Đình làng Cốc Liễn, xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy thờ Thành hoàng Chử Đồng Tử.

alt

Trong tâm thức dân gian, Chử Đồng Tử không chỉ là một trong Tứ Bất Tử của Thần đạo Việt Nam mà còn là người con hiếu thảo, nhân ái, là người mở mang khai phá miền đất trũng lầy thành cánh đồng tốt tươi, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải và phát triển các ngành nghề khác, đặc biệt nghề buôn bán. Sẽ không ngoa khi nói rằng thánh Chử là ông tổ của nghề buôn bán Việt Nam. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã khởi đầu cho sự giao lưu giữa tộc Việt và cộng đồng bên ngoài khi tìm đường ra biển buôn bán vào thời Hùng Vương dựng nước. Một trong những truyền thuyết đó là việc Chử Đồng Tử theo khách ngoại quốc ra Đông Hải buôn bán rồi gặp nhà sư Phật Quang ở đảo Quỳnh Viên, được truyền đạo pháp, được ban cho cây gậy và chiếc nón thần.

Nhiều làng thuộc các tỉnh nằm ở hạ lưu châu thổ sông Hồng như Hưng Yên, Hà Nội, Hà Nam đều có đền, miếu thờ đức thánh Chử Đồng Tử, Tiên Dung (vợ cả) và Hồng Vân công chúa (vợ lẽ), nhưng ở Hưng Yên là có nhiều đền thờ nhất, bởi đây là quê hương phát tích của Thánh với các truyền thuyết đầy màu sắc kỳ ảo và đậm tình người, tình yêu nam nữ bất diệt.

Hằng năm vào ngày 10 – 12 tháng 2 âm lịch, lễ hội Chử Đồng Tử-Tiên Dung lại được tổ chức tại các đền Dạ Trạch, đền Đa Hòa (xã Bình Minh) và đền thờ Hồng Vân công chúa (xã Đông Tảo) thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên để ghi nhớ công ơn cứu nhân độ thế của Thánh đồng thời tô đậm thêm thiên tình sử muôn đời của đức thánh Chử Đồng Tử, Tiên Dung  và Hồng Vân (cung nữ Tiên Sa trên Thiên Đình hạ sinh).

Ở vùng Đồ Sơn, Kiến Thụy Hải Phòng còn có truyền thuyết về việc Chử Đồng Tử trên đường ra biển buôn bán có ghé vào hang Cốc Tự (chùa Hang - Đồ Sơn) gặp sư Bần (người Ấn Độ) đang truyền đạo ở đó, được ngài cảm hóa đã bỏ nghề đi buôn để tu Phật. Đây có lẽ là chứng cứ cho rằng Chử Đồng Tử cũng là một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo cổ truyền từ Ấn Độ vào Việt Nam 200-300 năm trước công nguyên.

Trên đường về Hưng Yên qua lối sông Đa Độ chảy qua địa phận trang Cốc Liễn (thôn Cốc Liễn, xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy nay), Chử Đồng Tử dã dùng phép tiên cứu sống con bà Đa bị chết đuối nên được dân làng cảm tạ, trả ơn nhưng ông nhất quyết không nhận. Dân chúng hỏi danh tính, ông cho biết tên là Đông An, người xứ Tứ Xuyên rồi ra đi. Sau đó mẹ con bà Đa lập miếu thờ tri ân công đức thánh. Sau này, dân làng cho người dò tìm thì được biết ở vùng Đông An, đất Tứ Xuyên (xã Vĩnh Hóa, tổng Phúc Dương) có một thần nhân tên là Chử Đồng Tử, có phép thuật thường đi khắp nơi cứu nhân, độ thế bèn dựng đình thờ ông làm Thành hoàng làng với duệ hiệu là thần Đông An.

Vào đầu thế kỷ 17, vua Lê Thần Tông hiệu Vĩnh Tộ vâng lệnh vua cha đem quân ra miền Hải Đông tiễu trừ giặc loạn. Lúc đầu gặp thế giặc mạnh, vua phải cho quân tạm lui, giặc đuổi theo gấp. Đến Trang Minh Liễn thấy nhiều người lễ bái tại ngôi cổ miếu, nhà vua liền vào lễ, bỗng trời đất nổi lên trận phong ba, làm cho giặc khiếp vía kinh hoàng. Quân ta thừa thế đánh tan được quân giặc, để thưởng công tạ ơn cho vị thần linh, vua xuống chiếu ban sắc phong kèm theo mỹ tự “Kinh thiên vĩ địa Đại vương” giao cho trang Minh Liễn phụng thờ. Ngôi miếu bằng tranh tre, lứa lá ban đầu dần được xây dựng ngày càng khang trang qua các đời. Lúc đầu, thần Đông An được thờ bằng long ngai, bài vị tại miếu, nhưng rồi sự hủy hoại của thời gian, chiến tranh và cả sự duy lý trí một thời của con người đã khiến cho di tích này không còn (nay chỉ có nền đất cũ). Người dân Cốc Liễn sau đó đã chuyển đồ thờ tự còn sót lại về đình để hàng năm hương khói thờ cúng. Từ ngày ngôi đình được khởi dựng, nhân dân cầu cúng rất linh ứng, vào những năm đại hạn kỳ vũ đều được mưa rào, cả tổng ngày trước đều tôn vinh thần Đông An là “Đức thánh cả thượng đẳng tối linh”.

Ngày nay, cạnh đình còn có ngôi chùa thờ Phật nhỏ hẹp nằm nép phía bên phải, áp vách do chùa cũ đã bị phá trong thời kỳ duy ý chí của chính quyền những năm 60-70 thế kỷ trước. Quần thể đình – chùa cùng một khuôn viên này tạo nên cụm di tích lịch sử-văn hóa cấp Thành phố (được công nhận năm 2007).

Hiện nay đình Cốc Liễn còn lưu giữ được các đồ thờ như long đình, bát biểu, ngai thờ thánh, hương án tiền, cuốn thư quán tẩy số, chưa kể 2 vật tương trưng của thần là thanh gươm và chiếc gậy phép (do đình thờ Chử Đồng Tử và phối thờ cả Đông Hải Đại vương). Ở đây chiếc gậy phép là của thánh Chử và thanh gươm là của Đông Hải đại vương Đoàn Thượng (một viên tướng cuối đời Lý).

Ban quản lý Di tích còn lưu giữ được 17/21 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam phong Thượng đẳng thần kèm mỹ tự cho thành hoàng làng là Đông An (Chử Đồng Tử), trong đó sắc phong đầu tiên mang niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 6 được dân làng lưu giữ, còn đến ngày nay cùng với 20 đạo sắc phong khác từ triều Hậu Lê đến triều Nguyễn (Khải Định năm thứ 9). Đây là điều hiếm có mà không phải di tích nào cũng có được.

Chùa Cốc Liễn bảo lưu được 7 pho tượng Phật như A Di đà, Quan Âm, Tống tử, Ngọc Hoàng Thượng đế, Đức ông, tượng Mẫu có niên đại thời Nguyễn đầu đầu thế kỷ 18.

Làng Cốc Liễn nay (xưa kia gọi là trang Minh Liễn) trước năm 1813 là một xóm thuộc tổng Sâm Linh (theo sách Lược khảo tên địa danh Hải Phòng của tác giả Ngô Đăng Lợi), huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Việc đổi tên trang Minh Liễn thành làng Cốc Liễn là ở đời vua Thành Thái (1889-1907). Làng Cốc Liễn nằm ở ngã ba giữa sông Đa Độ và sông Sàng, có vị trí quan yếu về quân sự nên triều đình nhà Nguyễn đã cho xây dựng bến thuyền tuần tiễu, đồng thời đặt Phủ lị ở xã Minh Tân.

Thống đốc tỉnh Hải Dương là Nguyễn Công Trứ từng cho khai khẩn 1200 mẫu ruộng ở Minh Liễn để trồng cấy lương thực nuôi quân. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, lịch sử đã ghi nhận nơi đây là một trong số ít làng xã ở Hải Phòng nổ ra phong trào Mạc Thiên Binh kháng Pháp.

Với truyền thống yêu nước và cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, xã Minh Tân vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và nhiều huân chương, bằng khen, cờ thi đua xuất sắc vì những thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ miếu Thị Đa (bà Đa) đến đình Cốc Liễn là quá trình vật đổi sao dời, nhưng với truyền thống uống nước nhớ nguồn, tri ân người có công với làng, với nước, người dân thôn Cốc Liễn, xã Minh Tân bao đời nay vẫn giữ được nếp xưa, tổ chức nhiều lễ hội vào các ngày mồng 1 tháng Giêng; mồng 10 tháng 2; mồng 10 tháng 4; mồng 5 tháng 5 và 15 tháng 8 âm lịch với nghi lễ tế, rước trọng thể và các trò chơi dân gian, văn nghệ dân gian.

Ngày nay, do điều kiện kinh tế-xã hội địa phương và hoàn cảnh thực tế mà phần hội được tối gián hóa và thời gian tổ chức lễ hội tri ân Thành hoàng làng được ấn định vào ngày 14-15 tháng 3 (âm lịch), là ngày thánh đản của thần Đông An. Cứ 2 năm một lần, vào năm chẵn, lễ hội được tổ chức công phu, còn năm lẻ thì có tế lễ và dâng hương của các dòng họ trong làng.

Hiện nay, trong một năm, thôn Cốc Liễn thường tổ chức bốn lễ hội sau (thời gian âm lịch):

- Ngày mùng 3 tháng 3: dỗ Mẫu Liễu Hạnh.

- Ngày 15 tháng 3: lễ dâng hương đức thánh Chử Đồng Tử.

- Ngày 8 tháng 4: cúng Phật Đản.

