lầm than thì đó mới là cái tội rất lớn. Chính vì hiểu rõ nhân quả nên Ngài càng có trách nhiệm với đất nước mình, không cho đất nước bị kẻ giặc tàn phá. Nội tâm ngộ đạo dù thanh cao như mây như gió, nhưng không bao giờ là buông xuôi thụ động cả. Đó là lý do mà Ngài đã thân chinh chỉ huy trận đánh. Đây là bài học rất lớn cho hậu thế.

Vào năm 1293, Ngài đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về làm Thái Thượng Hoàng. Sang năm 1294 Ngài xuất gia. Sau khi xuất gia, cũng trong năm này, Ngài lại đích thân cầm quân sang chinh phạt Ai Lao. Đây là sự kiện chưa từng có trong lịch sử Phật giáo thế giới.

Đọc sử đến đây chúng ta lướt qua, không lý giải được. Tại sao một người đã xuất gia rồi vẫn cầm quân đánh giặc? Lý giải về điều này, Thượng tọa cho biết thật ra trước khi xuất gia Ngài Trần Nhân Tông đã từng đánh giặc Ai Lao một lần rồi, nên Ngài hiểu rất rõ về quân Ai Lao, Ngài cũng biết rằng nếu đích thân Ngài đánh thì sẽ thắng, và điều cốt yếu là ngăn chặn không cho hiếu sát. Nếu giao cho một tướng khác thì có thể ta vẫn thắng, nhưng vị tướng ấy sẽ truy sát đến cùng. Cho nên dù thắng vẫn tạo thành cái tội chung cho toàn dân tộc. Còn với trí tuệ của một thiền sư, một bậc Thánh, Ngài đủ sức tính toán đánh ngang đâu là vừa. Đó là nguyên nhân sâu xa mà hậu thế hiếm ai hiểu nổi.

Tiếp theo, sau khi đánh tan giặc Ai Lao, Ngài không ở yên trong chùa với tư cách là một Thái Thượng Hoàng, một thiền sư để mọi người đến học, thay vào đó Ngài đã đi du phương giáo hóa. Chống gậy đi khắp nơi, Ngài kiên nhẫn phá bỏ các “dâm từ”, khuyến hóa dân “tu thập thiện”.

Là người cực kì trí tuệ, vua Trần Nhân Tông cũng biết rằng sau này vua Chế Mân qua đời, cả triều đình và thần dân Chiêm Thành sẽ phản đối quyết định cắt đất cúng dường của Chế Mân, xem đó như hành vi phản quốc. Vì vậy, để bảo vệ uy tín của vua Chế Mân, Ngài Trần Nhân Tông phải tặng điều gì rất quý, rất xứng đáng lại cho Chiêm Thành. Đây chính là lý do tại sao đời nhà Trần, Huyền Trân công chúa được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Có thể nói, Ngài Trần Nhân Tông đã giải được bài toán hóc búa này một cách cực kì xuất sắc, xưa nay hiếm ai làm được.

Đến khi hai bên đã giao hảo, đất nước được hòa bình thêm một thời gian nữa, Chiêm Thành không cần chạy đua vũ trang với Đại Việt, lúc đó Ngài mới trở về, trên mình đắp chiếc y nguyên thủy.

Sau đó, vua Trần Anh Tông cho quân xuống trấn giữ Châu Ô và Châu Lý. Tại những vùng này người Đại Việt bắt đầu ở lẫn với người Chiêm Thành, và giọng nói Đại Việt và Chiêm Thành pha lẫn nhau, kết quả là giọng Quảng Trị như ngày nay. Vào thời đó, nếu người Chiêm Thành rút hết thì từ Quảng Trị đến Quảng Nam hôm nay chỉ nói giọng Hà Nội mà thôi. Đó là cái dấu ấn của lịch sử ta không thay đổi được, và đây là một điều lạ trong cuộc đời vua Trần Nhân Tông.

Sau khi trở về, Ngài lên Yên Tử lập ra phái mới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Và mãi 5 năm sau Huyền Trân công chúa mới được gả cho vua Chế Mân. Nhưng tiếc rằng vua mất không lâu sau đó, mà theo tục lệ Chiêm Thành thì hoàng hậu phải chết thiêu theo vua. Nhưng không để điều đó xảy ra, Đại Việt đã chỉ đạo tráo người lên giàn hỏa thiêu, cứu công chúa về. Qua năm sau nữa (vào tháng 03 năm 1308) thì vua Trần Nhân Tông qua đời tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.

“Cuối năm 1299, Nhân Tông từ bỏ hoàng cung lên núi Yên Tử xuất gia, tu theo hạnh đầu đà, lấy pháp hiệu Hương vân đại đầu đà. Sự kiện này, chưa từng có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, một vị Thái thượng hoàng sau khi đã đánh tan hai lần đế quốc xâm lược, danh tiếng lẫy lừng, sống đời vương giả trong cung vàng điện ngọc mà lại tự nguyện từ bỏ tất cả, để vào trong rừng sâu núi thẳm, sống đời cô đơn, đạm bạc của kẻ tu sĩ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, chịu cảnh cơ hàn; khiến dân chúng không khỏi kính phục.

Chúng ta đã biết, trước khi Nhân Tông xuất gia, trong nước lúc bấy giờ đã có mặt nhiều dòng phái Phật giáo như: Phái Thăng Long do cư sĩ Thụng sư truyền vào, phái Yên Tử do thiền sư Hiện Quang khai sáng, phái Lâm Tế từ Chương Tuyền, Trung Quốc do cư sĩ Thiền Phong truyền sang và phái của thiền sư Vương Chí Nhàn, Hòa thượng Nhật Thiển; đó là chưa kể những vị chỉ biết tên mà không rõ họ thuộc thiền phái nào. Tình hình Phật giáo lúc bấy giờ không có sự thống nhất, mạnh dòng nào thì phái đó phát triển và chúng ta cũng có thể đưa ra giả thiết đã có sự công kích lẫn nhau; vì thế sau khi xuất gia Trúc Lâm đã cho phát hành hàng loạt sách vở như Phật giáo pháp sự, Đạo tràng tân văn, Công văn cách thức, có nội dung thống nhất về thể thức hoạt động trong tôn giáo.

Ngài đã thống nhất các dòng thiền thời đó là Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Lâm Tế, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường về một mối, đồng thời nỗ lực xây dựng một giáo hội Phật giáo thống nhất và hoà

Ngay từ buổi đầu khai sơn, Trúc Lâm đã chăm lo cho sự nghiệp giáo hội sau này. Việc đầu tiên ông cho xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, mở trường giảng dạy, khai pháp độ tăng ở khắp mọi nơi. Đặc biệt, tuy là người đứng đầu giáo hội với nhiều Phật sự, nhưng Trúc Lâm vẫn giữ đúng bổn phận, nghĩa vụ của mình, hàng năm thường tổ chức giảng dạy, không chỉ trực tiếp giảng dạy mà cũng cử người cùng tham gia giảng dạy trong hạ trường”.

(Thượng tọa Thích Thanh Đạt  - Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội)

Năm 1299, Trần Nhân Tông xuất gia ở núi Yên Tử. Từ đây mở ra một bước ngoặt mới trong cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, mà dấu ấn đậm nét nhất của quá trình này là việc đưa hai châu Ô và Lý vào lãnh thổ Đại Việt. Đây chính là sự nghiệp mở nước của Trần Nhân Tông.

Châu Ô chính là vùng đất Ô Mã của Champa. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Champa năm 1283, Toa Đô đã biết đây là vùng đất "nằm gần nước An Nam”, như Nguyên sử đã ghi nhận. Còn châu Lý, tức vùng đất Việt Lý, mà Toa Đô phải đi qua trước khi tiến công vào trại Bố Chính và đất Hoan Ái của Đại Việt. Cánh quân Toa Đô từ phía Nam đánh ra đã gây nên diễn biến chính trị và quân sự phức tạp đến nỗi đích thân Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Thánh Tông đã phải chỉ huy để đối phó lại với chúng và cuối cùng đã chiến thắng vang dội với việc chém đầu Toa Đô và bắt sống gần một vạn quân Nguyên tại trận Tây Kết lần thứ hai.

Hơn thế nữa, hai châu Ô và Lý vừa có núi cao hiểm trở chắn ngang ra biển (từ Bắc vào Nam phải lần lượt qua các đèo: Phước Tượng, Phú Gia và Hải Vân, cao nhất và nguy hiểm nhất là đèo Hải Vân; vừa có cảng sâu thuận lợi cho thủy quân như cảng Tư Hiền, Thừa Thiên Huế và cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Có thể nói rằng, trên cả ba lĩnh vực giữ nước, dựng nước và mở nước, vùng đất này giữ một vị trí chiến lược xung yếu. Mở nước về phía Nam, trước tiên là nắm lấy hai châu Ô và Lý, đã trở thành một xu thế tất yếu đối với sự sống còn của Đại Việt. Quan điểm này hầu như thống nhất trong chính giới Đại Việt lúc bấy giờ. Song tiến hành bằng biện pháp nào để đạt được "nhân quần hòa hợp, chúng sinh an lạc” đang là một vấn đề thách thức đối với triều Trần, trước hết là Trần Nhân Tông.

Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) thắng lợi, chính lúc này, giới quân sự Đại Việt đã gây sức ép với triều đình trong chính sách mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Song với cái nhìn của một bậc minh quân hòa quyện với một trí tuệ bát nhã của một vị thiền sư uyên thâm Phật học, Trần Nhân Tông đã đi theo một con đường khác, "hầu như nghịch lý với lịch sử”: Con đường hòa bình. Điều cần nhấn mạnh ở đây là để cho con đường này trở thành hiện thực, đích thân Trần Nhân Tông phải "xông pha trận mạc”.

Tháng Ba năm 1301, với tư cách là một tăng sĩ, Trần Nhân Tông mở cuộc vân du Champa, đến tháng Mười Một cùng năm mới trở về Đại Việt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một vị hoàng đế với tư cách một tăng sĩ đã có chuyến hành trình ngoại giao dài nhất. Cái thời gian dài nhất này là một phần giải thích cho thành quả đạt được của chuyến đi lịch sử này.

Thời gian ở Champa, Trần Nhân Tông đã được Hoàng đế Chế Mân đón tiếp nồng hậu, bởi trong cuộc chiến tranh chống xâm lược Mông - Nguyên vừa mới kết thúc không lâu về thời gian, Đại Việt và Champa là đồng minh của nhau. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Champa của triều Nguyên năm 1283, Trần Nhân Tông không chỉ không đồng ý cho Hốt Tất Liệt mượn đường Đại Việt xâm lăng Champa, mà ngược lại đã gửi 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện cho nhân dân Champa chống Mông - Nguyên, góp phần giúp nhân dân Champa giành thắng lợi. Trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, Trần Chí Chính viết: "Có lúc Ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía Nam đến tận Champa, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Champa biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn Ngài về nước”(20).

Chắc chắn với thời gian ở Champa, giữa Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có những cuộc đàm đạo ngoạn mục. Sử liệu không ghi lại đầy đủ nội dung những cuộc đàm đạo này, trừ việc Chế Mân đồng ý dâng hai châu Ô và Lý cho Đại Việt để được kết duyên với công chúa Huyền Trân, người con gái duy nhất của Trần Nhân Tông. Trần Chí Chính viết tiếp trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, rằng Chế Mân đã "đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho Ngài. Ấy là Thần châu và Hóa châu nay vậy”(21).

Trở lại Thăng Long, Trần Nhân Tông thông báo với triều thần về kết quả chuyến đi, trong đó nội dung quan trọng nhất là việc gả công chúa Huyền Trân cho Hoàng đế Champa, để hai Ô và Lý sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Tháng Hai năm Ất Tỵ (1305), Chế Mân sai sứ là Chế Bồ Đài và hơn một trăm người cùng đi, đem vàng, bạc, hương quý và vật lạ đến Thăng Long dâng để xin sính lễ. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: "Tháng Hai, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn”(22). Sử liệu này cho thấy cuộc hôn nhân Chế Mân - Huyền Trân đã được hình thành trên cơ sở tự nguyện từ phía vương triều Champa, chứ không có một sức ép nào từ phía Đại Việt.

Điều này là hợp lý, bởi khi việc cầu hôn của Chế Mân được đặt ra, triều thần Đại Việt hầu hết không đồng ý, chỉ Văn Túc Vương Đạo Tái cho là nên và Trần Khắc Chung tán thành. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép tiếp: "Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành, việc bàn mới quyết”(23). Hẳn là triều thần không hiểu hết ý nghĩa của cuộc hôn nhân mà Trần Nhân Tông đã ra sức vun đắp, tạo dựng; hoặc với họ muốn mở nước nên chăng dùng đến biện pháp quân sự; nhưng chắc chắn trong họ vẫn còn vướng bận sự kỳ thị chủng tộc. Mặc dù vậy, quyết định Trần Nhân Tông trước sau vẫn không thay đổi. Tháng Sáu năm Bính Ngọ (1306), khi đưa công chúa Huyền Trân về Champa.

Để có được cuộc hôn nhân lịch sử mà chú rể là hoàng đế Champa và cô dâu là công chúa Đại Việt, Trần Nhân Tông đã phải vượt qua nhiều trở lực khác, trong đó cái khó khăn nhất là thắng "cái tự ngã”. Chúng ta biết rằng công chúa Huyền Trân là con gái duy nhất của Trần Nhân Tông. Vượt qua được những vướng mắc tình cảm thiêng liêng của gia đình, Trần Nhân Tông và con là Huyền Trân đã nêu một tấm gương sáng ngời hy sinh vì đại cuộc.

Hai châu Ô và Lý "vuông ngàn dặm” đã thực sự được sáp nhập vào Đại Việt (1306). "Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thắng lợi (1288), thanh thế Đại Việt lẫy lừng khắp cõi Đông Á mà chọn kế sách mở nước bằng con đường hữu nghị và hòa bình thì thật là vĩ đại. Bởi lẽ xưa nay trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, việc mở nước theo con đường phi binh đao thì hiếm thấy”(26).

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá: “Trong con người và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, đời và đạo luôn luôn hòa quyện vào nhau, gắn bó với nhau vì hạnh phúc của muôn dân, vì sự phát triển của đất nước".

(Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký Toàn thư. Bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Ấn bản điện tử, năm 2001, tr.200)

Năm 1290, quân Ai Lao nhiều lần quấy phá biên giới phía tây. Binh lực Đại Việt lúc này đã chịu nhiều thiệt hại sau cuộc chiến với quân Nguyên, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ngự giá thân chinh để thị uy. Theo lý giải của ông, nếu lúc này hoà hoãn, quân Ai Lao sẽ biết Đại Việt đang suy yếu mà tấn công dữ dội hơn.

Tháng 3 năm 1292, hoàng tử trưởng Trần Thuyên được lập làm thái tử, kết hôn với con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (con trai Trần Hưng Đạo).

Tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng.

Tháng 9 năm 1293, thái thượng hoàng hậu Bảo Thánh qua đời.

Tháng 8 năm 1294, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đánh Ai Lao lần thứ hai.

Sau khi thắng trận trở về, Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình) nhưng vẫn can thiệp việc nước, dẫn dắt vua con (Trần Anh Tông).

PV. Thi sưu tầm, tổng hợp

Bãi cọc Cao Quỳ mở ra hướng nghiên cứu mới về Chiến thắng Bạch Đằng 1288.

 alt

Bản đồ trận Bạch Đằng năm 1288

Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia đều khẳng định việc phát hiện, khai quật di tích bãi cọc có giá trị to lớn, đầy đủ, toàn diện và chính xác, mở ra hướng nghiên cứu mới về chiến dịch, chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.

Nếu như trước đây chúng ta dựa vào sách và các mô tả rất trừu tượng, các nhà khoa học phải tưởng tượng ra, với một điểm “neo” là bãi cọc đã được phát hiện ở thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh), sau đó các nghiên cứu đều xoay quanh đấy thì cho đến gần đây, khi phát hiện bãi cọc Cao Quỳ ở xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng, cho thấy trận địa này nằm rất gần cửa Bạch Đằng, có một lạch triều chạy qua đây.

Và rất có thể bãi cọc này còn lớn hơn bãi cọc đã tìm thấy ở Quảng Yên nên chưa thể khẳng định trận đánh chính nằm ở bãi cọc Quảng Yên hay Cao Quỳ...

Chứng tích của một trận địa cổ:

alt

Vị trí bãi cọc Cao Quỳ

Đầu tháng 10 vừa qua, người dân địa phương trong lúc đào đất tại cánh đồng nằm trong khu vực đê bao sông Đá Bạc, thuộc thôn Cao Quỳ, xã Liên Khê bất ngờ phát hiện 2 thân gỗ chôn sâu dưới lòng đất. Bảo tàng Hải Phòng đã xuống hiện trường khảo sát, kiểm tra, lấy mẫu cọc gửi Viện Khảo cổ học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) giám định niên đại.

Sau đó, đoàn khảo sát của Viện Khảo cổ học Việt Nam tiếp tục xuống hiện trường, phát hiện thêm 9 đầu cọc, kết quả giám định C14 cho niên đại 1270-1430 AD. Theo đó, Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng có văn bản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Hải Phòng khai quật di tích cánh đồng Cao Quỳ.

Kết quả khảo sát và khai quật khảo cổ trên diện tích 950m², với 3 hố khai quật đã phát hiện 27 cọc. Các cọc phân bố không thẳng hàng, theo chiều Đông - Tây, đường kính từ 26-46cm và trên thân có mộng ngàm dùng để buộc dây kéo. Nghiên cứu địa tầng cũng cho thấy, khu vực xuất lộ cọc là lòng sông bị bồi lấp, các thân gỗ xuất lộ trong lớp bùn xám, có thể được chôn/đóng xuống qua lớp bùn đen lẫn cát hoặc tới lớp trầm tích sét trắng lẫn vàng loang lổ.

Trở lại lịch sử vùng đất nằm ở phía hữu ngạn sông Bạch Đằng là huyện Thủy Nguyên ngày nay, chính là địa bàn trọng yếu của cả 3 trận thủy chiến ác liệt nhất trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam, từ thế kỷ thứ X đến XIII. Đó là chiến thắng năm 938 của Đức vương Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán, kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc, khẳng định độc lập chủ quyền của đất nước.

Tiếp đến, năm 981, Hoàng đế Lê Đại Hành đánh bại quân Tống sang xâm lược, bảo vệ nền độc lập của quốc gia Đại Cồ Việt.

Cuối cùng là vào năm 1288, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một trận địa cọc hùng vĩ dọc 2 bên sông Bạch Đằng, tiêu diệt, bắt sống đạo binh thuyền hùng mạnh của quân Nguyên Mông, với 600 chiến thuyền, 40 nghìn quân, do Ô Mã Nhi chỉ huy, kết thúc cuộc kháng chiến hào hùng chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ ba của dân tộc ta.

Trong quá trình khai quật di tích cánh đồng Cao Quỳ vừa qua, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Hải Phòng tiếp tục khảo sát các di tích, dòng sông cổ, bến cổ thuộc xã Liên Khê. Được biết, cách đây khoảng 30 năm, khi canh tác trên cánh đồng Cao Quỳ, nhiều người dân cũng đã phát hiện được hàng chục cọc gỗ, có đường kính khoảng từ 35-50cm.

Cùng với đó, kết quả nghiên cứu các di tích của xã Liên Khê, như đền Thụ Khê, chùa Mai Động, chùa Thiểm Khê đã được xếp hạng Di tích quốc gia từ năm 1993, liên quan đến chiến thắng Bạch Đằng lần thứ ba. Những di tích này còn ghi đậm dấu ấn vào năm 1288, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã về đây khảo sát trận địa, tập luyện binh mã cho trận chiến chống quân Nguyên Mông.

Theo đó, bước đầu Viện Khảo cổ học nhận định, bãi cọc Cao Quỳ thuộc trận chiến Bạch Đằng lần 3, năm 1288, để ngăn chặn quân Nguyên Mông không đi vào khu vực sông Giá và khu vực chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, buộc đạo quân này đi theo sông Đá Bạc ra sông Bạch Đằng và bị rơi vào trận địa cọc của ta bố trí sẵn, khiến toàn bộ quân địch bị nhấn chìm xuống đáy sông. Chấm dứt hoàn toàn mộng xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông với quốc gia Đại Việt.

Thay đổi nhiều quan điểm nhận định về chiến thắng Bạch Đằng:

Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia đều khẳng định việc phát hiện, khai quật di tích bãi cọc có giá trị to lớn, đầy đủ, toàn diện và chính xác, mở ra hướng nghiên cứu mới về chiến dịch, chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Phát hiện này góp phần thay đổi toàn bộ nhận định trước đây cho rằng, trận chiến Bạch Đằng chỉ diễn ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Cùng với đó, từ kết quả giám định, phân tích, khảo sát thực địa, các đại biểu đồng quan điểm, bãi cọc Cao Quỳ là một phần trận địa liên quan đến chiến dịch chống quân Nguyên Mông năm 1288 của quân dân nhà Trần.

TS Lê Thị Liên, nguyên Trưởng Phòng Nghiên cứu khảo cổ học dưới nước (Viện Khảo cổ học) bày tỏ niềm vui, tự hào khi bãi cọc Cao Quỳ được phát lộ. Theo TS Liên, bãi cọc Cao Quỳ được thiết kế giống như “hàng rào”, làm hẹp dòng chảy, tàu địch bị “dồn toa” khi rút chạy và rơi vào kế “hỏa công” của quân dân nhà Trần.

PGS.TS Bùi Văn Liêm, Tổng Biên tập Tạp chí Khảo cổ học, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, thành viên Hội đồng Di sản quốc gia nêu rõ, từ kết quả giám định cọc gỗ phát lộ tại cánh đồng Cao Quỳ cho thấy niên đại khớp với trận chiến Bạch Đằng năm 1288. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở vì ngoài cọc gỗ, quá trình khai quật phát hiện nhiều mẫu vật khác cùng niên đại.

Trong khi đó, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cho rằng, bãi cọc Cao Quỳ giúp các nhà khoa học nghiên cứu, người dân cả nước có nhận thức mới đúng đắn, đầy đủ, khách quan, sát hiện thực hơn về trận chiến Bạch Đằng năm 1288.

Phát hiện này khẳng định Hải Phòng chính là nơi từng diễn ra các trận đánh và có đóng góp quan trọng trong chiến dịch chống quân xâm lược Nguyên Mông của quân dân nhà Trần. Từ đó, thay đổi quan điểm trước đây là trận chiến Bạch Đằng chỉ diễn ra tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày nay, mà là chiến dịch có quy mô rất lớn, diễn ra ở nhiều trận địa liên hoàn...

“Chiến thắng này không chỉ thể hiện hào khí Đông A, niềm tự hào, tự tôn dân tộc Đại Việt mà mang ý nghĩa quốc tế. Chính từ thất bại tại Bạch Đằng, vó ngựa quân Nguyên Mông phải ngừng mở rộng xâm lược các nước Đông Nam Á và Nhật Bản...” - GS.TS Nguyễn Quang Ngọc nhận định.

GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư liên ngành lịch sử - khảo cổ - dân tộc học, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản quốc gia khẳng định, phát lộ bãi cọc tại cánh đồng Cao Quỳ là một phát hiện cực kỳ quan trọng để giúp chúng ta có những nhận thức hết sức mới, thậm chí làm thay đổi nhận thức về chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 của quân dân nhà Trần trước quân xâm lược Nguyên Mông.

Cũng theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, lâu nay có nhiều ý kiến về việc xác định trận Bạch Đằng diễn ra trên địa bàn Quảng Ninh hay Hải Phòng ngày nay. Bây giờ có thể khẳng định, trận Bạch Đằng chủ yếu dựa vào địa thế hai bên bờ sông, hai địa phương đều có đóng góp.

Nhưng xét về cấu trúc địa chất thì việc quân ta ém quân bên Thủy Nguyên phù hợp hơn vì có núi non thuận lợi với phục binh. Có khả năng lớn đây là nơi đã được quân ta dụ địch vào để đánh. Do đó, từ việc phát lộ bãi cọc lần này mở ra rất nhiều hướng nghiên cứu mới, trên cả phương diện về khảo cổ học, lịch sử quân sự và kháng chiến chống ngoại xâm...

Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử:

“Các hiện vật nằm trong lòng đất nhiều thế kỷ, nay xuất lộ, do tác động ánh sáng mặt trời, khí hậu... dễ dẫn đến bị hư hại. Nếu có vấn đề gì, chúng ta không chỉ có lỗi với các bậc tiền nhân mà cả hậu thế mai sau” - TS Trần Đình Thành, Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) bày tỏ lo ngại.

Theo đó, cùng với các phương án bảo vệ, không để du khách, người dân hiếu kỳ xâm phạm hiện vật, TS Trần Đình Thành đề nghị TP Hải Phòng phải sớm quy hoạch sử dụng đất khu vực cánh đồng Cao Quỳ để di tích tránh bị xâm hại.

PGS.TS Doãn Đình Lâm, Viện Địa chất (Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ) thì cho rằng, để bảo vệ tốt nhất di tích, Sở Văn hóa - Thể thao Hải Phòng cần sớm hoàn thiện các thủ tục công nhận di tích cấp thành phố. Đồng thời, phối hợp cơ quan chức năng xây dựng hồ sơ trình công nhận là di sản cấp quốc gia, quốc gia đặc biệt với di tích bãi cọc Cao Quỳ để có cơ sở pháp lý, sự vào cuộc của nhiều đơn vị chung tay bảo vệ.

GS.TSKH Vũ Minh Giang cũng bày tỏ quan điểm: “Sau khi xuất lộ và được khai quật thì khâu bảo tồn sẽ như thế nào? Những chiếc cọc được ngâm dưới đất hàng nghìn năm, giờ khai quật, mặt trời chiếu, ánh nắng, nhiệt độ sẽ phá hủy rất nhanh nên bảo tồn như thế nào? Việc bảo tồn trong lòng đất có khi sẽ giữ được lâu hơn khi xuất lộ.

Tiếp đến, chúng ta sẽ phát huy ý nghĩa của trận Bạch Đằng như thế nào? Việc tôn tạo, phát huy làm sao cho sinh động, thu hút giới trẻ tới xem bằng sự thích thú và tự hào. Và cách tái hiện cho lớp trẻ và những người đến tham quan có thể thấy rõ được chiến trận của các cụ trước đó phải đi đẵn gỗ như thế nào? Vận chuyển ra lòng sông ra sao? Điều đó hay và thu hút vô cùng”.

Theo đó GS.TSKH Vũ Minh Giang đề xuất ý tưởng xây dựng bảo tàng tái hiện lại trận chiến Bạch Đằng trên địa bàn di tích, làm sống lại khí thế hào hùng của thời chống quân Nguyên Mông. Đồng thời cũng gợi mở các cơ quan chức năng mở rộng nghiên cứu để đề nghị công nhận chiến dịch Bạch Đằng 1288 là di sản thế giới.

Trên cơ sở các báo cáo và ý kiến của Viện Khảo cổ học, các nhà khoa học, các chuyên gia, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Văn Thành cho biết, sẽ chỉ đạo các sở, ngành liên quan của thành phố phối hợp với Viện Khảo cổ học hoàn thiện các thủ tục để tổ chức công bố, thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin, truyền thông, trên các diễn đàn khoa học trong nước và quốc tế về phát hiện và kết quả khai quật bãi cọc Cao Quỳ.

Thành phố Hải Phòng cũng sẽ khẩn trương triển khai thủ tục công nhận di tích lịch sử cấp thành phố và xúc tiến các thủ tục đề nghị công nhận di tích cấp quốc gia đặc biệt cho bãi cọc. Đồng thời, tổ chức khảo sát tổng thể trên phạm vi rộng từ khu vực xã Liên Khê dọc theo sông Đá Bạc đến khu di tích Bạch Đằng Giang, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, để lập quy hoạch và xây dựng dự án hạ tầng kỹ thuật, nhằm khai thác, phát huy giá trị của bãi cọc Cao Quỳ cùng các di tích trong khu vực.

Trong đó, yêu cầu bảo đảm về đường giao thông, hệ thống cây xanh, công viên, bãi đỗ xe, khu vực tham quan, tìm hiểu bãi cọc cùng các công trình hạ tầng phục vụ người dân, du khách đồng bộ, liên hoàn, hiện đại.

(Nguồn: Bãi cọc Cao Quỳ mở ra hướng nghiên cứu mới về Chiến thắng Bạch Đằng 1288/V. Huy//Báo An ninh thế giới online.- ngày 28/12/2019)

Đi tìm những điểm sáng trong lịch sử Phật giáo Hải Phòng

alt

I. Về núi Đồ Sơn – chùa Tháp – am thờ Phật.

Từ trước tới nay, phần lớn những nhà nghiên cứu lịch sử, lịch sử tư tưởng, triết học và lịch sử Phật giáo tại Việt Nam đều khẳng định rằng: Từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên đạo Phật đã hiện diện ở Giao Châu (miền đất phía bắc Đại Việt – Việt Nam sau này). Từ thế kỷ thứ II, Luy Lâu, mà trung tâm điểm là khu vực chùa Dâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh hiện nay) là trung tâm Phật giáo ở khu vực. Ngay từ đầu đã có mặt những nhà sư Ấn Độ đến từ Tây Trúc – quê hương của đức Phật Thích ca.

Vùng núi Đồ Sơn, miền biển Đông Bắc là địa bàn cửa ngõ mà thương thuyền đưa các lái buôn và nhà sư từ Ấn Độ tới Việt Nam truyền đạo. Trong đó có một nhà sư đã ở lại Đồ Sơn lập am thờ Phật.

Trong một thời gian dài cả ngàn năm chưa có tài liệu tin cậy để chúng ta có thể khẳng định được: từ am trong hang (núi Đồ Sơn) lan tỏa đạo Phật ra các vùng  lân cận hoặc giao tiếp với vùng Luy Lâu (thời Bắc thuộc). Nhưng chúng ta có thể đồng thuận với ý kiến của Đại lão Hòa thượng Kim Cương Tử viết trong Lịch sử Phật giáo Hải Phòng: “Chắc rằng lúc sơ thủy ấy, một số người cổ Việt Nam gặp đạo Phật một cách thấp thoáng, đơn giản chỉ tin theo thờ phượng với từng nhóm thiểu số người nào đó thôi, còn ngoài ra quần chúng nhân dân chưa hiểu ra và cũng ít có quan niệm coi đạo Phật là một tôn giáo lớn như mọi người đều thấy sau đó và ngày nay…”.

“Đến thế kỷ thứ hai (sau  CN), trong nước Việt Nam đã có từ lâu rồi, chỉ có rằng chưa nổi tiếng rộng khắp đó thôi” (1).

Trong sách “50 chùa cổ Hải Phòng” xuất bản năm 2013 cũng có viết về hai chùa là chùa Hang và chùa tháp Tường Long, nhưng do hạn chế về tài liệu nên chỉ viết chùa Hang “trước công nguyên – thời Hùng Vương” có nhà sư từ xứ Thiên Trúc đến lập chùa Hang cũng dựa hoàn toàn vào truyền thuyết về nhân vật huyền thoại Chử Đồng Tử mà thôi mà chưa có tư liệu nào để khẳng định từ chùa Hang đạo Phật truyền lên Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) – đóng vai trò “trung tâm Phật giáo tại Giao Châu”.

Trong thời điểm hiện nay, các hội viên Hội KHLS Hải Phòng khi viết “Lược sử Phật giáo Hải Phòng không nên viết nhiều về những điều còn tranh luận do các tác giả có tên tuổi nêu ra, thậm chí “Thành Nê Lê (Đồ Sơn – Hải Phòng) hay “Thành Nê Lê” ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc) còn chưa rõ ràng. Tuy mới chỉ là tính lược sử, nhưng cần có tính chất khoa học, tránh cho bạn đọc tranh luận rồi suy luận linh tinh. Tuy nhiên chúng ta cũng cần nghiên cứu kiến giải cuốn “Đạo Phật và dòng sử Việt” của tác giả Đức Nhuận: “Tại Ấn Độ, do vua Asoka gửi tới 9 giáo đoàn đi truyền bá chính pháp tại các nước, trong đó có một giáo đoàn do 2 ngài Sona và Ultara lãnh đạo đã Việt Nam…

Hồi đó, ở Giao Chỉ, tại thành Lê Nê (tên cũ của vùng Đồ Sơn hiện nay), cách Hải Phòng 12 cây số có bảo tháp A dục (Asoka) do các phật tử địa phương xây nên để tri ân vua A dục đã cử giáo đoàn tới đây để truyền bá Phật pháp”.