- Ngày 20 tháng 8: lễ dỗ đức thánh Trần Hưng Đạo.

Như vậy cho thấy, cũng như những vùng quê khác, người dân ở đây tôn sùng cả Thánh và Phật với ý niệm tri ân công lao bảo hộ, chở che, ban ơn mưa móc của các đấng tối cao tâm linh.

Ngày 6/4/2017 tôi đã xuống thăm đình làng Cốc Liễn, gặp gỡ hỏi chuyện ông Rọm - Trưởng làng văn hóa và bác Vũ Lệnh Năng – nguyên cán bộ Ban nghiên cứu lịch sử thành phố Hải Phòng để tìm hiểu về lịch sử miếu Thị Đa và cụm di tích đình – chùa Cốc Liễn. Ngày 11/4/2017, tôi lại về hòa mình trong không khí lễ hội nơi làng quê tươi đẹp này để hiểu thêm về mảnh đất và con người nơi đây, thêm tự hào vì thành phố Hải Phòng cũng có một di tích thờ thánh Chử Đồng Tử mà ít người còn biết đến.

Tuy vậy, ngắm di tích đền thờ Chử Đồng Tử tại đây mà bản thân tôi không khỏi chạnh lòng bởi sự đơn sơ, xuống cấp của nó. Những người có trách nhiệm với di tích đã làm nhiều đơn từ, kêu gọi sự quan tâm đầu tư của các cấp chính quyền từ huyện đến thành phố cho việc tu bổ, nâng cấp di tích nhưng chưa được quan tâm thích đáng. Thiết nghĩ, địa phương không thể trông chờ vào nguồn ngân sách eo hẹp của Thành phố mà cần làm sao để đánh thức thiện tâm, lòng tự tôn của chính người dân xã Minh Tân mà vận động xã hội hóa cho việc trùng tu, tôn tạo cụm di tích đình-chùa Cốc Liễn cho xứng với vị trí lịch sử, văn hóa của nó.

Phạm Văn Thi.

Chúa Bà Ngũ Phương trong tín ngưỡng dân gian Hải Phòng

alt

Chúa Bà Ngũ Phương (năm phương) còn được gọi là Chúa Nam Phương, là một nhân vật với nhiều giai thoại được lưu truyền trong dân gian ở Hải Phòng. Bà là người được người dân địa phương và một số vùng lân cận như Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh thờ phụng như một vị thánh chúa. Vậy bà là nhân vật xuất xứ thế nào và có nằm trong Tứ phủ của thần điện Việt Nam không?, chúng ta cùng xem xét.

Về tên gọi chúa Ngũ Phương đúng hay Nam Phương đúng thì người ta còn tranh luận chưa ngã ngũ. Ngũ Phương hay Nam Phương không phải là tên người mà chỉ là được hiểu với ý nghĩa là 5 phương trời đất (quan niệm dân gian) hoặc phương Nam (đất Việt).

Năm phương là gì?. Người xưa quan niệm có 5 phương trời đất, đó là Trung khu (trung tâm - địa khu), Đông khu (ở phía đông), Tây khu (ở phía tây), Nam khu (ở phía nam), Bắc khu (ở phía bắc).

Với quan niệm này mà tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống thường vẽ tranh ngũ hổ (coi 5 con hổ với các màu vàng, đen, trắng, đỏ, xanh như  5 vị thần tướng) trấn giữ 5 phương trời đất là:

- Hoàng hổ tướng quân, màu vàng, trấn nhậm trung khu (địa khu)

- Hắc hổ tướng quân, màu đen, trấn nhậm bắc khu (thủy khu).

- Bạch hổ tướng quân, màu trắng, trấn nhậm tây khu (kim khu).

- Xích hổ tướng quân, màu đỏ, trấn nhậm nam khu (hỏa khu).

- Thanh hổ tướng quân, màu xanh, trấn nhậm đông khu (mộc khu).

Chúa Bà Ngũ Phương là một nhân vật có xuất xứ nhân thần trong lịch sử Việt Nam thời Ngô Vương Quyền đánh trận Bạch Đằng trên vùng đất Hải Phòng. Bà là người làng Cấm (thuộc quận Ngô Quyền nay). Vì có công giúp Ngô Vương trong trận chiến Bạch Đằng mà sau đó bà được ông phong tước Quận Chúa, dân gian gọi bà là Vũ Quận chúa Quyến hoa hay Bạch Hoa công chúa.

Nam Phương có thể có ý nghĩa là đất của người Nam (Việt Nam) vì dân ta cho rằng đã có vua Ngô Quyền thì phải có chúa Nam Phương nên gọi Vũ Quận chúa là bà chúa Nam Phương. Còn cũng có thể thời Nguyễn, người ta kiêng phạm tên húy của Nam Phương hoàng hậu (vợ vua Bảo Đại) mà gọi chệch tên chúa Nam Phương thành Năm Phương (ngũ phương).

Nhưng tên gọi thế nào không quan trọng, quan trọng là trong tâm thức người dân Hải Phòng, bà chúa Năm Phương ngự trị như một vị thánh mẫu có nhiều quyền năng với những câu chuyện thần bí. Nhưng ít người biết rằng, bà là nhân vật lịch sử có thật.

Bà sinh ra trong một gia đình họ Vũ tại làng cổ Gia Viên (xưa có tên là làng Cấm), thuộc tổng Gia Viên, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Làng Gia Viên gồm phần lớn phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng nay. Bà tên thật là Vũ Thị Quyến Hoa, là một người con gái xinh đẹp, đảm đang. Khi Ngô Quyền khởi binh chống lại quân Nam Hán xâm lược, với sự tháo vát, đảm đang, bà được phong nữ tướng lo việc quân lương, góp phần giúp quân ta đánh tan 20 vạn quân xâm lượcNam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở ra một kỷ nguyên độc lập cho đất nước sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc. Với những đóng góp to lớn của Bà, Đức Vương Ngô Quyền đã phong tước hiệu cho bà là Ngô Vương Vũ quận chúa. (Khi đó Ngô Quyền chỉ xưng Vương, không xưng Đế nên Bà chỉ được phong tước hiệu Quận chúa). Sau này, với ý thức tự tôn dân tộc cao, dân ta tự phong Ngô Quyền là Ngô Vương Thiên Tử thì theo đó, Vũ Quận chúa được dân phong là Quyến Hoa Công chúa. Trong đạo sắc phong (sao lục) ngày 25/7/1924 còn lưu giữ ở đền Tiên Nga (số 53 phố Lê Lợi), vua Khải Định chính thức phong tặng Bà mỹ tự “Đoan túc, Dực bảo,  Trung hưng tôn thần” và chuẩn cho làng Gia Viên được phụng thờ.

Đến ngày 25/8/1934, trong đạo sắc của mình, vua Bảo Đại phong bà là Trang Huy, Thượng đẳng thần (hàng thần linh cao thứ hai trong thần điện Việt Nam). Đó là theo lễ tục triều đình, còn trong tâm thức dân gian Hải Phòng, Vũ Quận chúa Quyến Hoa từ lâu đã là vị nhân thần hiển thánh. Bởi vậy, không chỉ ở Hải Phòng quê hương mới thờ bà mà nhiều tỉnh thành ở Việt Nam giờ đây cũng thờ Quyến Hoa công chúa (cứ ở đâu có thờ Ngô Quyền thì ở đó đều phối thờ cả bà chúa Vũ Quận Quyến Hoa).

Theo thần tích tại các di tích thờ chúa bà Ngũ Phương (điển hình là đền Tiên Nga ở số 53 phố Lê Lợi - Hải Phòng) thì bà vốn là tiên nữ thiên đình. Sau bà giáng thế, hạ trần vào nhà họ Vũ ở cửa sông Cấm giang, đất Gia Viên (nay là Hải Phòng). Chúa sinh ra hình dung tươi tốt, mọi bề đảm đang. Năm 938 bà giúp Ngô vương Quyền chống quân xâm lược Nam Hán. Khi thắng lợi, bà về trở về trời và được giao quyền cai quản năm phương trời đất, bản cảnh bản xứ ngũ phương, vì vậy được tôn xưng là Bà Chúa Quận Năm Phương, hay còn có tên khác là Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa. Vì sao Vũ Thị Quyến Hoa tên bà lại còn được gọi là Bạch Hoa công chúa (công chúa màu trắng) thì có nguyên nhân sau đây:

Trong các giai thoại dân gian của người Hải Phòng, người ta thường kể rằng Chúa Bà thường hiện hình vào canh ba, giờ tý trong nốt một cô mỹ nữ với xiêm y màu trắng, giày trắng, rong chơi khắp chốn rồi về ngự ở các cây đa to. Có lẽ vì vậy mà tại nhiều cây đa có giai thoại Chúa biến tại đó hoặc đánh rơi chiếc hài người ta thường lập đền, miếu để thờ bà (như cây đa 13 gốc ở xóm Trại phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền). Bây giờ ở Hải Phòng, nhiều thanh đồng lập miếu, điện tư gia thờ bà không căn cứ vào xuất xứ giai thoại.

Ngày mất của chúa Vũ Quận Quyến Hoa được cho là 16 tháng 6 âm lịch, vào khoảng năm 939 – 944, còn ngày sinh không ai được rõ. Vào ngày khánh kỵ này, tại các nơi thờ Chúa Vũ Quận người ta đều tổ chức tế lễ, diễn xướng hầu đồng tri ân công lao nữ Chúa.

Sau khi nữ tướng Vũ Quận chúa qua đời, bà thường hiển linh phù hộ quốc thái, dân an. Với công đức của bà, dân sở tại dâng sớ tâu trình triều đình nên nhiều triều đại ban sắc phong bà làm phúc thần. Trải qua thời gian, thiên tai, chiến tranh nên tại đền Tiên Nga (nơi thờ chính của bà mà tôi viếng thăm) nay chỉ còn giữ được 2 đạo sắc sao của vua Khải Định và Bảo Đại triều Nguyễn.

Tôi thường tự hỏi: Trong 2 nữ tướng góp công vào chiến thắng Bạch Đằng giang là bà Bùi Thị Từ Nhiên (tướng lo quân lương, hậu cần của Hưng Đạo Vương năm 1288) và Vũ Thị Quyến Hoa (lo quân lương, hậu cần của Ngô Vương Quyền năm 938) thì chỉ bà họ Vũ là được dân gian phong thánh là vì sao? (dù nhân dân ta vẫn phối thờ cả hai bà cùng 2 vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo). Phải chăng, bởi chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền với sự góp công của bà Vũ Thị Quyến Hoa có ý nghĩa hết sức quan trọng khi nó chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, mở đầu thời kỳ phong kiến tự chủ lâu dài của dân tộc ta. Hơn nữa, bà Vũ Quyến Hoa còn được Ngô Vương phong là quận chúa và sau này còn hiển linh hoặc âm phù cho dân, cho nước (có giai thoại lưu truyền về việc bà báo mộng cho Hưng Đạo Vương trong trận Bạch Đằng năm 1288). Cũng không phải vô cớ mà nhiều triều vua đều ban sắc phong thần cho Vũ Quận chúa.

Trong tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt, chúa Ngũ Phương không phải là một vị Thánh cô phổ biến trong hàng thứ hai của đạo Mẫu được thờ nhiều như cô NhấtThượng Thiên, Cô Đôi Thượng Ngàn, Cô Ba (Bơ) Thoải phủ, Cô Tư Ỷ La, Cô Năm suối Lân… (12 thánh cô hầu cận các thánh Mẫu trong Tứ phủ).

Chúa Bà Năm Phương chỉ được thờ trong các canh hầu ở một số vùng như Hải Phòng và một số địa phương lân cận. Trong các đàn lễ mở phủ hoặc hát hầu Thánh, người ta thường dâng một tòa đàn gọi là đàn Chúa Bà: gồm có hình Chúa Quận Năm Phương, hai cô hầu cận, có khi là cả hình 12 cô nàng (là các cô bé theo hầu thánh cô) - tất cả trong trang phục màu trắng, nón chúa, hài cườm, một cỗ xe ngựa, hoặc xe phu kéo (gắn với giai thoại về việc Chúa Bà hay gọi xe tay để đi) gọi là xe Chúa Bà và thỉnh mời Chúa Bà Năm Phương về ngự để chứng đàn đó.

Vì vậy, trong các giá hầu Chúa bà Ngũ Phương, các thanh đồng thường mặc trang phục mầu trắng (áo dài trắng, hài trắng, khăn đội đầu màu trắng).

Trong các canh hầu, chúa Năm Phương thường ngự về trước Chầu Năm Suối Lân (Lạng Sơn), hoặc cũng có một số người hầu chúa sau Tam Vị Chúa Mường (ba vị chúa bà là công chúa con vua Hùng Vương).

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt, ở Hải Phòng, chúa bà Năm Phương đã trở thành vị thánh đặc biệt. Sử sách ghi chép về bà rất ít nhưng truyền ngôn trong dân gian về bà rất sâu đậm, linh thiêng. Nhân dân lập miếu, đền thờ bà ở nhiều nơi trên địa bàn Hải Phòng.

Sau đây là một số điểm thờ phụng chúa bà Năm Phương mà tôi được biết:

  1. Đền Tiên Nga, số 53 phố Lê Lợi
  2. Chùa Cấm (Linh Quang Tự): phối thờ.
  3. Đình Cấm - đình Gia Viên.
  4. Cây Đa 13 gốc ở phường Đằng Giang, quận Hải An, Hải Phòng.
  5. Chùa Vẻn (An Biên cổ tự): Phối thờ.

6. Đền Bà Chúa Năm Phương ở Đồ Sơn (gần đền cô Chín Suối Rồng) với thủ nhang là ông Hoàng Gia Bổn - nghệ nhân Dân gian Việt Nam.

7. Hai cây đa ở khu vực đầu đường Lê Đại Hành (quận Hồng Bàng) và công ty giày Thống Nhất ở đường 208, xã An Đồng (huyện An Dương) ngày nay được cho là linh thiêng hơn cả vì tương truyền là nơi Chúa Bà hiển thánh về ngự, đánh rơi chiếc hài ở gốc cây.

8. Đền chúa Ngũ Phương ở đầu vườn hoa Chéo, phố Trần Hưng Đạo (nay không còn)...

Căn cứ vào quan điểm tôn thờ của nhân dân đối với các vị nhân thần có công với nước, tôi cho rằng Chúa Bà Ngũ Phương thuộc vào hàng tứ phủ Chầu Bà, tương tự như Chúa Thác Bờ hay Cô Năm Suối Lân - những nhân vật có thật trong lịch sử được nhân dân phong thần.

Tuy không được thờ phổ biến trong đạo Mẫu Việt Nam, nhưng ở Hải Phòng chúa Ngũ Phương vẫn là một vị thánh mẫu linh thiêng được nhiều người tôn thờ (như nữ tướng Lê Chân).

Điều này thể hiện quan niệm truyền thống tốt đẹp của người Việt là tôn thờ người có công với dân, với nước, đáng được tôn trọng.

Phạm Văn Thi -Hội Văn hóa Dân gian Hải Phòng

Từ chuyện “ Rue Nam Sinh dit Le Van Thuoc”

alt

Nhìều lần đi xa về, đến bến ô tô tôi lại phải “cãi nhau” với dân xe ôm.Tôi bảo đưa tôi về phố Lê Chân, họ “cãi” chỉ có quận Lê Chân chứ không có phố Lê Chân! Ngay cả khi tôi nói mình ở phố ấy và viện dẫn rạp Lê Văn Tám, đền Nghè, nhiều người vẫn ngờ ngợ; có anh còn lý sự cùn đến mức chở tôi về đến đầu phố, ngẩng cổ nhìn tấm biển tên phổ mà vẫn còn bảo: “Thà cứ nói là ngõ Nghè thì tôi còn biết”

Ở phố nhỏ, dù giữa trung tâm đô thị, khổ thế! Đã vậy, số hộ, số người ở phố Lê Chân lại ngày một vơi đi.Nhà trên phố hầu hết xây theo lối tầng trên tầng dưới cách biẹt nhau, cầu thang lên tầng trên đặt bên cạnh và lối lên ở ngay mặt đường, tiện cho tầng dưới một hộ, tầng trên một hộ, không chung đụng nhau.Khoảng chục năm gần đây người cũ đi theo người mới đến, chủ mới hầu hết đều mua cả hai tầng và không ít người phá nhà cũ, xây mới.Phố từ gần 200 hộ giờ chỉ còn hơn 70, ít người ở tất yếu ít cả người biết tới nên dân xe ôm cãi không có phố Lê Chân cũng chả phải vô lý!.

Nhưng tôi tự hào với phố nhỏ của tôi: Nơi có đền thờ bà Lê Chân, vị nữ tướng đã khai sinh ra vùng đất An Biên, cái nôi của nội thành Hải Phòng ngày nay; có trường Nữ học( trường Minh Khai)- nơi vào ngày 20/10/1946 từng được đón Bác Hồ tới nghỉ sau chặng đường dài trên biển từ Pháp trở về Tổ quốc; có ông già Tuyết- bạn của Bác mà chính ngày 20/10 ấy đã trịnh trọng khoác áo pađơxuy, thắt nơ từ nhà trong ngõ Sơn Lâm sang gặp Bác; nơi nhà thơ Thế Lữ từng ở, nơi Nguyên Hồng thuở mới cầm bút từng đến gặp “Ông vua Thơ mới”, xúc động như được đứng trước Kim Tự Tháp sừng sững!...

Cái tên ngõ Nghè chắc chắn là tên gọi sớm nhất của phố vì đầu phố có tên đền Nghè.Cũng như phố Trần Nhật Duật bên kia ngã tư từng được gọi là ngõ Cố Đạo vì mới đầu chỉ có mấy nhà phía Bắc do nhà thờ xây cho Giáo dân ở.Cả hai sau khi mử rộng và trở thành phố xá đã được người Pháp đặt tên chính thức: Ngõ Nghè gọi là phố Nam Sinh, trên bản đồ ghi là Rue Nam Sinh dit Le Van Thuoc( phố Nam Sinh tức Lê Văn Thược), ngõ Cố Đạo gọi là Rue Chavicgnon; mặc dù vậy, cái tên ngõ Nghè và Cố Đạo sau 100 năm vẫn không hề mất, cũng như ngõ Quảng Lạc, ngã tư Trại Cau, ngõ Đồng Lùn, ngõ Phiêu lạc, ngõ Cô Ba Chìa..thỉnh thoảng vẫn được người Hải Phòng nhắc đến trong câu chuyện thường ngày bên bàn trà, điếu thuốc.

Trong Bước đường viết văn, Nguyên Hồng có hẳn chương Nhà thơ ở ngõ Nghè. Nhà thơ được nhắc đến là Thế Lữ: “Hoa xoan tây vẫn đỏ ối. Đặc biệt thành phố Hải Phòng lại nhiều cây này hơn, và hình như cũng dày hơn, rực hơn. Ngõ Nghè của Thế Lữ cũng nhiều xoan tây. Trước nhà Thế Lữ là một gốc cây hoa bồng bồng như chồng, như đắp.