Đầu năm 1994, tác giả đã ra thăm quan Đồ Sơn được đọc 8 bài thơ tả cảnh vùng này (Đồ Sơn bát vịnh). Hiện nay chùa Tháp xây dựng khang trang cũng chú giải theo quan điểm này.

Điều đáng chú ý, từ những thế kỷ cuối thời Bắc thuộc, các triều đại Đinh – Lê (Tiền Lê), nhất là từ các triều đại Lý – Trần, vị thế cửa ngõ địa bàn Đông Bắc có núi giáp biển trở lên hết sức quan trọng về quốc phòng – kinh tế. Về mặt tư tưởng – tâm linh, trong đó đạo Phật được các triều đại, nhất là buổi đầu triều Lý xem trọng với vai trò quốc giáo.

Từ nhà sử học đầu tiên và Đại việt Sử ký Toàn thư đều viết về Phật giáo thời   Lý – Trần đã nói đến Đồ Sơn và việc xây tháp Tường Long, đến Phan Huy Chú (1782-1840) - tác giả Lịch triều Hiến chương loại chí, viết trong phần địa chí: “Đồ Sơn về cửa biển về huyện Nghi Dương (tức Kiến Thụy sau này). Các ngọn núi cao sững giáp liền với biển. Triều Lý xây tháp ở trên đỉnh núi từ lâu năm, có yêu quái”.

Cũng tác giả Phan Huy Chú viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm đời Mạc: “về làng dựng am Bạch Vân, tự đặt tên Bạch Vân cư sĩ…, sửa chữa lại chùa thờ Phật, thường dắt sư già đi chơi…thả thuyền ra cửa biển Đồ Sơn xem đánh cá, chống gậy ddi khắp các núi Yên Sơn, Ngọa Vân, Kính Chủ, Đồ Sơn…Có lúc về kinh bày mưu kế lớn (với vua Mạc) rồi lại về am thỏa chí mình. Ông rong chơi nhàn nhã trong 40 năm mà không ngày nào qài ên đời, lòng lo thời, thương đời, thể hiện ra văn thơ. Trong bài  Từ thi (thơ về chùa). Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lại nhấn mạnh quan điểm “tâm phát đèn thiền rõi ánh sâu”, khẳng định và mở đường quan điểm của nhiều nhà nho đương thời và sau này chấp nhận quan điểm Tam giáo đồng nguyên, phù hợp với xu thế tư tưởng – văn hóa Việt Nam qua nhiều đời. Lý Tế Xuyên từng là tác giả chính viết “Việt điện u linh” – kể về các vị thần linh thời Lý sau này đã khẳng định lại quan điểm này. Thời Nguyễn sau này, sách Đồng Khánh Dư địa chí (1880-1888) – phần viết Địa chí tỉnh Hải Dương vẫn khẳng định “tháp Tường Long  (xây từ thời Lý bị phá)..vv..Sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi rõ “táp cũ Đồ Sơn ở xã Đồ Sơn, huyện Nghi Dương cao trăm thước. Năm Gia Long thứ 3 (1805) phá tháp lấy gạch xây thành trấn Hải Dương”…vv..

Đến sau này, (từ 1945-1949) theo nhà khoa học lớn nổi tiếng Hoàng Xuân Hãn, thì năm 1943, khi nghiên cứu ba tấm bia ghi công đức của Lý Thường Kiệt đối với các chùa mà ông viết sách Lý Thường Kiệt (lịch sử ngoại giao triều Lý). Chương XV về  “Đạo Phật đời Lý” nói rõ thời Bắc thuộc, đạo nho và đạo lão (với Thái thú Giao châu Sĩ Nhiếp) nhiều trí thức Trung Hoa tụ tập ở Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh), đạo Nho, đạo Lão phát triển nhưng cũng phải hòa nhập và thích ứng với tín ngưỡng gốc của dân Việt và tập tục dân gian.

Đạo Phật từ Ấn Độ mới lan tràn đến Đông Nam lục địa với tính cách ôn hòa, thần bí, Phật giáo chóng ăn sâu vào lòng tín ngưỡng người Việt. Theo sư Đàm Thiên, Giao Châu đã được Phật hóa từ lâu trước cả Giang Đông  (nước Tề). Khi Phật chưa tới Giang Đông thì ở Luy Lâu (kinh đô Giao Chỉ) làng Lũng Khê ở phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh đã xây hơn 20 ngôi chùa, chọn hơn 500 vị tăng, tụng 15 quyển kinh rồi.

“Vì có thể đạo Phật từ Ấn Độ vào Giao Châu trước khi đến Trung Quốc nên tạo nhiều điều kiện cho Nho giáo và Lão giáo phát triển, nhưng người dân Giao Châu thấy các đạo này thường biện hộ cho bọn xâm lược áp bức mình, còn các nhà sư thường đi sát cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức của dân, lại có lòng từ bi, bác ái…Cho nên đạo Phật thường có ưu thế hơn Nho giáo và Lão giáo rất nhiều” (Gs. Vũ Khiêu).

Dưới thời Lý, rất nhiều chùa, tháp được xây dựng với quy mô rộng lớn. Ở những danh sơn, trong đó núi Đồ Sơn ở huyện nghi Dương (sau này là Kiến Thụy) đều có dựng chùa và tháp, cùng thời với Diên Hựu (chùa Một Cột) ở kinh đô Thăng Long.

Khi tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội thảo về Yên Tử - hồn thiêng (tháng 11/1981), thành phố Hải Phòng hội thảo phục dựng tháp Tường Long (Đồ Sơn-Hải Phòng) năm 2002 các nhà quản lý và khoa học từ Trung ương và các địa phương đã xác định khá rõ vai trò của đạo Phật thời Lý – Trần phát triển đến đỉnh cao. Chùa – tháp Tường Long ở Đồ Sơn (năm 1058) cùng thời với nhiều chùa tháp ở kinh thành Thăng Long gắn liền với sự phát triển rực rỡ của đạo Phật. Vì vậy:

- Trong thời đầu Bắc thuộc, núi Đồ Sơn có am thờ Phật, dưới sự chủ trì, tu tạo của nhà sư từ quê hương đức Phật. Có thể nói, đây là địa bàn cửa ngõ truyền đạo Phật (gốc) vào miền Duyên hải Giao châu.

Đến thời Lý, xây tháp Tường Long và chùa, và cùng thời nhiều chùa khác được xây dựng trên các miền đất sau này thuộc Hải Phòng theo một quá trình quanh co và độc đáo, mà cũng là một điểm sáng cần chú ý để sau đó chúng ta thấy rõ hơn ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tới các địa bàn Hải Phòng sau này….

(1) Hòa thượng Kim Cương Tử: Lịch sử Phật giáo Hải Phòng, Xb. Năm 1990; Tr. 159-160

Nguyễn Khắc Phòng, Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng

Thời gian sớm nhất ra đời của đức Phật và 4 thánh tích quan trọng của Phật giáo

alt

Tranh vẽ (Sưu tầm) minh họa vườn Lumbini - nơi đức Phật được hoàng hậu Mayadevi sinh hạ. Ngài đi liền 7 bước và nói câu nổi tiếng “Thượng thiên, thượng hạ - Duy ngã độc tôn”.

Tìm thấy bằng chứng đức Phật xuất hiện sớm hơn chúng ta tưởng:

Năm 2013 báo chí nước ta đồng loạt trích đăng một tin khảo cổ học gây chấn động thế giới khi tại Nepal người ta tìm thấy dấu tích chứng minh đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên (TCN) chứ không phải vào thế kỷ thứ IV TCN như giả thuyết của các nhà nghiên cứu Phật giáo.

Ngày 25/11/2013, nhóm các nhà khảo cổ học thế giới đã công bố việc phát hiện một cấu trúc bằng gỗ chưa từng được biết đến tại ngôi đền Maya Devi tại Lumbini (Lâm Tỳ ni) ở Nepal – một trong những thánh tích Phật giáo thiêng liêng hàng năm thu hút rất đông tín đồ Phật Giáo và khách du lịch hành hương. Đây là đền thờ Hoàng hậu Maya Devi – người đã sinh ra đức Phật. Lumbini vốn bị rừng che phủ trước khi được tái phát hiện năm 1896. Nơi đây ngày nay là một di sản hóa thế giới được UNESCO công nhận.

Nhà khảo cổ học Robin Coningham thuộc ở Đại học Durham (Anh) – người đồng chỉ đạo nhóm khảo cổ quốc tế tại thánh tích Phật giáo này đã nói: “Câu chuyện rằng Lâm Tỳ Ni đã trở thành thánh tích dưới thời của Hoàng đế Ashoka cần được chỉnh lại bởi vì chúng ta đã biết rõ rằng trước đó nơi này đã được trùng tu trong suốt hàng trăm năm”.

Cho đến nay, bằng chứng sớm nhất về các công trình Phật giáo ở Lâm Tỳ Ni có niên đại không sớm hơn thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, ở thời kỳ trị vì của Hoàng đế Ashoka mà các Phật tử Việt Nam gọi là vua A Dục Kha.

Theo hãng tin AFP, những dấu vết về một cấu trúc dường như là một đền thờ bằng gỗ cổ đã được tìm thấy bên dưới một ngôi đền bằng gạch, nằm trong khu đền thiêng Maya Devi của đạo Phật tại Lumbini, phía Nam Nepal, gần biên giới với Ấn Độ.

Về thiết kế, cấu trúc gỗ này có sự tương đồng với ngôi đền Ashoka được dựng phía trên nó và có vẻ như một cái cây từng mọc lên từ đây - công trình bằng gỗ rỗng ở chính giữa và không có mái này dường như để bảo vệ cái cây - có khả năng là cây nơi đức Phật tổ ra đời. Các ngôi đền bằng gạch được xây dựng sau này cũng đều được xây bao quanh không gian trung tâm này.

Tại vị trí này người ta tìm thấy các rễ cây mà lại không có rác rưởi xung quanh chứng tỏ nơi đây là địa điểm thờ cúng thường xuyên có sự dọn dẹp những gì ô uế (trừ rễ của cây Sa la mà theo truyền thuyết, khi sinh hạ đức Phật, mẹ Ngài đã vịn vào một cành của nó). Các điển tích Phật giáo ghi lại rằng Hoàng hậu Maya Devi đã hạ sinh Đức Phật khi với tay lên một nhánh cây vô ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni khi đang trên đường tới vương quốc của cha mình để chuẩn bị sinh con.

Phần nhiều những gì được biết đến về cuộc đời của đức Phật đều có nguồn gốc từ những điển tích dân gian trong thư tịch Phật giáo, thiếu nhưng bằng chứng khoa học để chứng minh. Phát hiện khảo cổ này là cơ sở khoa học để chứng minh truyền thuyết. Sử dụng phương pháp đo phóng xạ trong các khoáng chất và các chất đồng vị carbon từ than và cát của cấu trúc gỗ, nhóm nghiên cứu kết luận niên đại của nó có từ thế kỷ 6 TCN.

Giả thuyết mà nhiều học giả đồng thuận rằng đức Phật - người đã từ bỏ ngôi vị Thái tử giàu sang để đi tìm kiếm và thuyết giảng về sự khai sáng - đã sống và truyền đạo ở thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, và qua đời ở tuổi 80 nay phải xem xét lại khi dấu tích khảo cổ mới trên đây chứng minh việc người ta thờ phụng đức Phật ngay từ thế kỷ 6 TCN (sớm hơn 2 thế kỷ mà chúng ta vẫn tưởng). Nghĩa là Phật giáo đã ra đời ít nhất là từ thời gian đó. Trước đó, một cột đá sa thạch có niên đại thế kỷ 3 trước Công nguyên tại chùa Maya Devi được tìm thấy và dựa vào đó người ta tin rằng là nơi mẹ Đức Phật đã sinh ra Ngài vào thời gian này.

Theo các tư liệu lịch sử, Đức Phật vốn là hoàng tử Siddhartha Gautama (Tất Đạt Đa), con vua Tịnh Phạn, nhưng ngài luôn cảm thấy đau khổ về thế gian xung quanh. Ngài đã từ bỏ ngôi vị Thái tử, ra đi tìm đường cứu vớt chúng sinh thoát bể khổ trần ai. Sau nhiều năm tu khổ hạnh không ngộ đạo, cuối cùng ngài đã giác ngộ (hiểu được nguyên nhân của những khổ đau của con người và cách tu tập để tự giải thoát bể khổ) khi thiền định dưới gốc cây Bồ Đề 49 ngày. Sau đó Đức Phật đã đi khắp nơi giảng pháp, truyền giáo lý cho mọi người hòng cứu vớt chúng sinh.

Tứ động tâm là gì và tứ động tâm có ý nghĩa như thế nào?:

Theo kinh Trường Bộ I (Đại Bát Niết Bàn), trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật đã có lời căn dặn đệ tử như sau:“Này Ananda, có bốn Thánh tích, người thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam nữ cư sĩ sẽ đến với niềm suy tư: Đây là chỗ Như Lai đản sanh, đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng, đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn. Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên”.

Tứ động tâm là bốn Thánh tích thiêng liêng của Phật giáo tại Ấn Độ, ghi dấu địa điểm diễn ra bốn sự kiện trọng đại trong cuộc đời và sự nghiệp hoằng hóa của Đức Phật Thích Ca.

Tứ động tâm gồm: 1. Lumbini (Lâm Tì Ni) nơi Phật đản sanh; 2. Bodhgaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) nơi Phật thành đạo; 3. Sarnath (Lộc Uyển) nơi Phật chuyển pháp luân - thuyết pháp lần đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như; 4. Kusinara (Câu Thi Na) nơi Phật nhập Niết bàn. Sở dĩ được gọi là động tâm vì bốn nơi này là thánh địa rất linh thiêng, khiến cho khách hành hương xúc động, chấn động mạnh mẽ khi đến chiêm bái tại đây và từ đó tăng trưởng niềm tin, tinh tấn hơn trong sự nghiệp tu tập.

Theo Kinh Trường Bộ I (Đại Bát Niết Bàn), trước khi nhập diệt, Đức Thế Tôn đã có lời căn dặn như sau: “Này Ananda, có bốn Thánh tích, người thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam nữ cư sĩ sẽ đến với niềm suy tư: Đây là chỗ Như Lai đản sanh, đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng, đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn. Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên”.

Chúng ta xem xét từng thánh tích một:

1. Lumbini - nơi đức Phật ra đời.

Nằm dưới chân núi dãy Himalaya, Lumbini cách thành phố Kapilavastu khoảng 25km về hướng đông, là vùng đất hành hương linh thiêng của đạo Phật. Nơi đây hoàng hậu Mayadevi đã hạ sinh đức Phật Thích Ca. Tương truyền, khi được sinh ra, đức Phật đã đứng vững bằng hai chân, mặt hướng về phía bắc đi bảy bước, mỗi bước đi của ngài đều được nâng bằng một tòa sen bên dưới và được chín con rồng che chở. Ngài đã một tay chỉ lên trời, một tay chỉ dưới đất nói câu nổi tiếng “Thượng thiên, thượng hạ - Duy ngã độc tôn” để tỏ rõ sự cao quý của mình. Hiện nay, tại các chùa đều có pho tượng Cửu long sơ sinh diễn tả việc này. Khu đền thờ Phật giáo này là Di sản Văn hóa thế giới, giờ đây thu hút hàng triệu lượt người đến mỗi năm.

2. Bodh Gaya - nơi Đức Phật thành đạo:

Đây là nơi đức Phật đã tọa thiền suốt 49 ngày dưới gốc cây bồ đề bên cạnh dòng sông Ni Liên Thiền. Dưới cội bồ đề, Người đã mở ra con đường giác ngộ và độ sanh cho chúng sinh. Mặc dù ngài đắc đạo đã mấy ngàn năm, nhưng mỗi lần đến thăm, du khách vẫn dường như cảm nhận được ánh từ quang tỏa chiếu, làm khơi dậy tính hướng thiện và lòng thanh tịnh trong mỗi con người.

Tại Bodh Gaya, chúng ta có thể đến tham quan Việt Nam Phật Quốc Tự do thầy Huyền Diệu chủ trì. Đặc biệt, ngôi đền Mahabodhi là chốn linh thiêng, xây theo hình tứ giác cao 52m được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Ngôi chính điện với pho tượng Phật mạ vàng uy nghiêm càng trở nên linh thiêng hơn trong niềm tin của hàng triệu tín đồ Phật tử đến lễ bái, dâng hoa, cầu nguyện… Có thể nói, Bodh Gaya đã trở thành một cái nôi của lịch sử văn hóa Phật giáo và các Phật tử đều ao ước được ít nhất một lần hành hương đến nơi này.