Người Pháp phân loại đường phố như sau: Boulevard( đại lộ), Avennue( phố lớn), Rue( phố nhỏ),Route( đường- con phố dẫn ra ngoại ô).Rue Nam Sinh dit Le Van Thuoc là phố nhỏ, chỉ dài hơn 200m, đường và vỉa hè đẹp, cái thời trước nhà Thế Lữ có cây xoan tây đã qua lâu rồi vì từ khi biết đến nay tôi thấy phố dường như không có cây cối, sau xuất hiện một vài cây trứng cá do các nhà tự đem về trồng trước cửa.

Ở phố Lê Chân chẵn 50 năm( 1960- 2010) nên từ lâu tôi khao khát muốn biết về Nam Sinh Lê Văn Thược. Hỏi dân phố, chả ai biết về ông! Ngay những người cao tuổi sống đã lâu ở đấy cũng chỉ biết lơ mơ rằng ông Nam Sinh có xây nhà ở phố nên tên ông được đặt cho phố.May sao gặp được nhà sử học Lê Thế Loan, anh mach tôi về xã Hòa Nghĩa, huyện Kiến Thụy! Tới Hòa Nghĩa lại hỏi, có lúc gần như nản chí nhưng cuối cùng tôi cũng đến được ngôi nhà của chính Lê Văn Thược ở thôn Hải Phong và nói chuyện với người thân của ông, như ông Lê Văn Chi, bà Lê Thị Vinh đều gọi Lê Văn Thược là chú; nhầt là được gặp cụ Nguyễn Văn Chắt người chưởng bạ, coi giữ sổ sách, giấy tờ cho Nam Sinh ngày trước.Bao nhiêu năm trôi qua mà con cháu cụ vẫn giữ cách gọi xưa: Bạ Chắt.

Chuyện cách đây đã lâu, vào cuối năm 2004, nhưng còn nhớ mãi.Khi ấy những người cháu của Lê Văn Thược đều đã “ thất thập” còn Bạ Chắt thì đã 88, giờ sau 9 năm không hiểu ai còn ai mất! Chuyến đi ấy sẽ không thật mỹ mãn nếu không có Vũ Thị Huệ.Cô là cháu Bạ Chắt, nhân viên Ngân hàng Công thương, nhà ở phố Đình Đông, chủ nhật về thăm quê gia đình.Huệ không biết nhiều về Lê Văn Thược nhưng nhiệt tình dẫn tôi đi khắp nơi, tới hết nhà nọ nhà kia, mời người nọ gọi người kia đến tiếp chuyện; quay ngược xe về gần Cầu Rào rồi lại trở về Hòa Nghĩa! Xong việc chúng tôi “ mã hồi” tới ngã tư Quán Bà Mau thì thành phố đã lên đèn.

Hóa ra chuyện về Nam Sinh Lê Văn Thược lại là chuyện rất đáng nói, mang dấu ấn của số phận, ở ông có chút bóng dáng Bạch Thái Bưởi( 1874- 1932), của Nguyễn Sơn Hà, của Trần Công Lai( thân sinh nhà thơ Trần Công Hữu)….những con người bình thường, thậm chí có người còn xuất thân nghèo hèn đã biết cách vươn lên và làm giàu và thành đạt.

Nhưng nói về Lê Văn Thược lại phải bắt đầu từ vợ ông.

Cuối thế kỷ XIX ở làng Ông Đình, nay thuộc xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, có một gia đình nông dân nghèo sinh được ba người con gái. Vì không thể nuôi nổi các con, họ phải đem một đứa ra Hà Nội bán. Đó là Lê Thị Tâm. Nhớ nhà, sợ hãi trước cuộc sống xa lạ và bạc bẽo, sau vài hôm Tâm chốn khỏi nhà chủ. Cô bé không biết đường về làng nhưng biết quê mình thường có người đem con ra Hà Nội, vạ vật ở vườn hoa mong có người đến mua hoặc thuê làm con sen, đứa ở.Chính mẹ cô đã đưa cô đến một vườn hoa. Cô ra đấy hy vọng gặp được người làng để theo họ về nhà. Hải Phòng hồi ấy có “Vườn hoa đưa người” thì Hà Nội cũng có loại vườn hoa như thế, nơi thường xuyên lảng vảng bên gốc cây, rệ cỏ những ả gái điếm, những gã trộm cắp mượn làm chỗ nghỉ ngơi những người nhà quê chầu chực làm thuê làm muớn hoặc đem con đi bán; những mụ Tú Bà, mẹ mìn mắt la mày lém; còn bên lề đường thì vất vưởng đám phu xe tay, phu ba gác mệt mỏi và rỗi việc…

Hãy hình dung nỗi thất vọng và sợ hãi của Tâm khi không thấy người nào quen, xung quanh lại toàn bộ mặt thiểu não và ma quái, trời thì dần ngả về chiều. Muốn quay lại nhà chủ cũng không biết đường! Đang lúc ấy, một bà đi tới, và trời cũng rủ lòng thương cho Tâm linh cảm rằng đó là một người tốt bụng. Cô tới gần định ngỏ ý xin theo bà về nhà nhưng chưa nói nên lời đã òa khóc. Người đàn bà thấy lạ, cúi xuống lau nước mắt cho cô và chợt hiểu, trước mắt bà là đứa bé tội nghiệp.

Lê Thị Tâm thành con sen cho gia đình người đàn bà tốt bụng. Không được đi học nhưng được bà nó dạy bảo, cô không những đọc thông viết thạo Quốc ngữ mà còn biết ít nhiều chữ Nho.Tâm càng lớn lên càng xinh đẹp và được nhiều người để ý, rồi cô thành vợ chủ hãng Nam Sinh ở Hải Phòng.Ông này là người Pháp, làm nghề thầu khoán, đại diện cho một hãng thầu ở Pháp. Lê Thị Tâm được gọi là bà Nam Sinh từ đó.

Cuốn “Lược khảo đường phố Hải Phòng” có đoạn nói về chợ Sắt: “Một phụ nữ Việt Nam lấy chồng Pháp có xin đất phía trước chợ bây giờ, dựng lại một lán 14 gian, mái lợp lá, để thuyền bè từ Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên tới bán gạo và tre nứa, nón lá..mỗi tháng có sáu phiên và các ngày 4,9, 14, 24, 29 âm lịch.Hằng năm cứ đến mùa mưa bão là quán đổ.Thấy thế, vào khoảng năm 1888 Balô (Balaurd) mới xin một khoảng đất hoang gần chợ và thuê sở Carông (Caron) dựng chợ mới toàn bằng sắt, xây xung quanh, có ba gian, bốn cổng. Cổng chính có nhà và gác cho gia đình Balô ở. Thấy chợ mới sạch sẽ dân chúng vào đấy họp, chợ cũ bỏ từ đó.Tên chợ là Chợ Lớn (Grande Marche), tuy nhiên nhân dân thường gọi là chợ Sắt”.

Các cháu ông Lê Văn Thược nói người phụ nữ lấy chồng Pháp dựng lán chợ chính là bà Nam Sinh.

Có một người đàn ông thầm yêu trộm nhớ bà Nam Sinh, đó là…anh bồi của vợ chồng bà. Anh quê ở làng Mọc, tỉnh Hà Đông, nay là vùng cống Mọc, gần Ngã Tư Sở, Hà Nội.Chắc chắn anh bồi sẽ mãi mãi chỉ thầm yêu trộm nhớ nếu như vận may không đến với anh: Ông chủ về Pháp. Ông này hết thời gian làm việc ở Đông Dương và có lẽ đã có vợ con bên Pháp nên không thể đem Tâm về theo. Lê Thị Tâm bày tỏ nguyện vọng nếu không thể cùng sang Pháp thì cho mình lấy anh bồi. Có thể anh bồi xui cô nói vậy mà cũng có thể cô biết anh bồi yêu mình…!Ông chồng Pháp chẳng những bằng lòng mà còn giao luôn hãng Nam Sinh cho hai người. Anh bồi đó là Lê Văn Thược. Bà Nam Sinh thành vợ ông Lê Văn Thược, từ đó ông Thược cũng được gọi là ông Nam Sinh.

Thầu khoán là một nghề kiếm chác được.Cùng thời, Bạch Thái Bưởi cũng từng là thầu khoán trước khi trở thành “Chúa sông Bắc Kỳ” và giàu thứ tư trong những người Việt Nam lúc đó.Năm 1925 một đoạn Kênh vành đai (Canal Ceinture- thường gọi là kênh Bonal) được lấp, sau này trở thành dải vườn hoa trung tâm. Từ đó đô thị Hải Phòng phát triển mạnh về phía Nam và phía Đông. Được chính quyền thành phố khuyến khích tham gia vào việc xây dựng, ông bà Nam Sinh liền vay tiền Địa ốc Ngân hàng để xây nhà trên con đường vừa được mở rộng trên cơ sở của ngõ Nghè cũ, nối đại lộ Paul Doumer (nay là phố Cầu Đất) với phố Metz (phố Mê Linh), sau đó đường được chính quyền chính thức gọi là phố Nam Sinh, lèo thêm “ dit Le Van Thuoc”, có lẽ để phân biệt với ông chủ hãng Nam Sinh cũ nay đã về Pháp.

Nhà trên phố phần lớn xây để bán cho Hoa kiều hoặc cho họ thuê nên kiểu cách giống nhiều nhà ở khu phố Hoa kiểu cạnh sông Tam Bạc.Tầng trên, tầng dưới cách biệt nhau. Đầu thế kỷ XX xi măng còn hiếm, sắt thép lại càng hiếm nên nhà không có lấy một tấc sắt! Xà và sàn nhà tầng trên bằng gỗ lim, trên lát gạch Bát Tràng, trải qua 70, 80 năm do đi lại, quét tước, các viên gạch hầu hết đã lõm xuống nhưng phần gỗ vẫn vững chắc! Cầu thang gỗ cũng vậy.