3. Sarnath - nơi đầu tiên đức Phật giảng pháp

Còn được biết đến với tên gọi vườn Lộc Uyển, Sarnath được xem là thánh địa của Phật giáo và là một trong những điểm hành hương không thể thiếu khi đến Varanasi. Theo ghi chép, sau khi đắc đạo dưới cây bồ đề, đức Phật đã thuyết giảng về quy luật tự nhiên của vạn vật cho năm vị tu sĩ khổ hạnh trong lần thuyết pháp đầu tiên. Ngài đã giác ngộ họ và Phật giáo bắt đầu từ đây được truyền bá rộng rãi. Đây cũng là trung tâm Phật giáo lớn nhất tồn tại hơn 1.500 năm sau ngày Phật nhập diệt và là nơi đức Phật trải qua mùa an cư kiết hạ đầu tiên.

4. Kushinagar - nơi Đức Phật nhập niết bàn

Cũng như các thánh địa liên quan đến những biến cố của đức Phật, Kusinagara đã trở thành địa danh quan trọng để các Phật tử đến chiêm bái. Bởi đây chính là nơi đức Phật, sau 49 năm giáo hóa không mệt mỏi, đặt dấu chân lên khắp một vùng rộng lớn của lưu vực sông Hằng, ngài đã nhập niết bàn để trở lên bất diệt. Đến với thánh địa này, khách hành hương thường chiêm bái những nơi thiêng liêng như: điện Mathakuar - nơi đức Phật thuyết bài pháp cuối cùng; chùa và tháp Đại bát Niết bàn - nơi đức Phật nhập diệt; tháp trà tỳ Angrachaya - nơi trà tỳ kim thân đức Phật; và tháp phân chia xá lợi Ramabhar, nơi làm lễ hỏa táng Đức Phật…

Đạo Phật ngày nay cùng với Thiên chúa giáo và đạo Hồi trở thành một trong 3 tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 500 triệu tín đồ và ngày càng tỏ rõ sức hấp dẫn của nó khi thu hút không chỉ tín đồ châu Á mà ngày càng đông người châu Âu, châu Mỹ tin theo. Với triết thuyết khoa học sâu xa mà ngày nay được khoa học hiện đại chứng minh nhiều luận điểm xác thực, Phật giáo có sức hấp dẫn không chỉ người dân bình thường mà cả các nhà vật lý nổi tiếng như Anhxtanh. Ông từng nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu - Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... là những nhà Phật học nổi danh. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động. Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”

Phạm Văn Thi sưu tầm, tổng hợp.

Đốt tiền, vàng mã, hàng mã – một hủ tục cần từ bỏ.

Đốt tiền, vàng mã, hàng mã – một hủ tục cần từ bỏ.

alt

Thực trạng hiện nay:

Hiện nay ở nước ta, việc đốt tiền mã, vàng mã, đồ dùng, voi, ngựa, hình nhân… bằng giấy đang được người dân thực hiện một cách thái quá. Với quan niệm “trần sao âm vậy”, một số người cho rằng, để hiếu đễ với người thân dưới âm phủ, họ phải đốt tiền, vàng, đồ dùng như quần, áo nón, mũ, giày, dép, ti vi, điện thoại, nhà lầu, xe máy, thậm chí cả ô tô, tàu thủy, người hầu gửi cho người âm. Số khác thì cho rằng, dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ nên họ không tiếc tiền mua hàng mã (có những thứ lên tới tiền triệu, vài triệu, chục triệu đồng) đốt dâng tại các đền, phủ, chùa, miếu.

Người ta đốt tiền, vàng  giấy (hóa vàng) vào các dịp tang ma, cúng bái đã đành, mà còn vào các ngày lễ, Tết, ngày Mùng Một, ngày rằm quanh năm, nhất là dịp rằm tháng Bảy (ngày lễ Vu lan báo hiếu theo quan niệm nhà Phật). Những nhà làm hàng mã chuyên nghiệp cho biết: Chỉ cần dốc sức cung ứng cho thị trường vào dịp cúng rằm tháng Bảy, là có thể thu nhập sống cả năm! Điều ấy chứng tỏ hàng mã bán chạy như thế nào! Rõ ràng là người ta đã đem tiền thật đi mua tiền, vàng giả về đốt không tiếc tiền cho những mục đích không nhìn thấy kết quả.

Hiện nay, ngày càng có nhiều người tiến bộ phản đối việc đốt hàng mã tràn lan, lãng phí, dễ gây hỏa hoạn, cho rằng đạo Phật không tán thành việc đốt vàng mã, vật dụng bằng giấy.

Trong kinh sách Phật giáo không không hề quy định việc đốt giấy tiền, vàng mã cho người chết. Vì theo Phật giáo, người chết chậm nhất là sau bốn mươi chín ngày thì nhất định sẽ được thác sinh vào một cảnh giới tương ứng với nghiệp mà họ đã gây tạo lúc sống. Ở mỗi cảnh giới khác nhau, sự thọ dụng đồ ăn, đồ dùng của họ trong các cảnh giới ấy hoàn toàn khác biệt, không giống như chúng ta quan niệm trần sao âm vậy. Do đó, dùng những vật dụng, tiền bạc của cõi dương để cung cấp cho các chúng sinh ở các cõi khác là điều không khả dụng. Đó là chưa nói việc đốt chúng gửi cho người âm không có địa chỉ (như trên trần thế) liệu họ có nhận được không? Mặt khác, mỗi nước, mỗi thế giới đều có đồng tiền riêng, nên việc làm vàng, tiền của người dương để gửi cho người âm là làm hàng giả, tiền giả làm sao người âm có thể dùng được (nào ai biết hình thù tiền mã, vàng mã của thế giới âm phủ ra sao).

Về mặt đạo đức, việc con người ta đốt tiền, vàng mã, đồ dùng mã cho người thân quá cố với mong muốn người nhà ở dưới âm được đủ đầy, không thiếu thốn là một tâm tưởng tốt, thế nhưng Phật giáo xem sự thể hiện “ hiếu đạo” bằng việc đốt vàng mã là một hủ tục, vì việc làm ấy hoàn toàn vô ích đối với người chết, chỉ lãng phí tiền của, công sức và gây ô nhiễm, hoả hoạn mà thôi. Và giả sử người chết có nhận được chăng nữa thì việc làm đó lại lợi bất cập hại bởi quan niệm nhà Phật là muốn tu tạo để chuyển sang một cảnh giới tốt, thì người chết phải từ bỏ mọi tham, sân, si. Thế mà người dương lại cứ làm cho người âm không dứt bỏ được ham muốn vật chất bằng cách gửi tiền, gửi đồ cho thì người âm thì sao họ có thể tu tạo, hồi hướng được.

Đối với các Phật tử và người dân chưa thông suốt giáo lý, vẫn quen với tập tục dùng vàng mã trong tang lễ và hiếu sự, Phật giáo không cấm đoán, chỉ khuyên nhủ họ từ bỏ hoặc thay thế bằng các việc làm có lợi ích thiết thực hơn như phóng sinh, dùng tiền mua vàng mã, đồ dùng đó để bố thí cho người nghèo, cứu giúp kẻ khó khăn nhằm chuộc tội cho người chết. Đây mới là việc làm “ âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm từ bi tuệ giác của đạo Phật.

Xuất xứ của tục đốt hàng mã:

Ở Trung Hoa, từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (năm 105 sau CN – đời Hán), ông Thái Linh bắt đầu lấy vỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Sau này, một người tên Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v... đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: “Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường Bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ”. Vậy nên ông Vương Dũ có thể coi là thủy tổ nghề vàng mã.

Cần phải nói rằng, việc đốt vàng mã là một tập tục đã có hàng nghìn năm nay ở Việt Nam, từ thời nước ta còn bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, mà cụ thể hơn là bắt đầu từ thời Đông Hán đô hộ (giai đoạn mà Thái thú Sĩ Nhiếp đẩy mạnh truyền bá Nho học ở Giao Chỉ - cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III). Phong kiến phương Bắc luôn chủ trương đồng hóa người Việt theo phong tục, văn hóa nước họ. Người Việt chúng ta không thể nói là không bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc (cả mặt tốt lẫn mặt xấu), trong đó có tập tục đốt vàng mã, đồ dùng mã. Với quan niệm đạo hiếu trong Nho học Khổng Tử thì việc đốt tiền, vàng, đồ dùng cho người thân nơi cõi âm được giới thống trị Trung Hoa mang sang phổ biến ở Giao Chỉ và ăn sâu, bén rễ ở nước ta đã hàng nghìn năm nay, không dễ ngày một, ngày hai có thể thuyết phục dân ta bỏ được.

Đến thời Đường – Tống, đồ tuẫn táng hay tùy táng (chôn theo người chết) bằng gốm sứ hay kim loại ít dần trong tang lễ. Người ta thay bằng ngựa giấy, bát giấy, người giấy, gia súc giấy,… vừa đáp ứng nhu cầu tuẫn táng cho người thân, vừa thông qua hỏa thiêu để chuyển hóa được sang cho cõi âm sử dụng.

Một câu hỏi đặt ra, tại sao ngày rằm tháng Bảy là ngày lễ Vu lan báo hiếu của đạo Phật người ta lại đốt rất nhiều vàng mã, đồ mã để gửi cho người thân dưới âm?

Xuất xứ của việc này được giải thích bằng chuyện chép ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo của Trung Hoa:

Vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (năm 762), khi Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: rằm tháng Bảy là ngày vua Diêm Vương ở âm phủ xem xét xá tội các vong hồn, nhà vua nên thông sức cho dân khi cúng lễ gia tiên vào ngày này nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong hồn.

Vua Đạt Tôn muốn lấy lòng dân nên đồng ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy để tỏ lòng hiếu nghĩa với gia tiên. Nhưng việc này lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích vì trái với quan điểm Phật giáo. Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người nhà Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, người đã chế ra đồ vàng mã.

Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài đã đục lỗ để thở và trữ sẵn thức ăn, nước uống. Khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng đem cả hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mạng ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ ầm ĩ. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài và anh chàng giả chết kia cũng từ từ ngồi dậy, lù đù bước từ quan tài ra, với một điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật lại chuyện với dân chúng rằng: “Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”. Dân chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mệnh được và thánh thần trong tam, tứ phủ cũng tham lễ đồ mã, tăng phúc, giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ cho ai có nhiều lễ biếu. Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần cũng tiêu dùng đồ mã, tất nhiên là vàng mã phải đắt hàng.

Trước đây Việt Nam bị phong kiến Trung Quốc đô hộ hơn 1.000 năm, phong tục của họ hay, dở mình buộc phải theo đã đành, nay nước ta là một quốc gia độc lập, tự chủ, có truyền thống bất khuất, không dễ gì bị đồng hóa, thì không lẽ lại vẫn học theo cái dở của người Tầu?.

Hiện nay nước ta đã và đang hội nhập sâu rộng với thế giới trên tất cả các lĩnh vực nhưng Đảng và Nhà nước luôn chủ trương “hòa nhập mà không hòa tan”. Chúng ta tiếp thu có chọn lọc những gì là tiên tiến, văn minh của các nước và phải từ bỏ những tàn dư lạc hậu xưa cũ, trong đó có việc đốt tiền, vàng mã, đồ mã. Mọi người, mọi nhà nên làm theo lời khuyên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được bày tỏ trong thông bạch số 31 vừa qua của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam là: “Đề nghị chư tôn đức tăng ni nêu cao tinh thần Bồ tát đạo, hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam”.

(Nguồn: Đốt tiền, vàng mã, hàng mã – một hủ tục cần từ bỏ./Phạm Văn Thi, Hội Văn hóa Dân gian HP//Tạp chí Khoa học & Kinh tế . - Số 182, năm 2018. - Tr. 38-39-40)


Văn hóa phi vật thể Hải Phòng – Tiềm năng du lịch nhân văn.

Văn hóa phi vật thể Hải Phòng – Tiềm năng du lịch nhân văn.

Bao đời nay, nông thôn Việt Nam in đậm trong ký ức những người xa xứ với hình ảnh cây đa, bến nước, những mái đình, mái chùa rêu phong cổ kính và tiếng chuông chùa ngân vang sáng tối, những lễ hội dân gian cổ truyền nghiêm trang xen lẫn những trò chơi dân gian vui nhộn. Những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể này cần phải được gìn giữ và phát huy tính tích cực của nó trong cộng đồng nhằm hun đúc lòng yêu quê hương, đất nước và tự tôn dân tộc – một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng mà hàng nghìn năm đô hộ của phong kiến phương bắc, hàng trăm năm Pháp thuộc vẫn không bị đồng hóa, không mất đi nét riêng độc đáo mình.

Nét riêng độc đáo này có thể là những ngành, nghề truyền thống của các địa phương làm ra các sản phẩm nông nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp có chất lượng và giá trị thẩm mỹ cao, dành được thiên cảm của người tiêu dùng không những trên địa bàn thành phố mà còn ở cả các tỉnh, thành trên cả nước. Những sản phẩm của bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo đó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người làm ra chúng mà còn là niềm tự hào của địa phương đã lưu truyền và gìn giữ được nghề cha truyền con nối của cha ông.

Theo nguồn tài liệu của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hải Phòng đã từng có trên 60 làng nghề với 20 loại hình nghề khác nhau, phần lớn là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, nhiều làng nghề được hình thành từ hàng trăm năm như: Sơn mài điêu khắc Bảo Hà (xã Đồng Minh); con giống Nhân Mục (xã Nhân Hòa) huyện Vĩnh Bảo; chiếu cói Lật Dương (huyện Tiên Lãng); mây tre đan Chính Mỹ (huyện Thủy Nguyên), Tiên Cầm (An Lão); gốm sứ Dưỡng Động, đúc kim loại Mỹ Đồng (Thủy Nguyên); đất nung Tiên Hội (An Lão), nước mắm Cát Hải, bánh trưng Thủy Đường, làm hương Kiền Bái (Thủy Nguyên); trồng hoa Đằng Hải; trồng-chế biến thuốc lào Tiên Lãng, Vĩnh Bảo… Tuy nhiên do nhiều hoàn cảnh và yếu tố như chiến tranh, biến động thị trường, nhu cầu khách hàng, sự cạnh tranh giữa các địa phương, gu thẩm mỹ từng thời kỳ… mà nhiều làng nghề Hải Phòng đã mai một, thất truyền. Đến nay trên địa bàn thành phố còn 31 làng nghề đang duy trì và phát triển, trong đó 17 làng nghề truyền thống, 14 làng nghề mới thuộc 25 xã, phường, thị trấn, tập trung vào các nghề: Mây tre đan, đồ mộc dân dụng, điêu khắc, sơn mài, cơ khí, chế biến bánh đa, dịch vụ vận tải, thủy sản…

Theo tiêu chuẩn công nhận làng nghề truyền thống của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hải Phòng có 12 làng nghề đạt tiêu chuẩn đã được UBND thành phố cấp bằng công nhận. Đó là các làng nghề: Mộc nội thất Kha Lâm (Kiến An), dệt chiếu cói Lật Dương (Tiên Lãng), điêu khắc gỗ, sơn mài Bảo Hà (xã Đồng Minh), sản xuất cá giống Hội Am huyện Vĩnh Bảo, mây tre đan Chính Mỹ, đúc cơ khí Mỹ Đồng, vận tải thủy An Lư, thủy sản Lập Lễ, trồng và chế biến cau Cao Nhân (Thủy Nguyên), bánh đa Khinh  Giao, mây tre đan Tiên Sa (An Dương), mây tre đan Tiên Cầm (An Lão).

Bên cạnh những làng nghề truyền thống có từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945, người dân một số địa phương đã chuyển đổi cơ cấu ngành nghề sản xuất, đầu tư phát triển những nghề mới và sản phẩm của họ đã tìm được chỗ đứng trên thị trường, giúp người dân không những phát triển kinh tế mà còn tạo thương hiệu cho những làng nghề mới như trồng nhãn, vải Bát Trang (An Lão), làng hoa Đồng Dụ (xã Đặng Cương huyện An Dương), xã Đồng Thái, Hồng Thái chuyên trồng đào, quất, hải đường.

Cần phải nói rằng, làng nghề không chỉ là sản phẩm văn hóa phi vật thể, tiềm năng kinh tế mỗi địa phương mà còn là tiềm năng của du lịch nhân văn. Khi kinh tế xã hội phát triển, đời sống được nâng cao thì nhu cầu du lịch, thăm quan của người dân ngày càng tăng. Du lịch làng nghề truyền thống giờ đây đang có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nội địa trong các tour - tuyến du khảo đồng quê, thậm chí cả du khách nước ngoài.

Cũng như một số tỉnh, thành phố trên đất nước ta, nền văn hóa – văn nghệ dân gian Hải Phòng rất phong phú với nhiều hình thức và thể loại, vốn đã trở thành truyền thống tại các địa phương.

- Về trò chơi dân gian có: Múa rối (cạn và nước) ở xã Đồng Minh, Nhân Hòa huyện Vĩnh Bảo; Thi pháo đất ở Tân Liên (Vĩnh Bảo); Thả đèn trời ở xã Nhân Hòa (Vĩnh Bảo); Tam cúc điếm ở lễ hội đền Phú Xá, An Dương; Bơi chải ở Cát Hải, Đồ Sơn, An Dương, Tiên Lãng…; Hội vật làng Vĩnh Khê, xã An Đồng huyện An Dương thu hút không chỉ các đô vật nam mà cả nữ ở Hải Phòng và các tỉnh lân cận về vui chơi, thi đấu, đó là chưa kể môn võ vật đã trở thành thế mạnh của các vận động viên Tiên lãng.

- Lễ hội dân gian truyền thống cũng phong phú ở nhiều địa phương trên địa bàn thành phố như:

Lễ hội “Từ Lương Xâm” (nay thuộc quận Hải An) tôn thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền; Hội làng Trinh Hưởng (xã Thiên Hương - Thủy Nguyên) tôn thờ 3 anh em họ Đào (Đào Tế, Đào Lai và Đào Độ) là những người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược do vua Lê Hoàn lãnh đạo trên sông Bạch Đằng năm 981; Lễ hội đền Phú Xá (nay thuộc phường Đông Hải 1 - quận Hải An) tri ân công đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và bà Bùi Thị Từ Nhiên; Lễ hội đình Từ Lâm xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo thờ vị thành hoàng Hoa Duy Thành, danh tướng có công trong kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần.

alt

Lễ hội minh thề ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy nhằm tri ân Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Toàn, chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Bà là người đã lập ra ấp Lan Niểu, nay là làng Hòa Liễu và lập ra hội thề chí công vô tư (nay gọi là Minh thệ).

Lễ hội với trò chơi dân gian tưởng nhớ danh tướng có công với đất nước, tiêu biểu như lễ hội vật cầu, chạy đá ở làng Kỳ Sơn, xã Tân Trào (Kiến Thụy)….

Ngoài những lễ hội lịch sử tôn thờ các vị nhân thần có công với dân, với nước như trên, Hải Phòng còn có những lễ hội tôn thờ các vị thiên thần, cầu sự che chở cho dân, cầu mưa thuận, gió hòa, cho mùa màng bội thu như lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đã trở thành 1 trong 15 lễ hội tiêu biểu cấp Quốc gia; Lễ hội phủ Thượng Đoạn thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh ở phường Đông Hải 1, quận Hải An hay gần đây có lễ hội thường niên tôn thờ nữ tướng Lê Chân - thành hoàng của Hải Phòng mà nhiều nơi phối thờ.

Lễ hội mang ý nghĩa kinh tế như lễ hội rước lợn ông Bồ và bánh dày ở làng Kỳ Sơn huyện Kiến Thụy nhằm cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát đạt.

Còn có một lễ hội cũng đề cao ý nghĩa nông nghiệp là lễ rước lợn hỗng trong lễ hội ở xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo tôn thờ Thành hoàng làng là Nguyễn Công Huệ - ông tổ của nghề tạc tượng, sơn mài làng Bảo Hà.

Một lễ hội khác tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề cho dân ở làng Lạng Côn (Kiến Thụy), đó là lễ hội tri ân người đã làm ra món bánh đa khô và bánh đa nhúng và nay đã trở thành nghề truyền thống của làng là ông Chu Xích Công, người Hoa ở thế kỷ thứ 10.

Những năm gần đây, một số địa phương đã chú trọng những lễ hội tôn thờ danh nhân văn hóa đất nước, có công với dân tộc và địa phương như lễ hội đền Trạng Trình (Vĩnh Bảo) thờ danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, lễ hội thờ trạng nguyên Trần Tất Văn ở xã Thái Sơn (An Lão), lễ hội đền trạng nguyên Lê Ích Mộc ở làng Thanh Lãng xã Quảng Thanh (Thủy Nguyên). Các lễ hội này nhằm đề cao sự nghiệp giáo dục, tôn vinh nhân tài địa phương trong phong trào khuyến học, khuyến tài.

- Vốn văn nghệ dân gian Hải Phòng cũng đa dạng, phong phú như hát chèo, hát tuồng ở xã Quang Trung (An Lão); Hát chèo ở xã Hợp Thành, lại Xuân, Kiền Bái (Thủy Nguyên); Hát cải lương ở xã Thái Sơn (An Lão), Thụy Hương (Kiến Thụy), Cát Hải; Hát ca trù ở làng Đông Môn, xã Hòa Bình (Thủy Nguyên); Hát đúm ở Phả Lễ, Lập Lễ, Phục Lễ (Thủy Nguyên), hát giao duyên trên thuyền ở đầm Kiến Thụy, hát thuyền phềnh, hò hái củi ở Thủy Nguyên…

Nhưng cũng phải nói rằng các hoạt động như trò chơi dân gian, văn nghệ dân gian ở nhiều nơi nay đã mai một hoặc thất truyền. Vốn văn hóa đầy bản sắc địa phương này cần phải được nghiên cứu phục hồi và khuyến khích phát triển trong nhân dân nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống tinh thần trong xã hội, động viên nhân dân lao động, sản xuất.

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nông thôn trong xã hội hiện nay, Hội Văn nghệ dân gian đề nghị thành phố có giải pháp khôi phục các loại hình nghệ thuật tiêu biểu đã mai một tại những nơi có truyền thống nêu trên bằng chủ trương và cơ chế chính sách thích hợp, thỏa đáng, tránh đầu tư dàn trải nhằm tạo điều kiện cho các địa phương phát triển vốn văn nghệ dân gian truyền thống của mình. Quan điểm của chúng tôi là chính quyền và ngành chức năng chú trọng đầu tư phát triển vốn văn hóa - văn nghệ dân gian, không đầu tư cho loại hình ca nhạc nhẹ, kịch nói mà chỉ khuyến khích tự phát triển.

Thành phố rà soát, chỉ đạo các địa phương có di sản văn hóa, tín ngưỡng xây dựng kế hoạch phục hồi di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu, xây dựng các trung tâm văn hóa tín ngưỡng như kiểu Khu di tích lịch sử văn hóa tâm linh Đồ Sơn gồm tháp Tường Long - đình Ngọc Xuyên - đền Long Tiên suối Rồng - đền Chúa Ngũ Phương và kết hợp tổ chức các hoạt động văn hóa-văn nghệ dân gian.

Để khuyến khích phục hồi văn hóa dân gian, Nhà nước và Thành phố cần có chế độ động viên bằng vật chất, tưởng nhớ, khen thưởng các danh hiệu: Nghệ nhân Dân gian, nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân đã có công phục hồi, gìn giữ vốn văn hóa dân gian truyền thống, tạo cho họ môi trường và điều kiện quảng bá nghệ thuật mà họ nắm giữ trong nhân dân. Việc này hiện chưa được quan tâm thích đáng ở Hải Phòng, trong khi cá tỉnh, thành như Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội đã có chế độ phụ cấp cho nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu.

Thành phố, các quận, huyện và ngành Văn hóa Hải Phòng cần quan tâm thích đáng cho phong trào văn nghệ dân gian, hàng năm tổ chức các hội thi, liên hoan văn nghệ dân gian để bảo tồn phát triển vốn văn hóa giàu bản sắc địa phương, khen thưởng kịp thời các điển hình tổ chức hoạt động tiêu biểu.

Thành phố cần có chính sách đẩy mạnh xã hội hóa việc phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa - văn nghệ dân gian theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng đóng góp, tạo nên khả năng phát huy vốn di sản văn hóa địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa mỗi làng, xã.

Phong trào xây dựng Nông thôn mới hiện nay cần được gắn kết với phong trào khôi phục, bảo tồn di sản văn hóa dân gian tiêu biểu mỗi địa phương bằng các tiêu chí cụ thể nhằm phát huy được sự đồng lòng của ý Đảng và tâm nguyện nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội văn minh, giàu đẹp.

Phạm Văn Thi, Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng.

Kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử, văn hóa

Ngày 11/7/2019 tại hội trường tầng 3, Sở Khoa học và Công nghệ, số 1 Phạm Ngũ Lão, TP Hải Phòng; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hải Phòng đã tổ chức khóa bồi dưỡng nghiệp vụ “Kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử, văn hóa”.

alt

Hội nghị đã nghe PGS. TS Nguyễn Văn Tiến- Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thuyết trình chuyên đề: Kiến trúc truyền thống các di tích lịch sử, văn hóa; bao gồm các mục: Kiến trúc cổ Việt Nam; Một số loại hình kiến trúc truyền thống tiêu biểu. Hội nghị nghe ông Nguyễn Đình Chỉnh- Phó Chủ tịch TT Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng thuyết trình chuyên đề: Bài trí thờ tự trong di tích lịch sử văn hóa; bao gồm các mục: Đối tượng thờ; Các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng; Nguyên tắc bài trí thờ tự; Văn miếu, văn từ, văn chỉ.

alt

Chương trình với mục đích trang bị thêm kiến thức cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, quản lý văn hóa, thực hành tín ngưỡng của thành phố về kiến trúc và bài trí thờ tự trong các di tích lịch sử văn hóa.

MT

Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Mạc

alt

Phật giáo Việt Nam từng có giai đoạn phát triển cực thịnh khi đạo Phật trở thành Quốc giáo (triều tiền Lê, triều Lý) và có những Quốc sư như Pháp Thuận, Ngô Khuông Việt và Minh Không mà nhà Vua cũng phải kính trọng và tham vấn việc trị quốc, an dân. Do nhiều nguyên nhân, dần dần đạo Phật suy giảm vị thế và đến khi nhà Hồ (Hồ Quý Ly) thay thế nhà Trần rồi nước ta bị nhà Minh đô hộ thì đạo Phật không còn vị trí đáng kể trong xã hội Đại Việt.

Kể từ khi Lê Hoàn lên ngôi năm 980 mở đầu cho thời kỳ đạo Phật thịnh và đến năm 1407 khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ để thống trị nước ta và thi hành âm mưu đồng hóa Văn hóa Việt thì phật giáo suy vi.

Giai đoạn cuối thời Hậu Lê khi triều chính suy đồi, kỷ cương hỗn loạn, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi với một số lãnh tụ cát cứ các địa phương thì Vua cũng trở lên bất lực không duy trì được vai trò trị quốc. Trong tình hình ấy, với thế lực mạnh và thực quyền của mình, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, lập lên nhà Mạc (tháng 6 năm 1527).

Trong 65 năm tồn tại chính thức (1527-1592) khi định đô ở Thăng Long và xây dựng Dương Kinh (xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy nay) quê hương mình làm kinh đô thứ hai, nhà Mạc đã thực thi một số chính sách thúc đẩy kinh tế, thương mại, mỹ thuật dân tộc, kích thích Phật giáo và nhất là mở mang thi cử tuyển chọn nhân tài giúp nước.

Triều Mạc tuy trị vì ngắn ngủi nhưng cũng mang lại cho đất nước bước khởi sắc về trật tự xã hội, kinh tế và văn hóa trong đó có việc chấn hưng Phật giáo.

Nhà Mạc không ban hành chính sách cụ thể về tôn giáo tín ngưỡng nhưng dựa trên những việc làm thực tế của vua quan, các thành viên hoàng tộc trong việc cúng tiền, tặng đất hưng công, xây dựng chùa chiền, tạc tượng chứng tỏ triều đại này rất quan tâm tới việc phát triển đạo Phật.

Ngay sau khi nắm quyền, Mạc Đăng Dung đã cho sửa sang lăng miếu của vua Lê ở Nam Kinh và định kỳ cúng tế. Có quan điểm cho việc làm này chỉ là mị dân, che mắt thế gian, mong yên lòng người, tránh sự phản kháng của quần thần nhà Lê. Nhưng đánh giá như vậy có thật khách quan không? Nếu Mạc Đăng Dung không phải người nhân đức trung nghĩa thì sao lại làm vậy? Lịch sử Việt Nam đâu phải không có chuyện, để độc bá thiên hạ, các triều đại sau đã triệt phá dấu tích của các vương triều trước. Nên xem việc duy trì lễ cúng tế tông miếu nhà Lê của Mạc Đăng Dung không phải chỉ để tri ân một triều đại đối với đất nước. Lớn hơn thế, việc ông làm là để tôn vinh công trạng của nhà Lê với lịch sử dân tộc trong quan điểm “uống nước nhớ nguồn”.

Tiếp đó Mạc Đăng Dung lệnh cho trưởng thái giám hiệu Thụy Trúc thiền sư xây dựng chùa bà Đanh (chùa Thiên Phúc) ở Kiến Thụy - Hải Phòng. Có thể coi việc làm này là sự mở đầu cho công cuộc sửa sang, xây dựng lại những ngôi chùa đã bị phá bỏ trong thời kỳ thuộc Minh và lãng quên bởi nhà Lê sơ, tạo tiền đề cho sự phát triển của đạo Phật. Tư liệu văn bia thời Mạc là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ trở lại của đạo phật. Trong số 146 bia thời Mạc còn lại tới nay có tới 109 bia chùa với nội dung về ruộng đất chùa, việc xây dựng và người hưng công.

Đi tiên phong cho việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông là các thành viên của hoàng tộc nhà Mạc, tiếp đó là những người hiển danh có điều kiện kinh tế, cuối cùng là nhân dân địa phương. Theo tư liệu văn bia, có hàng trăm thành viên trong hoàng tộc và các đại thần của triều đình tham gia tu bổ và xây chùa phật.

Trong số những thành viên của hoàng tộc cung tiến tiền của xây dựng chùa trước hết phải kể đến các vị đương kim hoàng thượng như: Mạc Phúc Nguyên, đã ban “Cấm tiền” cho chùa Linh Cảm (Từ Sơn – Bắc Ninh, năm 1557), Mạc Mậu Hợp cúng 20 lạng bạc vào chùa Hoa Tân (Hải Phòng, năm 1582). Đặc biệt, Thài Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn được xem là người cung tiến nhiều nhất hoàng tộc. Bà đã cúng 30 mẫu ruộng và 6000 lá vàng cùng bạc tiền cho trên chục ngôi chùa ở khu vực Dương Kinh (Kiến Thụy nay) và vùng phụ cận. Do công đức xây chùa, bà được dân gian tôn phong là “mẫu nghi thiên hạ, là Phật sống trên trần gian”. Chính vì lẽ đó bà Thái Hoàng Thái Hậu được dân làng nhiều nơi tạc tượng thờ còn để lại đến ngày nay ở một số chùa thành phố Hải Phòng.

Vị Thái hoàng Thái Hậu này còn tham gia xây chùa Thiên Phúc (như đã nói ở trên) cùng các thành viên hoàng tộc khác như: Hoàng Thái Hậu họ Phan, Khiêm Thái Vương họ Mạc, Tĩnh Quốc Thái phu nhân họ Nguyễn, Tu Hòa Thái Trưởng công chúa họ Mạc, Bảo Gia thái trưởng công chúa họ Mạc, Phúc Thành thái Trưởng công chúa họ Mạc, Khiêm Thái Vương phi họ Mạc,…..Tổng cộng 33 người. Đặc biệt bà Quận công Mạc Ngọc Liễn và Phúc Thành Thái trưởng công chúa tham gia xây dựng hàng chục ngôi chùa, quán, trong đó có Ninh Tiên. Tình cảm và niềm tin tôn giáo khiến họ trở thành tín đồ có pháp danh: Đức Quảng (Mạc Ngọc Liễn) và Từ Đức (phúc Thành) như nhà tu hành thực thụ. Các thành viên trong hoàng tộc đã công đức xây khoảng 80/168 ngôi chùa được xây dựng thời kỳ này.