Ông Lê Văn Thược còn thầu xây ở phố trường Nữ học, thường gọi là “ trường con gái” theo thiết kế và đầu tư của chính quyền thành phố. Ông còn xây một trường nữa, bằng tiền của mình và cho chính quyền thành phố thuê, đặt tên là trường Nam Sinh. Mảnh đất không được vuông nên dân chúng gọi là “ trường Chéo”; đấy là trường Nguyễn Thượng Hiền ở phố Lê Lợi ngày nay.

Thời trước những nhà quyền quý, giàu có thường lập ấp ở thôn quê, như một lãnh địa riêng của mình. Hoàng Cao Khải có ấp Thái Hà ở Hà Nội, gia đình Mai Lĩnh có ấp ở Xuân Mai, tỉnh Phúc Yên và ở Trại Cau, Hải Phòng. Nơi gắn bó nhất, lãnh địa của ông bà Nam Sinh cũng là ấp: ấp Nam Sinh ở làng Hòa Nghĩa, tổng Tư Thủy, huyện Kiến Thụy.

Nơi Bạ Chắt và con cháu ở chính là nhà ông bà Nam Sinh thuở trước. Cơ ngơi để lại không còn rộng như thuở nào nhưng vẫn còn nguyên ngôi nhà gạch ngày ấy, trông cũng biết được xây chắc chắn, chỉ có một tầng nhưng lại có tầng hầm cao ráo, nhiều năm mưa bão lụt lội nhưng nhờ nhà cao, thóc lúa chạy trên nhà nên không thiệt hại gì.

(Cô cháu gái Vũ Thị Huệ hơi “ nghi” về xuất thân của cụ Vũ Văn Chất. Cô nghi rằng Bạ Chất nếu không là con đẻ thì cũng là con nuôi của ông Nam Sinh. Chứ mới ngoài 20 tuổi mà đã được Nam Sinh giao cho chức chưởng bạ, coi giữ sổ sách, giấy tờ ruộng đất thì vô lý, đã vậy sau này còn được thừa kế cơ ngơi của ông bà).

Tôi nói chuyện với Bạ Chắt, con cháu cụ và các cháu Lê Văn Thược quây quần  xung quanh sôi nổi góp chuyện. Người Hòa Nghĩa ai cũng mang ơn ông bà Nam Sinh. Họ bảo bà Nam Sinh còn khắt khe chặt chẽ chứ ông thì phúc hậu, độ lượng, không tiếc của cứu trợ người nghèo. Ông là người khá uy tín trong xã hội nên từng được bầu là nghị viện Viện Dân biểu Bắc Kỳ.

Nhân dân Hòa Nghĩa nhiều người giờ đây vẫn nhớ Bài thơ lập ấp tương truyền ra đời đã bảy, tám chục năm, tác giả là ông giáo Móm. Bạ Chắt đọc cho tôi nghe bài thơ ấy nhưng ở tuổi 88 cụ chỉ còn nhớ câu được câu chăng, rồi cụ nghĩ ra và chỉ cho tôi và Vũ Thị Huệ tìm tới ông Đặng Văn Hoạch ở xã Hải Thành.Thế nên chúng tôi quay xe về hướng Cầu Rào. Ông Hoạch không những thuộc mà còn đánh vi tính sẵn đến hàng chục bản Bài thơ lập ấp, ai hỏi cũng cho. Mấy câu đầu bài thơ như sau: “ Tỉnh Kiến An có làng Hòa Nghĩa/ Nhác trông xem phong cảnh hữu tình/ Hỏi ra từ ông Nam Sinh/ Xuất tài xuất lực lập thành xã dân…”Cứ như bài thơ thì đầu thế kỷ XX vùng Hòa Nghĩa còn khá vắng vẻ. Ban đầu ấp Nam Sinh chỉ có 37gia đình tá điền, khai hoang được 500 mẫu đất để trồng lúa.Rồi dựng đình, đền, miếu, làm nhà kho, nhà xe, chuồng trâu chuồn ngựa, đào ao thả cá, vật đất làm đường. “ Một tay gây dựng cơ đồ/ Kể phần công của biết cơ muôn nào…Nhớ câu uống nước nhớ nguồn/Bể dâu thay đổi, vẫn còn lưu danh”.

Năm 1932 ông Nam Sinh Lê Văn Thược mất, thọ khoảng 60 tuổi. Từ đó gia đình trở nên sa sút, bà Nam Sinh phải bán đi 100 mẫu ruộng cho một người Pháp, thường gọi là Ba Chín Sầu, chủ công ty Vệ sinh Hải Phòng; năm 1933, 1934 bà phải đòi lại trường Chéo để bán lấy tiền trả nợ Địa ốc Ngân hàng; vẫn không hết nợ, nhà ở phố Nam Sinh đang cho thuê bị chính quyền trưng thu.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bà Nam Sinh cho chính quyền cách mạng dỡ một phần nhà ở Hòa Nghĩa để làm chiến lũy ngăn quân Pháp từ Đồ Sơn tiến về Hải Phòng.

Năm 1954 bà Nam Sinh, khi đó đã 80 tuổi, di cư vào Nam và mất tại đây, thọ tới 107 tuổi. Con các ông bà Nam Sinh sang Úc sinh sống. Năm 2004 người cháu đích tôn của ông bà cùng người vợ Úc đã về Việt Nam viếng mộ ông Nam Sinh.

Nhận Bài thơ lập ấp từ ông Hoạch, tôi và Huệ lại quay về Hòa Nghĩa vì ông Hoạch cho biết mộ Lê Văn Thược hiện ở nghĩa trang làng và do chính ông xây lại, khắc bia. Bức ảnh người cháu đích tôn ông Nam Sinh và người vợ Úc cũng do ông Hoạch cho xem chúng tôi mới biết.

Chúng tôi đứng trước mộ, Trời về chiều, khói hương nghi ngút. Đời bể dâu quá nhiều bí ẩn. Bí ẩn về cuộc đời chìm nổi của Lê Thị Tâm và anh bồi Lê Văn Thược thuở nào, về nguồn gốc Bạ Chắt, và cả về ông Đặng Văn Hoạch- không phải họ hàng, không phải con cháu mà ông lại bỏ tiền ra tôn tạo mộ cho Lê Văn Thược! Vũ Thị Huệ bảo: Vì nghĩa cử đẹp của ông Hoạch nên cụ Nam Sinh đã phù hộ cho gia đình ông ấy làm ăn khấm khá; anh viết bài về cụ Nam Sinh có khi cũng được hai cụ phù hộ. Tôi lặng im, Giàu nghèo, êm ấm là do cái số, mà cũng do được độ trì phù hộ; chỉ biết viết được về ông Nam Sinh tôi như cất được gánh nặng trong người, nhất là giờ đây tôi không còn ở phố Lê Chân, không còn ở Rue Nam Sinh dit Le Van Thuoc và ngõ Nghè nữa- cái phố đã gắn bó với tôi những năm 50 năm trời đằng đẵng.

(Nguồn: Từ chuyện Rue Nam Sinh dit Le Van Thuoc/ Lưu Văn Khuê//Cửa biển. - số 136, tháng 7 năm 2013. - tr 66- 70)

Trao đổi tìm hiểu về địa danh “Bến Bính” tại TP Hải Phòng

Địa danh “Bến Bính” ở thành phố Hải Phòng xuất hiện ở khu nhượng địa ban đầu theo Hòa ước Giáp Tuất năm 1874 do thực dân Pháp quản lý. Do vậy phố Bến Bính và bến đò Bính nằm trong khu nhượng địa mở rộng đợt đầu.

alt

Suốt những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khu nhượng địa đường phố nhà cửa hình thành nhanh chóng, phố Bến Bính là con đường ven sông Cấm cùng bến đò Bính với bao câu chuyện lịch sử. Bến Bính đi vào thơ, vào câu hát: “Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên...”; Bến Bính là cái cớ cho Nhà văn Nguyên Hồng đặt tên nhân vật chính của tiểu thuyết “Bỉ Vỏ” nổi tiếng với cái tên “Tám Bính”.

alt

Bến Bính là nơi có bến tàu thủy đi Cát Hải, Cát Bà, Quảng Ninh, Bắc Giang... Hòa bình lập lại năm 1955, nơi đây xây dựng bể bơi Bến Bính vào loại hiện đại ở Đông Nam Á lúc đó. Nhà khách Bến Bính do Pháp xây dựng theo lối biệt thự, có vườn cây rộng bao quanh, thời Pháp có tên là Maison de France, nay là nhà khách UBND thành phố Hải Phòng.

alt

Thời gian tới, nơi đây có cầu Hoàng Văn Thụ bắc qua nối huyện Thủy Nguyên với nội thành Hải Phòng. Địa danh “Bến Bính” sẽ được qui hoạch, xây dựng khang trang đẹp đẽ phục vụ du khách và người dân Đất Cảng.

MT

Nghệ nhân Dân gian Đào Bạch Linh- Trùm xẩm Hải Phòng

Từ những năm 60 trở về trước, hát xẩm thông dụng ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Sơn Tây, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng…. Sau đó vì những nguyên nhân khác nhau về môi trường xã hội, đặc biệt là những quan niệm sai lầm của chính quyền và cơ quan quản lý văn hóa, các phường xẩm dần tan rã. Những Xẩm nhân được quy tụ lại trong những hợp tác xã vót tăm tre, đan lát hay bện chổi rơm. Các nghệ nhân xẩm tài danh thì mất dần, mang theo những tinh hoa của nghệ thuật xẩm mà không truyền lại được cho thế hệ kế tiếp.

alt

Những năm 80 của thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ tâm huyết đã gắng khôi phục lại nghề hát Xẩm nhưng không thành công. Đến năm 2008, một số nghệ sĩ, nhạc sĩ thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam đã từng bước đưa được loại hình nghệ thuật này trở lại với công chúng ở Hà Nội. Những nghệ sĩ tâm huyết với Xẩm và những người yêu xẩm ở các nơi cũng dần dần tìm cách khôi phục, bảo tồn nghệ thuật này. Hải Dương, Hà Nội, Hà Tây, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Phòng, ... đều hình thành các câu lạc bộ xẩm (chiếu Xẩm).