Sự hưng khởi của đạo Phật vào thời nhà Mạc còn thể hiện ở chính sách ruộng đất. Nhà nước cho phép cá nhân cúng ruộng vào chùa dưới dạng làm công đức và đặt hậu. Chính vì vậy, dưới thời Mạc hầu như chùa nào cũng có ruộng, trong đó nhiều chùa có số ruộng lớn hàng chục mẫu như: chùa Pháp Vũ (Thường Tín – Hà Nội) 70 mẫu, chùa Hoa Tân (Hải Phòng) 50 mẫu, chùa Nghiêm Quang ( Hải Phòng) 31 mẫu, chùa Thiên Phúc (Hải Phòng) 25 mẫu 1 sào 2 thước.

Còn ở những nơi xa kinh kỳ như Ninh Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, việc xây dựng chùa đều do các quan địa phương khởi xướng với sự tham gia đóng góp của nhân dân trong làng xã.

Vào thế kỷ XVI, trong phạm vi kiểm soát của Bắc triều (Triều Mạc làm chủ từ vùng đất Ninh Bình trở ra Bắc), Phật giáo lại có điều kiện hưng khởi. Khắp vùng Hải Dương, An Bang, Sơn Tây, Kinh Bắc chùa chiền mọc lên khá nhiều. các chùa Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu thuộc Kinh Bắc đã được trùng tu. Trên đất Hải Dương các chùa Quỳnh Lâm, Sùng Quang, Đông Sơn được tu bổ lại to lớn, đẹp đẽ hơn.

Tư liệu về mỹ thuật đời mạc đến nay rất nghèo nàn vì chiến tranh và sự trả thù, thủ tiêu của tập đoàn Lê-Trịnh:

Năm 1592 khi truy kích quân Mạc ở huyện Thanh Hà thì nhà cửa tại các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn bị quân Lê-Trịnh đốt cháy gần hết.

Khi Chúa Trịnh giúp vua Lê khôi phục kinh sư đã đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai Hải Phòng, hủy bia đá ở mộ các thân vương nhà Mạc, chặt hết cây trồng trong lăng.

Tuy nhiên nhân dân nhiều nơi, nhất là người xứ Đông (gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình) vốn rất cảm tình với nhà Mạc đã gìn giữ được một số di vật quý giá mà từ trước năm 1945 ta đã biết là các bia đá và chân đèn gốm khắc rõ các niên hiệu thời Mạc, sau đó lại biết tượng Mạc Đăng Dung và bà bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản (vợ Mạc Đăng Dung) ở chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy, Hải Phòng); Tượng Mạc Đôn Nhượng ở chùa Phúc Linh (thôn Nhân Trai, xã Đại Hà, Kiến Thụy).

Năm 1987 pho tượng Đức Vua (nhà Mạc) bằng đá ở chùa Hưng Khánh, thôn Trung Hành, xã Đằng Lâm (nay thuộc quận Hải An, Hải Phòng) được hai nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Hạnh và Nguyễn Anh Tuấn đoán định thuộc thời Mạc.

Năm 1992, Viện Mỹ thuật đã trở lại 3 ngôi chùa trên để thẩm định phong cách và tìm hiểu những văn tự bổ trợ góp phần làm rõ niên đại và nhân thân tượng.

Ở chùa Thiên Phúc, tượng bà Vũ Thị Ngọc Toản ở trong vòm có 2 chữ Động Phủ, phía nam có 2 dòng chữ “trung nguyên tân hội niên tứ nguyệt sơ nhất nhật” “Tăng Phúc Huyền phụng hoành” cho biết tượng được làm từ năm 1551 do nhà sư Phúc Huyền tổ chức làm. Còn tượng Đức Vua ở chùa Hưng Khánh tìm được dòng chữ “Quý mùi niên, Trung Hành xã. Phù Đông Hầu tạo - Kính chủ xa – Ngũ nhân tạo” cho biết niên đại của tượng là 1583, do ông Phù Đông, tước hầu ở xã Trung Hành đặt làm (hay tạc tượng mẫu), còn tạc trực tiếp là 5 người thợ ở xã Kính Chủ.

Trở lại chùa Phúc Linh, pho tượng đá cho là của Mạc Đôn Nhượng có tước hiệu là Khiêm Vương. Nhưng Khiêm Vương lại là tước hiệu của Mạc Kính Điển còn tước hiệu của Mạc Đôn Nhượng là Ứng Vương. Vả lại pho tượng lại có dáng hình giống như tượng Đức Vua (Thái tổ Mạc Đăng Dung) ở chùa Hưng Khánh đã nói ở trên và chùa Bạch Đa và chùa Đại Linh dưới đây. Ngoài ra ở chùa Phúc Linh còn có pho tượng gỗ Ông Thiện có dáng dấp chung gợi nhớ tượng Mạc Đăng Dung ở chùa Thiên Phúc (Trà Phương). Phải chăng pho tượng đá ở đây cũng là Đức Vua (Mạc Đăng Dung) như ở chùa Hưng Khánh, còn pho tượng gỗ mới là Mạc Đôn Nhượng.

Chùa Phúc Hải (xã Đa Phúc) có pho tượng đá đức vua to bằng người thực, đội mũ bình thiên, áo hoàng bào, cầm hốt, ngồi ngai, tạc năm 1580. Chùa Đại Linh (thôn Đại Trà, xã Đông Phương, Kiến Thụy) có hai pho tượng đá là Đức Vua và Quan âm tọa sơn, tạc năm 1570. Chùa Thiên Phúc (thôn Hòa Liễu) có khá nhiều tượng đá có thể thuộc thời Mạc. Bên cạnh bộ tượng Tam Thế phải kể đến hai tượng Ông Hoàng được tạo hình mang dáng dấp tượng Đức Vua ở các chùa

trên, chỉ khác là ngồi bục chứ không ngồi ngai.

Có thể thống kê được 7 pho tượng Đức Vua ở Hải Phòng được cho là vua Mạc (Mạc Đăng Dung hoặc Mạc Mậu Hợp). Hai vị vua này để lại dấu ấn trong dân gian vì Thái tổ Mạc Đăng Dung có công lập lên triều Mạc, còn Mạc Mậu Hợp là người giữ ngai vàng lâu nhất (1562-1592)

Chùa Minh Phúc (Thôn Minh Thị - Xã Toàn Thắng - Huyện Tiên Lãng) cũng có tượng bà Hoàng Thái Hậu Vũ Thị (Bà Hoàng Thái Hậu có tên là Vũ Thị Quỳnh là vợ ba Thái Tổ Mạc Đăng Dung) gắn vào tấm bia mang hình thức vòm động có 3 chữ “Vân Thủy Âm”. Tượng có hình khối, đường nét bố cục tương tự tượng bà Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản ở hai chùa Hòa Liễu và Trà Phương. Trong tâm thức người dân Kiến Thụy, Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản dường như được đồng hóa với hình tượng Phật bà Quan âm có lẽ bởi lòng thương dân và những đóng góp cho việc hưng công, cúng dàng xây dựng chùa chiền. Hội minh thề khởi nguồn ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy là một minh chứng cho thái độ chống tham nhũng, tư lợi của bà.

Cuộc nội chiến Lê Mạc kéo dài hơn 140 năm đã gây lên bao nỗi khổ triền miên cho nhân dân, khiến con người tìm đến với đạo phật như một cứu cánh tinh thần. Đạo Phật đã chỉ cho con người thấy cuộc đời là bể khổ trầm luân, giả tạm. Từ Hoàng Hậu, thân vương, công chúa triều Mạc đến dân thường đã tìm thấy ở đạo Phật niềm an ủi trong tâm hồn.

Cần phải nói rằng trong thời Mạc, giáo lý Phật giáo kém phát triển. Mặc dù dưới triều Mạc xuất hiện một thiền sư khá nổi tiếng là Chân Nghiêm trụ trì tại chùa Sùng Quang, xã Xuân Lâm, huyện Cẩm Giàng có nguyện ước bảo tồn truyền thống dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhưng nhìn chung thời này giáo lý không có gì mới. Thiền sư Chân Nghiêm cho in và công bố sách Thánh Đăng Ngữ lục và viết lời tựa cho sách này vào năm 1550 đời Mạc Phúc Nguyên. Sách ghi chép tiểu sử của 5 vị đại thiền sư đời Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và Trần Minh Tông. Hạn chế của Thánh đăng ngữ lục là có nhiều tài liệu trùng với  Tam Tổ Thực Lục và Khóa Hư Lục.

Thời Mạc, ở các chùa làng có khá nhiều pho tượng Phật có giá trị lịch sử và mỹ thuật. Đặc biệt, pho Quan Âm Nam Hải ở chùa Đa Tốn (Gia Lâm-Hà Nội) có 42 tay lớn và 652 tay nhỏ. Đối với loại tượng quan âm nhiều tay thì đây là pho tượng ra đời sớm nhất ở nước ta. Mặt tượng có kiểu chân dung với vẻ đôn hậu, tươi mát của người thôn nữ Việt Nam bình dị.

Từ mật độ đình, chùa được xây dựng dưới thời Mạc và việc người dân bí mật bảo vệ hình tượng các thân vương nhà Mạc như Mạc Đăng Dung, Mạc Đôn Nhượng, 2 bà Hoàng Thái Hậu nói trên… cho thấy nhà Mạc đã biết cách lấy lòng dân thông qua hoạt động hoằng dương đạo Phật, đề cao khoa cử và như thế mới giải thích được việc tại sao khi nhà Mạc thất thế mà lòng dân xứ Đông vẫn tin theo (Nhiều tượng Đức Vua được che dấu dưới ao, giếng hay tượng bà Hoàng Thái Hậu, công chúa Mạc ẩn dưới lốt Phật bà quan âm, chúa Thượng Ngàn).

Cuối cùng, để đánh giá công lao của nhà Mạc đối với đạo Phật và văn hóa dân tộc, xin dẫn ra đây nhận định sau của các học giả: trong cuốn Mỹ thuật thời Mạc (Hà Nội, 1993), các nhà nghiên cứu khi xem xét mỹ thuật thời Mạc thể hiện trên các kiến trúc, điêu khắc, trang trí đình chùa, tượng Phật, tượng thờ, gốm sứ đã kết luận thời nhà Mạc trị vì là thời đại chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bởi chủ trương dương Nho ức Phật của nhà Lê sơ. Sự hưng khởi này đã tạo ra sức sống mãnh liệt cho một nền mỹ thuật mang đậm bản sắc dân tộc, dân gian.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Đặc điểm nhà Mạc trong lịch sử dân tộc

VIỆC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG PHỐ: CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ, MẠC THÁI TÔNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC.

alt

GS. TSKH Phan Đăng Nhật

Trên báo Tuổi trẻ ngày 9-6-2015 có đăng bài “Giải mã nhà Mạc quanh chuyện đặt tên đường”và ý kiến của ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở V-TT&DL T/P Hà Nội, muốn “lắng nghe ý kiến rộng rãi” của nhân dân. Tôi xin phát biểu ý kiến về vấn đề trên.

Để đặt tên đường phố, cần phải nắm chắc toàn diện công lao của nhân vật lịch sử, nếu là người lập nên một triều đại, cần đối chiếu công lao của cá nhân với triêu đại mà họ lập nên. Chỉ chú mục vào một sự kiện và tách rời sự kiện đó ra khỏi hoàn cảnh lịch sử để khen hoặc chê là thái độ thiếu khách quan. Vì vậy, đầu bài của chúng tôi có các nội dung như trên và trình tự của bài viết gồm có các phần chính:

-Tóm tắt đặc điểm của nhà Mạc trong lịch sử dân tộc.

-Công lao của Mạc Thái tông và Mạc Thái tổ

I.TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM NHÀ MẠC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

1.Nhà Mạc tồn tại tương đối lâu dài

+Tổng số thời gian tồn tại là 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử:

-Thời kỳ Thăng Long-Dương Kinh: 65 năm (1527-1592)

-Thời kỳ Cao Bằng, 91 năm (1592-1683)

-Thời kỳ Hậu Cao Bằng, 86 năm (1683-1769)

Xin đối chiếu với một số triều đại khác:

+các triều đại được coi là chính thống: Lý: 215 năm, Trần: 175 năm, Lê sơ: 99 năm, Lê Trung hưng: 245, Nguyễn: 143

+các triều đại bị quy là không chính thống: Hồ : 7 năm, Tây Sơn: 24 năm.

+Nhà Mạc bao gồm 12 đời vua và một đời chúa ( chúa lớn chẩu luông-Hoàng Công Chất).

Chúng tôi nghĩ rằng các con số trên đây, chứa đựng rất nhiều thông tin. Trước hết, chứng tỏ, nhà Mạc là một vương tộc được nhân dân rất ủng hộ, mà nhân dân đã đem xương máu bảo vệ, trong hai thế kỷ rưỡi, bất kỳ ở đâu; ở Thăng Long-Đông Đô, 65 năm; ở hành tại Hải Dương, 7 vạn người lập tức đi theo dưới cờ vua Mạc Kính Chỉ; ở miền núi Cao Băng; ở miền núi Tây Băc, dưới cờ chúa lớn Hoàng Công Chất . Về vấn đề này, GS Nguyễn Minh Tường đã nhận định đúng: “Nhiều nhà nghiên cứu đã nói tới vị trí hiểm trở của vùng cát cứ Cao Bằng và sự che chở của nhà Minh, nhà Thanh đối với họ Mạc. Nói như vậy là hoàn toàn đúng, song có lẽ chưa thật đầy đủ. Vì lẽ, nếu như con cháu họ Mạc không nhận được sự ủng hộ của nhân dân ở hầu khắp miền Bắc thì dù địa bàn hoạt động thuận lợi mấy đi nữa hay kể cả được phong kiến Trung Quốc gây áp lực với triều đình Lê - Trịnh, họ cũng không thể trụ lại ở Cao Bằng lâu như vậy (91 năm)”.

Đến đây có vấn đề được đặt ra, tại sao được như vậy, lại trong hoàn cảnh bị Lê-Trịnh truy sát, tiêu diệt một cách man rợ, vấn đề này xin được bàn vào dịp khác.

Thông tin thứ hai là, tính kiên định, kiên cường của nhà Mạc trong sự nghiệp chiến đấu chống phong kiến Lê-Trịnh (điểm 2)

2.Tuyệt đối kiên định, bất di bất dịch là đánh đổ phong kiến Lê-Trịnh , lập nên và lập lại vương triều Mạc (phục Mạc).

3.Quyết tâm bảo vệ đất nước, dầu hoàn cảnh nào “cũng không mời người Minh/ ngoại xâm đặt chân lên đất nước ta, coi đó là một tội lớn” (Mạc Ngọc Liễn)

-năm 1540 Thái tổ Mạc Đăng Dung đã đẩy lùi 22 vạn quân Minh đã kéo sang biên giới nước ta. (sẽ trình bày kỹ ở phần sau-công lao của Mạc Thái Tổ)

-Chúa lớn (chẩu luông ) Hoàng Mạc Công Chất, đánh đuổi giặc Phẻ, từ Vân Nam sang, thu hồi đất đai toàn Tây Băc, lấy lại Thập Châu bị phong kiến Trung Quốc chiếm: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Châu La, Luân Châu, Quảng Lãnh, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Toàn, Tuy Phụ, Khiếm Châu.

4. Hết sức chăm lo đời sống cho nhân dân

Nhà Mạc chăm lo đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân, đã từng xây dựng một xã hội no ấm, ổn định, kỷ cương.

Chính sách kinh tế của nhà Mạc đã đem lại đời sống ấm no, an lạc cho nhân dân. Mặc dù quan điểm đối nghịch nhưng các sử gia nhà Lê vẫn phải thừa nhận về cảnh thái bình thời Mạc “Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”.

Về nội dung này, sách Toàn thư ghi như trên và thêm một số chi tiết: “Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”.

Phan Huy Chú nhân nói về vua Mạc Đăng Doanh, cũng ca ngợi tình hình xã hội và đời sống của nhân dân đương thời: “Mạc Đăng Doanh tính tình khoan hậu. Ông giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạp dịch, nhẹ thuế khoá. Bấy giờ được mùa, nhà no người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình”.

Một sự kiện lịch sử được các nhà sử học đồng thanh nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ rằng đó là một sự thật hiển nhiên.

5.Chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân:

-Nhà Mạc sùng Nho, sùng Phật, Lão, Mẫu, văn hóa dân gian,… (Thăng Long -Dương Kinh)

-Khi ở Mường Thanh, thủ lĩnh Hoàng Công Chất lại tiếp tục chăm lo đến đời sống nhân dân như các tiên đế của mình, điều này đã được ghi trong câu ca mà nhân dân đời đời truyền tụng:

“Người Thái với người Lào, người Xá.