Có thể nói ở Hải Phòng, người góp nhiều công sức nhất cho việc bảo tồn, quảng bá nghệ thuật xẩm là nghệ nhân Dân gian Việt Nam Đào Bạch Linh (hiện công tác tại Sở Ngoại vụ Hải Phòng). Anh được phong danh hiệu cao quý này năm 2016 vì những cống hiến hết mình cho sự nghiệp gìn giữ, phát triển vốn văn nghệ dân gian Việt Nam.

Đào Bạch Linh chính là người đưa xẩm về Hải Phòng vào đầu năm 2010 với việc tập hợp những người yêu thích nghệ thuật này lại để phổ biến, học hỏi lẫn nhau. Sau đó, tháng 3 năm 2013 nhóm xẩm của anh tham gia sinh hoạt tại Trung tâm Văn hóa quận Lê Chân với tên gọi câu lạc bộ (CLB) Hải Thành. Từ một chàng thanh niên  xuất thân không phải trong một gia đình nghệ thuật, chỉ bằng lòng đam mê và quyết tâm theo đuổi đến cùng thứ văn nghệ dân gian này mà Đào Bạch Linh đã tự học thành tài để có thể vừa miệng hát, tay kéo nhị, chân đạp phách.

Từ khi còn là sinh viên tại Hà Nội, cứ cuối tuần anh lại lặn lội về thôn Quảng Phúc, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình học đàn, hát xẩm từ Nghệ nhân Dân gian Hà Thị Cầu. Thạo nghề, Đào Bạch Linh không ngừng truyền dạy nghệ thuật này cho những học viên yêu thích xẩm. CLB Hải Thành của Linh hiện có khoảng hơn 20 hội viên mà người ít tuổi nhất là 7 tuổi và cao tuổi nhất là 76. Năm 2015 chiếu xẩm Hải Thành trở thành một chi hội của Hội Văn nghệ Dân gian thành phố trực thuộc Hội LHVHNT Hải Phòng). Hiện nay, chiếu xẩm Hải Thành sinh hoạt 4 buổi/tuần tại nhà riêng của nghệ nhân Đào Bạch Linh, trong đó 2 buổi dành cho việc học hát và 2 buổi học đàn. Không chỉ sinh hoạt và dạy Xẩm tại gia mà nhóm của anh còn xuống trường khiếm thị Hải Phòng dạy nghề miễn phí cho các em nhỏ tàn tật, biểu diễn tại các sự kiện văn hóa thành phố như lễ hội truyền thống, liên hoan nghệ thuật quần chúng, giao lưu văn nghệ dân gian giữa các địa phương. Những năm gần đây, mỗi năm hai lần (vào ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch hằng năm) CLB (nay là giáo phường) xẩm Hải Thành đều tổ chức giỗ tổ nghề hát xẩm tại đình Niệm Nghĩa hoặc đình Hào Khê có mời một số nhóm, CLB Dân gian các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh tham gia giao lưu văn nghệ, học hỏi lẫn nhau. Giáo phường Hải Thành cũng tham gia nhiều hoạt động giao lưu với CLB Đình làng Việt ở Hà Nội, biểu diễn tại các đình làng ở Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên trong các dịp hội hè… và đang đóng góp tích cực cho sự nghiệp giữ gìn, phát triển và quảng bá nghệ thuật Xẩm tại một số nơi (cả ở Tp. Hồ Chí Minh) như giúp đỡ thành lập nhóm xẩm, hướng dẫn chuyên môn và cách duy trì sinh hoạt chiếu xẩm.

alt

Về hình thức, hát Xẩm có hai dòng là Xẩm sáng và Xẩm mù với 8 làn điệu chính. Về thể loại có Xẩm Chợ (hát tại nơi công cộng như chợ búa, bến tàu, bến xe); Xẩm Nhà trò hay nhà tơ (hát tại hàng quán, tại tư gia), Xẩm Huê tình (hát giao duyên), Xẩm Thập ân (kể công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy)...

Trong mỗi thể loại, địa phương nào cũng có làn điệu cơ bản giống nhau nhưng phong cách thể hiện khác nhau, môi trường diễn xướng cũng đa dạng không giống nhau.

Bên cạnh các loại xẩm chính như xẩm chợ, xẩm xoan (Phú Thọ), xẩm thập ân... nghệ nhân xẩm đã kết hợp thêm các loại hình khác như sa mạc, trống quân, cò lả, hát ví... Việc kết hợp như vậy vừa làm phong phú hơn, mượt mà hơn cho các câu hát xẩm, lại vừa phổ biến được các loại hình khác rộng rãi trong dân gian. Những làn điệu đó đều được “xẩm hóa” cho đúng với phong cách dân dã của các nghệ sĩ. Như điệu hát trống quân chẳng hạn, vốn là một điệu hát đối đáp trai gái trữ tình đã được xẩm chuyên dùng để chuyển tải những nội dung châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội, như bài Dâu lười hay Rể lười...

Về nhạc cụ của xẩm, theo truyền thuyết, đàn bầu được coi là nhạc cụ đặc trưng của xẩm lúc ban đầu. Song, phần vì âm lượng hạn chế, phần vì khó học, khó chơi hơn đàn nhị nên không phải nhóm xẩm nào cũng sử dụng đàn bầu. Hiện nay, cơ bản một nhóm xẩm thường có đàn nhị, sênh, phách và cặp trống mảnh (trống da một mặt). Nhưng với hoàn cảnh lang thang kiếm sống nay đây mai đó, người  nghệ sĩ đơn giản  chỉ cần một đàn nhị và cỗ phách hay cặp sênh cùng giọng ca lôi cuốn là đã có thể thu hút được khán giả.

Xẩm chợ (còn gọi là Xẩm dân gian) hiện nay hầu như không còn nữa. Giờ đây, xẩm đã được biểu diễn trên sân khấu, sân đình, tại tư gia như kiểu thính phòng hay phục vụ khách du lịch. Và người biểu diển xẩm không chỉ là người khiếm thị mà còn là các nghệ sĩ chuyên nghiệp, nghệ nhân được Nhà nước phong danh hiệu.

Xẩm được xếp vào thành phần âm nhạc cổ truyền chuyên nghiệp, nhưng rõ ràng Xẩm là một thể loại chứa đựng hầu hết những đặc tố cơ bản của âm nhạc dân gian. Vậy nên có thể khẳng định hát xẩm là loại hình ca nhạc dân gian mang tính chuyên nghiệp.

Xẩm ngày xưa là xẩm của những người khiếm thị than thân trách phận, kể vể sự kém may mắn của bản thân, còn xẩm ngày nay là những người sáng mắt hát về những điều chướng tai gai mắt trong xã hội, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của con người hoặc những lời ca về vẻ đẹp quê hương, đất nước, ca ngợi tình yêu đôi lứa, gây cười…

Không chỉ phục vụ quảng đại quần chúng, người nghệ sĩ xẩm còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu cá nhân trong những dịp như ma chay, giỗ kỵ, khao lão...

Theo thời gian, số người yêu thích môn nghệ thuật Xẩm ngày một đông với đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp xã hội nên cũng giống như một số dự án thí điểm đưa nghệ thuật truyền thống như hát chèo, hát quan họ, cải lương, hát xoan… hay gần đây là ca trù vào các trường phổ thông, Đào Bạch Linh - chủ nhiệm giáo phường xẩm Hải Thành mong muốn nghệ thuật Xẩm cũng được truyền dạy rộng rãi cho các em học sinh nhằm bảo tồn một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc trước nguy cơ mai một.

Phạm Văn Thi

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 4

alt

Trần Phương

8. Làng Câu Tử (xã Hợp Thành):

Xã cũ, nay là 2 thôn Câu Tử Nội, Câu Tử Ngoại thuộc xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Câu Tử, tổng Thái Lai, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Vốn là trang Hùng Khê thời Trần. Trước năm 1813, là xã Câu Tử, tổng Thái Lai, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

Theo bản khai trước năm 1945 của hương lý làng Câu Tử và một số tài liệu khác: Câu Tử là quê Hoàng Công, không rõ tiểu sử, đỗ Thái học sinh thời Trần, có làm quan, dân thường gọi là Hoàng Tướng Công. Con gái Hoàng Công là Hoàng Thị Bính được triều đình truy phong Quận Đa phu nhân và dân làng lập đền thờ (đền Hùng Khê), vì có hai con trai là Hoàng Hộ, Hoàng Thống tham gia đánh trận Bạch Đằng năm 1288, đã anh dũng hy sinh.

Làng Câu Tử xưa có nghề mộc nổi tiếng.

Theo các tác giả Mạc Đức Khang, Mạc Văn Viên, dải đất làng Câu Tử xưa kia là đầm lầy, bãi sú, lau sậy, cây cối mọc um tùm, có nhiều gò đống. Sau đó dân hai làng Ngọc Khê và Việt Khê chuyển cư đến khai hoang lập trại sản xuất, lấy tên là Hùng Khê trang. Quận Đa phu nhân Hoàng Thị Bính được thờ tại đình và miếu của hai thôn Câu Tử Nội và Câu Tử Ngoại. Người con đầu của Quận Đa phu nhân là Hoàng Minh Hộ được phong là Thủy Hộ đại vương, thờ ở đình thôn Câu Tử Ngoại (đình và tượng bị giặc Pháp đốt phá trong kháng chiến). Người con thứ hai của Quân Đa phu nhân là Hoàng Minh Thống, được phong là Đô Thống đại vương, thờ ở đình Câu Tử Nội. Ngày tế lễ hằng năm: 18-8 (giỗ Quận Đa phu nhân); 4-10 (giỗ hai tướng Hoàng Hộ và Hoàng Thống); 8-3 (mở hội làng); 6 tháng giêng: dân hai thôn tổ chức rước thần tượng Quận Đa phu nhân và hai con của bà qua chùa chầu Phật và tổ chức hội vật (còn gọi là lễ giao điệt)[1].