Vui vẻ cùng nhau tay làm miêng hát” (Hậu Cao Bằng).

6.Nhà Mạc phát triển kinh tế toàn diện, “trọng nông” mà không “ức thương”, phát triển mạnh thủ công nghiệp, đặc biệt là đồ gốm; phát triển nội, ngoại thương (không “bế quan tỏa cảng”).

7.Nhà Mạc rất quan tâm đào tạo nhân tài, tổ chức đều mỗi ba năm một kỳ thi hội, kể cả lúc quân Trịnh sắp đánh đến Thăng Long. Đào tạo được 13 trạng nguyên và 458 tiến sỹ, trong đó có những nhân tài kiệt xuất như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trạng nguyên Giáp Hải.

Nhà Mạc là triều đại duy nhất, trong “ngót nghìn năm của lịch sử khoa cử Việt Nam phong kiến” (Ngô Đức Thọ), đã lấy đỗ một nữ tiến sỹ độc nhất, bà Nguyễn Thị Duệ. Sau khi phát hiện bà Duệ giả trang con trai để đi thi, vua Mạc Kính Cung, không tru di về tội khi quân, mà mời bà vào triều. Điều này , thêm một lần nữa, trong muôn vàn sự kiện chứng minh tính chất dân chủ , nhân văn của nhà Mạc.

8.“Mạc thị sùng Nho” nhưng không độc tôn Nho giáo, khuyến khích cả Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ thần làng, văn hóa dân gian, đạo Mẫu, và không bài xích tôn giáo ngoại nhập.

9. Mở rộng sở hữu tư nhân, coi trọng vai trò sáng tạo cá nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử , tên nghệ nhân và người cung tiến được khắc trên đồ gốm.

10.Triều Mạc, thông thoáng, cởi mở về tư tường và ngôn luận

11.Vào thời Mạc, chúng ta đã xây dựng được một nền mỹ thuật riêng phát triển rực rỡ và độc đáo. GS Trần Lâm Biền đã viết: “Chúng tôi tạm có thể yên tâm mà nói rằng, thực sự đã có một nền mỹ thuật Mạc riêng. Nền mỹ thuật này đậm tính nhân bản, biểu hiện nhiều yếu tố tự do và phản ánh được một số vấn đề của lịch sử….Cuối cùng có thể nói rằng, nghệ thuật tạo hình dân dã trong thế kỷ XVI đã diễn ra dưới mắt ta như một sự “bùng nổ” tất yếu. Dưới bàn tay điêu luyện của nghệ sỹ đương thời, dòng nghệ thuật dân tộc đã được kế thừa và phát triển như mở đầu cho một thời kỳ “phục hưng” .

12.Văn học Mạc tiếp cận sâu sắc đa dạng về đời sống thực tiễn. Điều này được coi là phát hiện lớn “được coi là phát hiện lớn” , là “mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực, đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường”, “là một cống hiến đáng kể của văn học thời Mạc” (Huệ Chi). coi trọng hiện thực trong sáng tác văn chương, mở ra một nền văn chương có tính thực tế và tính nhân văn

13.Nhà Mạc rất trọng chữ nôm. Thơ văn nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Hoàng Sỹ Khải, Lê Bá Ly,… đã tạo ra một thời kỳ văn học nôm rực rỡ trong lịch sử văn học dân tộc.

Nhận định chung về nhà Mạc, Trần Khuê, đã viết cách đây 24 năm (1991), lúc bấy giờ tư liệu mới về nhà Mạc chưa nhiều như ngày nay : “Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém vương triều chính thống nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những nét độc đáo, mang bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau này sánh nổi”

II.CÔNG LAO CỦA MẠC THÁI TỔ VÀ MẠC THÁI TÔNG

Thái tổ chỉ làm vua ba năm, sau đó giữ vai trò Thái thượng hoàng lui về Dương Kinh, làm “ngoại viện” cho Mạc Thái tông, thời gian 10 năm, tận cho đến khi Thái tông băng hà . Cho nên trong công lao của Thái Tông có sự đóng góp của Thái tổ.

II.1.Mạc Thái Tông

PGS. TS Trần Thị Vinh nhận định về vua Mạc Đăng Doanh như sau:“Nắm giữ triều chính trong bối cảnh đất nước còn nhiều loạn lạc và lắm mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến thù địch, Mạc Đăng Doanh đã khéo biết chèo lái, vừa giữ vững pháp độ, vừa cấm làm những việc hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và tạp dịch, tạo dựng cho dân lành một cuộc sống bình yên, no đủ “ban đêm ngủ cửa không cần phải khoá”, “khi ra đường không phải mang theo khí giới để phòng vệ”, “nhiều năm liền phong đăng, dân cả bốn trấn đều yên ổn”. “Về mặt Văn hoá giáo dục thì triều vua Mạc Đăng Doanh đã làm được những việc vô cùng quan trọng và vô cùng có ý nghĩa, không chỉ đặt nền móng cho các triều vua sau mà còn cho cả vương triều Mạc, đó là việc đào tạo được một đội ngũ trí thức nho học có nhiều tài năng và tâm huyết phụng sự vương triều Mạc với những gương mặt vô cùng sáng giá đại diện cho lớp trí thức mới của thời Mạc nói riêng và trí thức của Đại Việt trong thế kỷ XVI nói chung, như: Nguyễn Thiến, Bùi Vịnh, Nguyễn Lương Bật, Nguyễn Bỉnh Kiêm, Giáp Hải v.v.. họ đều là những bậc trí thức có tài đỗ đạt dưới triều vua Mạc Đăng Doanh. Vào đầu thời Mạc, dưới triều Mạc Đăng Dung mới chỉ tổ chức được một khoa thi Tiến sĩ (năm 1529) tuyển chọn người tài vào giúp việc triều đình thì dưới triều vua thứ hai - Mạc Đăng Doanh, cứ đều kỳ, 3 năm mở một khoa thi chọn Tiến sĩ, mặc cho chiến sự xảy ra triền miên. Dưới triều Mạc Đăng Doanh đã tổ chức được 3 khoa thi vào các năm: Nhâm Thìn(1532), lấy đỗ được 27 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng Nguyên Nguyễn Thiến (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh); năm Ất Mùi (1535) lấy đỗ 32 Tiến Sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) và khoa thi năm Mậu Tuất(1538) lấy đỗ 36 Tiến sĩ, người đỗ đầu là Trạng nguyên Giáp Hải (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh) ”.

II.2.Mạc Thái Tổ: Cách ứng xử của Mạc Thái tổ-một kinh nghiệm lịch sử về đấu tranh “hoãn xung”

II.2.1.Duyên cớ của chủ trương “xuất quân chinh phạt” của nhà Minh, hành động bán nước của nhóm Trịnh Duy Liêu

Phong kiến nhà Lê đã nhiều lần liên tục cho người đi cầu cứu nhà Minh đem quân sang đánh ta. Với danh nghĩa là đánh Mạc, nhà Minh sẽ thừa cơ tàn sát tiêu diệt luôn cả nước Việt. Đây là một mục đích truyền đời của phong kiến phương Bắc. Nhà Lê thừa biết điều này, nhưng vì quyền lợi ích kỷ của vương quyền, vẫn cứ ra sức van nài nhà Minh. “Nhà Mạc muốn tránh nguy hiểm trong cuộc đụng độ với nhà Minh. Tuy nhiên, nguy cơ chiến tranh ngày càng thúc bách, một phần bởi những mưu đồ thù địch của một số bề tôi trung thành với nhà Lê”

Rất nhiều lần phái đoàn vua Lê hoặc bề tôi cũ của nhà Lê đi sang Trung Quốc để tố cáo nhà Mạc, kích động chiến tranh của nhà Minh. Riêng năm 1537 liên tiếp có 3 lần (kể cả trường hợp Vũ Văn Uyên):

- “Năm 1529, Trịnh Ngung, bề tôi cũ của nhà Lê đã sang Trung Quốc để tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngay sau khi trung hưng triều Lê, năm 1533, Trịnh Duy Liêu liền được cử đi Trung Quốc để tiếp tục tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung”.

- “Ngày 3 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (13 - 3 - 1537), cháu dòng đích của vua An Nam tên là Lê Ninh (Trang Tông) sai người trong nước là bọn Trịnh Duy Liêu gồm 10 người đến kinh đô xin hưng binh hỏi tội để cứu nguy nạn nước”.

- “Tháng 6 năm 1537, phái bộ của Trịnh Duy Liêu do triều đình Lê phái sang Yên Kinh”.

- “Ngày 6 tháng 9 năm Gia Tĩnh thứ 16 (9 - 10 - 1537). Trước đó người Giao chỉ Vũ Văn Uyên mang đồng đảng đến hàng... Văn Uyên có 10.000 quân, đợi thiên binh xuống phía Nam, sai cháu là Vũ Tử Lăng đóng tại cửa ải Thạch Lang để nhập theo”.

Tóm lại, âm mưu của phong kiến nhà Lê “cõng rắn”, “rước voi” rất dai dẳng, quyết liệt. Hơn nữa, không những chỉ van xin, mà còn ra sức tạo điều kiện vật chất, cụ thể để quân Minh nhanh chóng và thuận lợi kéo sang đánh ta.

Như thế rõ ràng là phong kiến Lê-Trịnh đã dẫm vào vũng bùn cũ, đi theo vết xe đổ của Trần Ích Tắc, mà những kẻ thực thi là Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên. Họ đã nhiều lần quyết liệt, khẩn khoản van lạy nhà Minh kéo quân sang An Nam để “hưng binh hỏi tội”.Họ lại còn tạo điều kiện cụ thể để quân Minh giết hại dân ta có hiệu lực. Kết quả là Minh Thế Tông đã giao cho Mao Bá Ôn chỉ huy 22 vạn quân kéo sang biên giới, Vũ Văn Uyên và cháu là Vũ Tử Lăng đóng 1 vạn quân ở cửa ải để làm nội ứng.

Lịch sử cần ghi thêm danh sách những kẻ “cõng rắn”, “rước voi”, bên cạnh Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Gia Long; còn có Trịnh Duy Liêu, Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, Vũ Văn Uyên.

Đây thực sự là bán nước, không hiểu tại sao nhiều người che đậy?

Có hành động bán nước trên , Mạc Đăng Dung mới buộc phải cứu nước theo phương hướng hoãn xung.

II.2.3.Chiến lược của Mạc Đăng Dung

Mạc Đăng Dung thực hiện một chiến lược vừa đánh vừa hoà.

- Chuẩn bị đánh: “Lê triều thông sử cũng cho biết Mạc Đăng Doanh đã tu sửa trại, sách, luyện tập thuỷ quân; trưng cầu hết thảy những cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước”. Phục chức cho Thái bảo tĩnh quốc công Vũ Hộ, cử làm tả đô đốc Đông quân Chưởng phụ sự.

Thù vực chu tư lục cho biết triều đình nhà Minh còn tranh cãi khá gay gắt về việc đánh hay không đánh. Khi Mao Bá Ôn đến Nam Ninh đã thấy quân dân Việt chuẩn bị chống lại quyết liệt, lấy thuốc độc, bã đậu bỏ vào suối nước, đào hố chôn cọc tre để ngựa sa hố, lại phao ngôn sẽ theo đường biển tập kích Quảng Đông. Như vậy, chứng tỏ khi ấy nhà Mạc chuẩn bị sẵn sàng hai kế sách chiến và hoà”.

- Lập nhiều đồn luỹ ở biên giới mà trong “Vãng giao chỉ đồ”, in ở An Nam đồ chí, nhà Minh gọi là “tặc doanh”.

- Cho người làm nhiệm vụ tình báo “dò la bám sát các hoạt động quân sự của nhà Minh, như trường hợp tri châu Nguyễn Cảnh, năm 1537, được nhà Mạc bí mật phái sang đất Minh để thu thập tin tức bị thổ quan của Vân Nam giữ lại.

II.2.4. Thực chất việc thần phục, “dâng đất”

Một số người buộc Mạc Đăng Dung về “tội” đầu hàng và dâng đất. Hãy căn cứ vào tư liệu lịch sử chính xác để xem xét hai sự kiện này.

Ngô Đăng Lợi viết: “Qua ghi chép của Nghiêm Tông Giản, thì Mạc Đăng Dung cùng đoàn tuỳ tùng không được mặc phẩm phục, cổ đeo dây lụa tượng trưng cho sự đầu hàng đến lậy và cúi đầu (ngũ bái, tam khấu đầu) trước long đình che lọng vàng, tượng trưng cho hoàng đế nhà Minh, chứ không phải quỳ lạy viên tướng nhà Minh”, cũng không phải cởi trần tự trói.

- Trả lại đất :

* “Bốn động biên giới đã bị nhà Minh lấy lại từ trước, thành chuyện đã rồi đối với nhà Mạc. Mạc Đăng Dung thực sự không hề mắc tội phản quốc, mà trái lại đã góp một phần quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, cũng như tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh”. Còn Lê - Trịnh mãi đến 1597 mới được nhà Minh xét công nhận (xem thêm ở phần sau).

* Trong biểu tâu vua Minh, Mạc Đăng Dung cũng viết đúng là bốn động vốn thuộc nhà Minh, mà họ đã lấy lại từ trước và ông đã nêu cụ thể lời của tri châu châu Khâm, Lâm Hy Nguyên, làm nhân chứng, chắc chắn đó là sự thật: “Mới đây thần nghe tri châu châu Khâm tỉnh Quảng Đông, Lâm Hy Nguyên, xưng rằng, các động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích, Chiêm Lãng là đất cũ của châu Khâm; nếu đúng như vậy, thần xin vâng lời”.

* “Quả là Mạc Đăng Dung chưa hề cắt đất cho nhà Minh, nhưng ông đã bó tay và buộc phải chấp nhận sự kiện các động trưởng của bốn động sát biên giới Đông Bắc trở lại với nhà Minh... Làm sao nhà Mạc có thể giữ lại được bốn động trên khi mà các động trưởng đã bỏ về với nhà Minh? Thực tế chỉ có bốn động thuộc hai đô như vừa trình bày ở trên trả lại đất châu Khâm”.

*Cùng với các tư liệu trên, Minh Thực Lục ghi rất rõ , lệnh của Minh Thế Tông: “Sau khi bàn bạc rồi phúc tấu, Hoàng thượng mệnh: Ty phiên Quảng Tây mỗi năm cấp lịch Đại thống để thờ phụng theo chính sóc, hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, cho châu Khâm,…”

Xin nói rõ: “hoàn lại bốn động đã xâm chiếm, trả cho châu Khâm,” (Minh Thực lục) khác hẳn với : “những đất Trung Quốc chiếm được chưa phải là lãnh thổ của Trung Quốc, bây giờ Mạc Đăng Dung đem dâng….” (Trần Thị Băng Thanh)

Nếu đối chiếu các điều kiện thần phục, trong tình hình đối nội, đối ngoại quá gay gắt và phức tạp như vậy, thì việc thần phục của vua Mạc đã mất một số hư danh mà được nhiều thắng lợi thực tế. Trong đó, quan trọng là tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc, bao gồm lực lượng của quân Minh bên ngoài ép vào và quân Lê - Trịnh từ trong đánh ra.

Xét trong lịch sử ngoại giao của chúng ta với phong kiến Trung Quốc có nhiều trường hợp phải hết sức lựa chiều, khéo léo.

“Bình Định vương Lê Lợi đại thắng quân đô hộ Minh nhưng vẫn phải cấp tàu xe, lương thảo cho Vương Thông rút quân, phải trả lừa, ngựa, binh khí, tù binh cho y; lại phải thực hiện danh nghĩa phù Trần diệt Hồ của nhà Minh mà dựng Trần Cảo làm vua, phải cống người vàng...”.

Về việc này, Phan Huy Chú nhận định: “Xét: Buổi đầu Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần; dùng lời nói dịu dàng, mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho, trải 3 năm mà mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Thế cũng đủ thấy sự thế bây giờ là khó”.

Hoàn cảnh lịch sử của Vua Lê thuận lợi hơn hẳn Vua Mạc, thế mà phải hết sức mềm dẻo. Vì vậy, “Mạc Đăng Dung thần phục giả vờ để giữ độc lập thực sự” (Trần Quốc Vượng) là kế sách tuyệt diệu.

Vua Mạc Đăng Dung nhận các điều kiện thần phục, nhưng các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, dùng ấn vàng, phong tước vương cho các con, toàn quyền điều hành đất nước về mọi mặt, nhà Minh không can thiệp và đặc biệt là không có bóng quan quân Minh trên đất nước Việt.

“Thế là nhà Mạc được nhà Minh công nhận, nhà Lê - Trịnh thì không, mãi đến 1597 mới được nhà Thanh xét và phải theo lệ cũ thời Lê sơ, cống người vàng đền mạng Liễu Thăng”.

Đến năm này, Lê Duy Đàm thi hành việc cống người vàng, đồng thời xin nhà Minh phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp:

“ Ngày 5 tháng 2 năm Vạn Lịch thứ 34 (13-3-1606) Con Huệ là Ninh kế tục nghiệp nhà Lê tại vùng sông Tất Mã, truyền được 4 đời. Đến Duy Đàm cùng bề tôi là Trịnh Tùng hợp mưu khởi binh diệt họ Mạc, lấy hết đất đai cũ. Nhân tiến người vàng thay thân, xin triều đình chiếu mệnh, được phong Đô thống sứ và đúc ấn ban cấp. Lúc này vào năm Vạn Lịch thứ 25…”14

Ở đây có hai việc tương tự:

Việc thứ nhất: nhà Mạc nhận chức Đô thống sứ, thì bà Băng Thanh lớn tiếng phê phán : “ xóa bỏ cả một đất nước đã có truyền thống mấy nghìn năm văn hóa , tổ tiên đã đỏ bao xương máu tâm trí để khai thác giữ gìn thì đó là một sai lầm không thể bỏ qua” . Xin nói thêm, nhận Đô thống sứ, nhà Mạc không hề xóa bỏ đất nước, họ vẫn xây dựng đất nước, đem lại cảnh ấm no, mở mang công thương nghiệp, tổ chức thi cử, đúng ba năm một kỳ. Về mặt thể chế ,các vua Mạc vẫn xưng đế hiệu, toàn quyền điều hành đất nước (vừa nêu ở trên) . Minh thực lục ghi đúng điều này, bà Băng Thanh một lần nữa, lại nói ngược với Thiên triều. : “Từ họ Mạc đến nay, tuy xưng Đô thống sứ, nhưng chế độ trong nước vẫn theo đế chế; triều đình tuy cấp ấn bạc nhưng không (sai sứ) đưa sách mệnh, lệnh đến gõ cửa quan ải để lĩnh” , nghĩa là nhà Mạc lờ đi , không nhận, nhà Minh cũng ỉm luôn.

Lịch sử thực tế diễn ra như thế nào, nói như thế ấy, đừng vu khoát, tưởng tượng.

Việc thứ hai: nhà Lê xin được phong chức Đô thống sứ, còn cống người vàng nữa. Thế thì nhà Lê có “xóa bỏ đất nước” không? Sự kiện rành rành như vậy, sao bà Băng Thanh lại dấu kín ?

II.2. 5.Nguyên nhân thắng lợi của chiến lược nhà Mạc

Nhờ đâu mà đập tan được âm mưu nhà Lê cầu xin Minh, đấy lùi được quyết tâm xâm lược sắt đá của nhà Minh?

- Trước hết là ý chí của nhà Mạc, bằng mọi giá không cho giặc đặt chân vào đất nước ta, như Mạc Ngọc Liễn là Đô uý thái phó Đà Quốc công, đồng thời là phò mã, khi lâm chung có di chúc lại: “... Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Mạc Ngọc Liễn không phát ngôn ý kiến cá nhân mà tuyên bố tư tưởng lớn của nhà Mạc. Đinh Khắc Thuân nhận định đúng như vậy: “Lời trối trăng cuối cùng này của Mạc Ngọc Liễn cũng chính là ý nguyện của nhà Mạc nhằm tránh một cuộc chiến tranh ngoại bang”.

Thứ hai, là chủ trương vô cùng sáng suốt của Thái tổ Mạc Đăng Dung, chiến hoà kết hợp, hoà nhưng sẵn sàng chiến đấu. “Đầu hàng giả, chiến đấu thật”. Trong hoà không hại gì cho đất nước, chỉ dâng đất khống.

Thứ ba, Mạc Thái Tổ cũng dùng cả đấu tranh chính trị, đưa trạng nguyên Giáp Hải đi, để biểu lộ ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước qua việc hoạ thơ. Có người nói bài thơ đã đuổi được giặc. Không thật đúng. Bài thơ là một bộ phận của cuộc đấu tranh toàn diện, có vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh này.

Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho Thiên triều đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi đươc 22 vạn quân ngoại xâm và ít nhất một vạn nội phản; mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

Nếu không có Mạc Đăng Dung và nhà Mạc thì đất nước ta lại trải qua một cuộc tàn sát dã man dưới lưỡi gươm của giặc Minh, được sự hỗ trợ hiệu lực của Lê-Trịnh. Nếu không có Mạc Thái Tổ, lại một lần nữa :

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

(Bình Ngô đại cáo) Có thể nói, vua Mạc Đăng Dung và nhà Mạc đã đấu tranh rất thông minh, đặc biệt năng động, nhờ vậy cứu đất nước khỏi một thảm hoạ chiến tranh đã liền kề. Lịch sử nước nhà và nhân ta cần biết ơn, ghi đậm công lao to lớn này.

Nguyễn Hải Kế nhận định rằng, những khu xử của nhà Mạc, tránh được cuộc chiến tranh mà trên thực tế vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia:“Với nhà Minh thì bên cạnh việc tăng cường phòng bị, bằng hàng loạt các biện pháp chính tri- ngoại giao mà triều đình nhà Mạc đã triển khai để tránh được một cuộc chiến tranh , mà trên thực tế vẫn bảo vệ được chủ quyền quốc gia. Đặt trong bối cảnh thế kỷ XVI, những khu xử mà nhà Mạc đạt được là kết quả thực tiễn của tình cảm và trí tuệ đương thời”

Quân dân và vua quan nhà Mạc đã nêu một bài học đấu tranh hoãn xung trong tình trạng thế và lực ta quá yếu so với đối phương, bao gồm cả ngoại xâm và nội phản hợp lại.

III.TÓM TẮT NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ MẠC

Trên đây, chúng tôi đã nói nhiều đến những đặc điểm của nhà Mạc, nhưng cuối cùng vương tộc này đã thất bại nặng nề, nguyên nhân tại đâu?

Sự thất bại của nhà Mạc do một hệ nguyên nhân tổng hợp kéo dài nhiều thập kỷ. Có thể nêu ra 4 nguyên nhân chính:

1. Có những hiện tượng mất đoàn kết trong triều đình nhà Mạc, tiêu biểu là vụ Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi và Khiêm vương Mạc Kính Điển. Hai Ngài đều là đại trung thần của nhà Mạc , đều có tài nghiêng trời lệch đất . Chỉ tiếc là quan niệm về chọn người kế vị ngai vàng khác hẳn nhau nên dẫn đến việc đem quân đánh lại nhau gây tổn hại về thực thể và tinh thần rất lớn.

2.Cũng giống như bao triều đại phong kiến khác trong lịch sử, các vị vua nối ngôi về sau không giữ được những phẩm chất tốt đẹp của các bậc tiên đế , cũng góp phần khiến cho cơ nghiệp tổ tông không giữ được. Tuy nhiên, chúng ta cần thận trọng để khỏi nghe theo kẻ xấu đổ tội oan cho tiền nhân.

3. Có thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng về thủ lĩnh:

.1540, vua Mạc Đăng Doanh mất

.1541, vua Mạc Đăng Dung mất

.1546, vua Mạc Phúc Hải mất

4.Nguyên nhân quan trọng nhất là trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI có 2 xu hướng:

. Xu hướng tư hữu hoá ruộng đất, hình thành tầng lớp hữu sản , tư tưởng cởi mở phóng khoáng, trọng cả Nho, Phật , Lão và văn hoá dân gian; tôn trọng cá nhân; phát triển kinh tế nhiều mặt, nông công thượng nội ngoại thương.

. Xu hướng quan liêu bảo thủ Tống nho, trọng nông ức thương, bế quan toả cảng, độc quyền Nho giáo.

Cả hai xu hướng này đấu tranh loại trừ lẫn nhau. Sự thất bại của nhà Mạc là sự thất bại của xu hướng thứ nhất. Trong hoàn cảnh lịch sử đương thời, nhà Mạc chưa đủ điều kiện để chiến thắng xu hướng thứ hai. Xu hướng này còn tồn tại dai dẳng qua nhà Nguyễn và đến Cách mạng tháng Tám 1945 mới được giải quyết về cơ bản.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1.Phương pháp tiếp cận mà chúng tôi thực hiện trong bài gồm mấy điểm liên kết với nhau:

-Chỉ tìm hiểu một sự kiện, một nhân vật lịch sử cũng rất cần đặt trong mối liên quan gần và xa của sự kiện và nhân vật đối tượng.

-Kết luận và nhận định phải thiết kế trên tư liệu, không thể trên sự phỏng đoán thiếu tư liệu, không nên phỏng đoán -giả sử, kiểu “Chẳng lẽ người Minh dễ lừa đến thế” (Trần Thị Băng Thanh). Phải tìm cho ra “dễ lừa hay không”.

Theo xu hướng của sủ học hiện nay được gọi là tân sử học (new history) hay xã hội sử học (social history), hoặc truyền khẩu sử học (oral history).

-Đã tìm được tư liệu rồi không nên coi “như đinh đóng cột” ngay.

Phải thẩm định đối chiếu thận trọng. Ví dụ: về “trả lại đất” chúng tôi đã dựa trên bốn tư liệu (xin xem trong bài) .

GS Trần Quốc Vượng nói : sử gia Lê-Trịnh bôi đen lịch sử nhà Mạc , điều này rất đúng, mãi mãi đúng. Chúng ta rất biết ơn công lao các sử gia, không “phủ định sạch trơn” , như vậy là sai lầm nghiêm trọng, nhưng phải sử dụng thận trọng.

2.Trên cơ sở các phương pháp trên đây, chúng ta có thể rút ra nhận định:

-Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông đã có công lập nên môt triều đại tồn tại 242 năm, với ba thời kỳ lịch sử, 12 đời vua, một đời chúa; có những đặc điểm nổi trội (13 đặc điểm) mà không phải triều đại phong kiến nào cũng có được.

-Ngoài ra, riêng Mạc Thái Tổ đã làm tròn hai sứ mệnh lớn lao và nặng nề:

+lật đổ triều đại nhà Lê suy đồi để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn,

+bằng các phương thức hoãn xung, phi chiến tranh, đẩy lùi cuộc chiến tranh nội ngoại xâm, của liên minh 23 vạn quân Minh-Lê-Trịnh.

Trên những thực tế lịch sử đtrên đây, chúng tôi đồng ý với GS Văn Tạo:

“Tôi tán thành việc Hà Nội đề xuất đặt tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông. Vì triều đại nhà Mạc tồn tại trong 65 năm nhưng đã cống hiến cho lịch sử, xã hội Việt Nam những thành tựu đặc sắc, mang lại phồn vinh, thịnh trị cho đất nước.”

3. Cho đến nay, nhiều tỉnh thành đã đặt tên Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông như: Quảng Ngãi, An Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Gia Lai, Thanh Hóa, T/P Hồ Chí Minh.

Vậy Hà Nội, nơi nhà Mạc đóng đô 65 năm, việc đặt tên các vị là đúng đắn và cần thiết.

P.Đ.N

Về bức đại tự An Nam Lý Học ở đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

alt

Ngô Đăng Lợi

Buổi sáng ngày 21 tháng 7 năm 2016, tại chùa Phổ Chiếu, trụ sở CLB Hải Phòng học có buổi sinh hoạt khoa học, Tiến sĩ Lã Trọng Long đã thuyết trình một số chữ Nho ở một số di tích lịch sử văn hóa mà ông cho là sai. Tôi nhất trí một số kiến giải của Tiến sĩ, nhưng riêng những phát hiện và yêu cầu sửa 4 chữ: An Nam Lý Học thì không. Ta biết Lê Quý Đôn soạn giả sách Kiến văn tiểu lục chép: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683). Xán có tiếng hay thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh núi sông bè bạn tặng, đáp vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 48 bài, đặt nhan đề là Sứ Giao ngâm. Khi về dâng lên triều đình. Trong các bài thơ ấy có câu “Y quan văn vật trọng Nam cương, lại tự chua rằng: Nhân vật nước này, về phần lý học có Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế (kinh bang tế thế - Giúp nước cứu đời. N.Đ.L chú) có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh; còn về phần văn học có khá nhiều”.

Như thế thì tiếng tăm các bậc tiền bối nước ta vang đến Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp. Nguyễn Công Vọng, Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điển tiếp đãi ở sứ quán, Nguyễn Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống, đều có thơ tặng vừa thất ngôn, vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đều chép thành tập nhan đề là Nam Giao hảo ngâm, phụ vào với các tập trước đều khắc ván gỗ phát hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được Trung Quốc quý trọng.

Tôi thấy cần nói thêm dưới thời vua Lê Hy Tông (1676 – 1705) với niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680), Chính Hòa (1681 – 1705) được người đương thời ca ngợi là thời thịnh trị bậc nhất thời Lê Trung Hưng. Quan hệ bang giao giữa vua ta và vua nhà Thanh khá thân thiện, tháng 9 năm Mậu tý (1683) vua Thanh sai sứ sang ban cho vua Lê dòng chữ đại tự “Trung hiếu thủ bang” (cò lòng trung thành, hiếu kính để giữ nước). Đây là sự tri ân nhà Lê đã từ chối không cứu viện cho Ngô Tam Quế, bầy tôi phản nghịch chống nhà Thanh. Vua Thanh còn sai sứ ban lễ phẩm cho việc tế vua Lê Huyền Tông (1663 – 1671) và Lê Gia Tông (1672 – 1675).

Thời gian thịnh trị này, không thể không nhắc đến vai trò của vị chúa trí đức song toàn Trịnh Căn (1682 – 1709).

Tuy nhiên, Lê Quý Đôn ghi Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ 4 (1683) chắc sai. Chúng tôi đã đối chiếu với Bang giao chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thấy ghi rõ: Hy Tông năm Chính Hòa thứ 3 (1682) ngang với Khang Hy thứ 21 (1682) nhà Thanh, vua ta sai Thân Toàn, Đặng Công Chất sang cống nhà Thanh.

Về tiểu sử 2 sứ thần Thân Toàn và Đặng Công Chất, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919 do Ngô Đức Thọ chủ biên – NXB Văn học 1993 cho biết:

- Thân Toàn (1621 - ?) người xã Phương Đỗ huyện Yên Dũng nay thuộc xã Mai Khê huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang đỗ Đồng tiến sĩ khoa Nhâm thìn Khánh Đức thứ 4 (1652) làm quan trải các chức Đô ngự sử, Tả thị lang bộ Hộ (1676) được cử sang sứ nhà Thanh năm 1682. Sau khi hoàn thành sứ mệnh được thăng Tham tụng, Thượng thư bộ Binh tước Bá.

- Đặng Công Chất (1622 – 1683) người xã Phù Đổng huyện Tiên Du nay thuộc quận Gia Lâm Hà Nội, đỗ Trạng nguyên khoa Tân sửu niên hiệu Vĩnh Thọ thứ tư (1661) đời Lê Thần Tông làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Hình, mất năm Chính Hòa 4 (tháng 8 – 1683) được tặng Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lại, tước Bá. Năm Chính Hòa 3 (1682) làm Phó sứ sang cống nhà Thanh.

Qua những sử liệu trên, có thể khẳng định Lê Quý Đôn nhớ nhầm năm Minh Đồ, Chu Xán sang sứ nước ta năm Chính Hòa thứ tư (1683).

Còn câu An Nam lý học hữu Trình Tuyền là lời Vũ Phương Đề chứ không phải của Chu Xán.

Nhà nho Vũ Phương Đề có lý khi ông dựa vào ý của Chú Xán đề 4 chữ trên, còn các nhà nho nổi tiếng Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo, Hồ Sĩ Dương được Chu Xán coi là nhà Lý học, nhưng đền thờ các ông và hậu thế đều không xác nhận là An Nam lý học.

N.Đ.L

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay145
mod_vvisit_counterHôm qua168
mod_vvisit_counterTất cả69854
Hiện có 28 khách Trực tuyến