Gia phả họ Mạc ở Câu Tử chép về một phu nhân của Ninh Vương Mạc Phúc Tư (thụy là Phúc Triệu, con thứ hai Hoàng đế Đăng Doanh và Hoàng hậu Đậu Thị Giang) là Đoàn Thị Từ Linh, người phường Hùng Khê. Phu nhân Đoàn Thị Từ Linh sinh được 3 con trai: Mạc Thuần Trực, Mạc Đạo Trai và Mạc Tảo An.

9. Làng Chung Mỹ (xã Trung Hà):

Nay là thôn thuộc xã Trung Hà, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Chung Mỹ, tổng Kinh (Kênh) Triều, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước năm 1813, là xã Chung Mỹ, tổng Kênh Triều, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Trong danh sách làng xã năm 1927 và hồ sơ thần tích năm 1938 ghi Chung Mỹ, có tư liệu địa phương ghi Trung Mỹ.

Đình Chung Mỹ (di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng cấp quốc gia), thờ thành hoàng tên hiệu Thiên Hộ, húy Trần Hưng Trí, không rõ ngày sinh, hóa; có công giúp nhà Trần đánh giặc Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng thế kỷ XIII, cũng có công chiêu dân lập ấp. Vị thần này được thờ bằng tượng gỗ sơn son thiếp vàng. Trước năm 1938, làng Chung Mỹ còn giữ được 8 sắc phong thuộc các đời: Cảnh Hưng 1 (1792), Thiệu Trị 6 (1845, 2 đạo), Tự Đức 3 (1850) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909) và Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 4 tháng Giêng, 15-8, 1-12; không tế xuân, thu, thượng, hạ điền; “những người dự (tế) phải dùng mỗi người một cái áo thụng xanh”; kiêng tên húy các chữ: “Hộ”, “Trí”.

Sách “Đồng Khánh dư địa chí lược” chép rằng: “Xã Chung Mỹ thờ thần là Hưng Trí Vương, con thứ 5 của Hưng Đạo Vương”, “theo Vương đánh giặc Nguyên ở Bạch Đằng, về đến xã ấy chiêu tập lưu dân, sau khi chết dân trong xã lập đền thờ”.

10. Làng Do Lễ (xã Tam Hưng):

Trước năm 1945, là xã Do Lễ, tổng Phục Lễ, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XV, có sách ghi Khúc Lễ (ngờ người sao viết lầm thêm một nét sổ), huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

Do Lễ là quê của nhà khoa bảng Lưu Công Ngạn (? - ?) đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) năm 1463.

Chùa, đình và miếu Do Lễ thờ 3 vị thành hoàng: 1- Thần Chính Dực Bảo Trung Hưng, thường gọi Linh, húy Phạm Tử Nghi; chỉ thờ bằng sắc phong còn giữ được trước năm 1938, thuộc các đời: Thành Thái 1 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 10-10; ngoài ra còn có lễ thượng điền, hạ điền, kỳ phúc (4-1). 2- Hưng Đạo Đại vương, tên húy Trần Quốc Tuấn; thường gọi Đức Thánh Trần; thờ bằng sắc phong ở chùa. Trước năm 1938, xã Do Lễ còn giữ được 2 sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 5 (1911), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 5-5., 20-8., 10-10., 5-12., 3- Đang Cảnh Thành hoàng Bản thổ Chúa đại vương, tên húy Vũ Nguyên, người làng Do Lễ, sinh ngày 15-4, hóa ngày 9-12; tương truyền theo Trần Hưng Đạo đánh giặc Ô Mã Nhi thế kỷ XIII; thờ bằng tượng ở đình, không có mũ, áo, kiếm, hốt. Trước năm 1938, còn giữ được 7 đạo sắc phong, thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853), 11 (1857) và 33 (1880); Đồng Khánh 2 (1887); Duy Tân 3 (1909); Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 4-1., 15-4.,  5-5.; 5-12., 9-12., Trong tế lễ, “người phải lỗi trong 3 lần thì tiên thứ chỉ bắt phạt một chai rượu và một phòng (buồng) cau để biếu thần và lỗi (xin lỗi) dân”.

(Còn tiếp)

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 3

alt

Trần Phương

4. Làng Bảng Trình (xã Kỳ Sơn):

Trước năm 1945, là xã Bảng Trình (cong gọi là Bằng Trình), tổng Thượng Côi, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước năm 1813. Có thời kỳ bị phiêu tán, chỉ còn dòng họ Đỗ với gần 20 khẩu. Thời thuộc Pháp, làng Bảng Trình (được ghi Bằng Trình) phụ thuộc làng Pháp Cổ, vì vậy có câu: “Bao giờ Cam Lộ có đình - Thượng Côi có miếu, Bảng Trình có chuông” - Ý nói muốn trở lại một làng riêng, độc lập.

Đình Bảng Trình thờ thành hoàng tên hiệu Đại Đô Đức Bác (tên húy Chân), không rõ sự tích, được thờ bằng ngai. Trước năm 1938, xã Bảng Trình còn giữ được 2 sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 3 (1911), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 7-1; 6-3; 15-5 (lễ kỳ phúc); 21-8; 4-10 và 23-12; không tế các ngày xuân và thượng hạ điền; kiêng húy chữ “Chân”. Trong tế lễ “…các người dự lễ chỉ phải ăn chay, tắm gội sạch sẽ, không có việc gì phải cử đến giai, gái tân và ông lão có vợ chồng xong (song) toàn cả”.

5. Làng Bính Động (xã Hoa Động):

Trước thế kỷ XX, là xã Bính Động, tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Một số thư tịch cổ ghi Nội Động, nhưng huyện Thủy Đường xưa không có xã này, có lẽ do nhầm chữ “Nội” với chữ “Bính” vì mặt chữ hơi giống nhau. Xã Bính Động có muộn nhất trước thế kỷ XVI. Danh sách làng xã năm 1927 vẫn ghi xã Bính Động trong tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Nghị định ngày 18-11 – 1893 của thống sứ Bắc Kỳ tách các xã Lâm Động, Bính Động, Lỗi Dương và Tả Quan thuộc tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên để lập tổng mới Tú Lâm, sau bỏ.

Làng Bính Động là quê của các nhà khoa bảng: 1- Trần Tông (? - ?) đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1508, làm quan nhà Lê đến chức Phó đô Ngự sử nhập thị Kinh Diên. 2 – Trần Quang Tá (? - ?) (con Trần Tông), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1559, làm quan nhà Lê tới chức Tự khanh (có sách chép: làm quan Thị lang).

Thời Nguyễn đặt đồn phòng thủ ở Bính Động, gọi là đồn Ninh Hải 3 (Ninh Hải đệ tam đồn). Năm 1872, đoàn thám hiểm Pháp do Senez dẫn đầu và thương thuyền của J Dupuis đến Cửa Cấm, đồn này vẫn có quân lính đồn trú.

Đình và miếu Bính Động thờ anh em sinh đôi Hoàng Lôi, Hoàng Chiêu là bạn kết nghĩa của Phạm Tế, người địa phương. Cả ba vị đều có tài, giúp vua Lý Nam Đế dẹp tan giặc Ma Na, đều được ban chức Trung phẩm đại tướng quân. Sau 3 ông mất ở quê, được vua sai lập miếu thờ và phong thần hiệu: Đô nguyên quân Đông Hải đại vương, Chiêu linh ứng đại vương, Hiển ứng đức mậu đại vương. Làng Bính Động sau thờ vị thần thứ tư là Đào Trí, người làng, thời Lê có công trị thủy. Sau khi mất được dân lập đền thờ ở xứ đồng Lăng Hóa và được ban thần hiệu: Quốc Uy dương đông nhạc tá sứ nghĩa công đại vương. Sự tích được khắc vào bia đá hiện để tại chùa Bính Động. Viện Hán Nôm còn giữ được thần tích (Ký hiệu Aea. 12 - 35, Aea. 12 - 36).

6. Làng Cam Lộ (xã Lại Xuân):

Trước năm 1945, là xã Cam Lộ, tổng Thượng Côi, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Làng Cam Lộ mãi đến thế kỷ XIX mới thấy xuất hiện trong “Đồng Khánh dư địa chí”. Làng Cam Lộ thực ra là một làng bị phiêu tán, sau mới tái lập, vì dân số quá ít, đến mức không thể dựng được đình. Đến thời Pháp thuộc, Cam Lộ tự nguyện nhập vào làng Hạ Côi. Vì thế dân gian vùng này có câu: “Bao giờ Cam Lộ có đình - Thượng Côi có miếu, Bảng Trình có chuông” (ý muốn trở lại một làng riêng, độc lập).

7. Làng Cao Kênh (xã Hợp Thành):

Trước thế kỷ XX, là xã Cao Kênh, tổng Thái Lai, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XV. Trước 1813, là xã Cao Kênh, tổng Thái Lai, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương

Quê nhà khoa bảng Bùi Trạch Lân (1468 - ?), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1499;  làm quan nhà Lê tới chức Tham chính.

Đình và miếu Cao Kênh thờ 4 vị thành hoàng: 1- Thịnh Đức, tên húy là Khoan Hòa. 2- Già Lam, thường gọi là Đức Thánh Ông. 3- Đông Cung Nhu Hòa, tên húy Thuần Túy. 4- Quảng Thiện, tên húy Đoan Túc; thường gọi là Đức Thánh Cả. Cả bốn vị đều không rõ sự tích, được thờ bằng long ngai; trừ vị Già Lam được thờ ở miếu, còn lại thờ ở đình. Trước năm 1938, xã Cao Kênh còn giữ được 4 sắc phong đời Khải Định 9 (1924). Hằng năm, tổ chức tế lễ vào Tết Nguyên đán và các ngày: 5-5, 15-5, 15-8;  9 và 10 tháng 11; 30-12; kiêng húy các chữ: “Nam” (có lẽ “Lam”), “Đông Cung”, “Thịnh Đức”, “Khoan Hòa”. Trong tế lễ, ai phạm lỗi phải phạt vạ 10 quả cau và chai rượu, chánh hội có quyền bắt lỗi.

(Còn nữa)

Phố Đinh Nhu ở Hải Phòng

Đinh Nhu (1910 - 1945) là một nhạc sĩ người Việt Nam, tác giả bài Cùng nhau đi Hồng binh, nhạc phẩm được coi là bài hát đầu tiên của tân nhạc cách mạng Việt Nam

alt

Đinh Nhu sinh năm 1910 trong một gia đình nghèo sống bằng nghề bán hoa. Từ khi còn là học sinh tiểu học, trung học ở Hải Phòng, Đinh Nhu đã say mê sân khấu, âm nhạc. Vì hoàn cảnh gia đình nên ông phải xin thôi học và bắt đầu hoạt động cách mạng. Năm 1927 Đinh Nhu tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đến cuối 1929 ông bị Pháp bắt và giam tại Hỏa Lò, Hà Nội, sau đó bị kết án chung thân đày ra Côn Đảo. Thời gian ở trong tù ông dạy hát cho các tù nhân khác và bài Cùng nhau đi Hồng binh ra đời thời kỳ đó, năm 1930. Bài hát này lấy cảm hứng từ những cuộc đấu tranh chống Pháp sôi nổi những năm 1930, đặc biệt là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Cùng nhau đi Hồng binh còn được một số nhà nghiên cứu coi là bài hát đầu tiên của tân nhạc Việt Nam (nếu không tính bài Dạ cổ hoài lang còn mang âm hưởng ngũ cung của nhạc cổ, sáng tác trước đó). Theo Trần Quang Hải, Đinh Nhu viết Cùng nhau đi Hồng binh trong tù vào năm 1930 để kêu gọi dân chúng nổi lên chống Pháp, dựa trên thang âm ngũ cung (Do, Re, Fa, Sol, La, Do). Trước đó, Đinh Nhu có đặt lời Việt cho một vài ca khúc nước ngoài như La Marseillaise (Bài ca kêu gọi vô sản làm cách mạng)La Madelon.

Tại nhà tù Côn Đảo, Đinh Nhu (với số tù 3641) bị giam cùng với những Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Linh... Do khéo tay nên ông được giao nhiệm vụ chép tài liệu, sách báo cách mạng để lưu truyền trong tù, cho những tù nhân khác đọc. Thời gian ở tù đó Đinh Nhu cũng sáng tác một vài ca khúc khác.

Năm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội, đứng ra thành lập chính phủ, đã thi hành một số quyền tự do dân chủ ở thuộc địa, ân xá tù chính trị. Dịp đó, Đinh Nhu được tha trở về Hải Phòng và tiếp tục hoạt động cách mạng. Được một thời gian, ông cùng em trai là Đinh Hoạt lại bị bắt và đưa về giam ở căng Bắc Mê, rồi chuyển đến cảng Nghĩa Lộ.

Nhân sự kiện Nhật đảo chính Pháp đêm 9 tháng 3 năm 1945, những tù nhân trong nhà tù Nghĩa Lộ nổi dậy nhưng bị đàn áp. Một số chết, Đinh Nhu cùng Nguyễn Văn Bẩy, Vi Phùng... bị đem ra xử bắn ngày 17 tháng 3.

Tên của Đinh Nhu được đặt cho một đường phố ở Hải Phòng.

HPH

Phố Nguyễn Khoa Dục

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình với những nhân vật lịch sử như Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Nguyễn Khoa Thuyên, Nguyễn Khoa Minh, Nguyễn Khoa Dục, Nguyễn Khoa Luận… đã có nhiều đóng góp to lớn đối với công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

alt

Theo gương sáng của các bậc tiền nhân, con cháu của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình đều gìn giữ gia phong, quý trọng học thức, văn hóa, có nhiều đóng góp cho gia đình và xã hội. Nhiều người có tên tuổi trong phong trào chấn hưng Phật giáo, có vị là Tế tửu Quốc Tử giám, là nhà thơ tài danh trong các thi xã, họa sĩ vẽ tranh sơn dầu đầu tiên của hội họa hiện đại Việt Nam, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà văn, nhà giáo, thầy thuốc, nhà quân sự, nhà báo, chính khách…Nhiều tên tuổi của dòng họ được đặt làm tên đường phố như Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Thảo Am Nguyễn Khoa Vy, Đạm Phương, Hải Triều… Gia phả dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình ghi rõ: ngôi mộ tổ của dòng họ mà dân làng Trạm Bạc, xã Lê Lợi, huyện An Dương; quen gọi là mộ ông Nghè- chính là thân sinh của cụ Nguyễn Đình Thân, thủy tổ của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình ngày nay. Khuôn viên ngôi mộ tổ của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình có tổng diện tích khoảng 1200m2 với niên đại khoảng gần 500 năm. Đây là ngôi mộ thiên táng, chỉ đắp bồi đất thêm, không cải táng. Ông Nghè- Ngài tị tổ của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình là con dân của làng Trạm Bạc. Ngài thuộc những thế hệ có công khai khẩn, lập nên làng Trạm Bạc ngày nay, cùng dân làng trải qua những năm tháng thăng trầm của lịch sử dưới thời Lê- Mạc.

Đến năm 1852, ông Nguyễn Khoa Dục, người cháu đời thứ 9 trở về làng Trạm Bạc tổ chức xây cất, đặt bia trang trọng để mộ Ngài tị tổ được lưu giữ đến ngày nay. Trong thời gian này, ông Nguyễn Khoa Dục giúp làng Trạm Bạc xây đình làng và quy tụ người dân trở về quê hương. Hằng năm, theo tục lệ, người dân làng Trạm Bạc đều mang kiệu, hương án, cờ lọng ra tận mộ thắp hương, rước Ngài tị tổ vào đình chủ trì tế lễ. Như vậy, ngoài việc ông Nguyễn Khoa Dục được người dân Trạm Bạc thờ làm thành hoàng làng thì Ngài tị tổ cũng được tôn vinh là phúc thần của làng. Mộ Ngài tị tổ không chỉ là công trình tâm linh gắn với 2 chi họ là Nguyễn Khoa ở Huế và Nguyễn Đình ở Hải Phòng mà sự tồn tại của ngôi mộ qua gần 5 thế kỷ được xếp vào loại di tích mộ phần hiếm có ở nước ta… Tuy nhiên, vì sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói riêng, thành phố nói chung, thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình nhất trí di chuyển ngôi mộ tổ nằm trong vị trí dây chuyền sản xuất của Tập đoàn LG thuộc Khu công nghiệp Tràng Duệ, xã Lê Lợi, huyện An Dương về vị trí mới, tạo điện kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án. Nơi yên nghỉ mới của Ngài tị tổ được tọa lạc trong quần thể đình Trạm Bạc giữa cánh đồng làng, được bao bọc bởi một bên là xóm làng trù phú, ấm áp, một bên là dãy núi Voi xanh ngát, hùng vĩ. Tại Hải Phòng, mới đây, HĐND thành phố thống nhất đặt tên một đường phố thuộc quận Hải An là Nguyễn Khoa Dục.

CB (Tổng hợp)

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 2

alt

Trần Phương

2. Làng An Ninh Ngoại (xã An Sơn):

Trước năm 1945 là xã An Ninh Ngoại (thường gọi là An Ngoại), tổng Phù Lưu, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Vốn là xã An Ninh, sau tách thành An Ninh nội, An Ninh ngoại.

Đình An Ninh Ngoại thờ 3 vị thành hoàng: 1- Cao Sơn Viên Nha đại vương, tên húy Đại, sinh ngày 15-1, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, xã An Ninh Ngoại còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 5 sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (lễ kỳ phúc); 1-5; kiêng húy chữ “Đại”. 2- Côi Kỳ Dương Đình đại vương (chữ “Côi Kỳ” có sách chép là “Khôi Kỳ”), tên húy Hoằng, sinh ngày 19-2, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. 3 - Hồng Tế cư sĩ, tên húy Hồng, có công giúp thần Côi Kỳ đánh giặc. Trước năm 1938, xã An Ninh Ngoại còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 3 sắc phong thuộc các đời: Thành Thái I (1889), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (ngày sinh, cũng làm lễ kỳ phúc), 20-8; kiêng húy chữ “Hoằng”. Trước năm 1938, những người dự tế gồm “kỳ lão, hương lý tân cựu”. “Phần việc thì tùy theo mỗi khi ai không trở bụi gì thì dân cử chứ không nhất định gì”. Trước ngày lễ và trong ngày hành lễ, “những người được dự tế lễ phải tắm gội và ăn chay”.

3. Làng An Ninh Nội (xã An Sơn):

Trước năm 1945, là xã An Ninh Nội (thường gọi là An Nội), tổng Phù Lưu, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Thôn An Ninh Nội ngày nay gồm cả thôn Phù Lưu Ngoại cũ.

Đình An Ninh Nội thờ 2 vị thành hoàng: 1- Cao Sơn Viên Nha đại vương, tên húy Đại, sinh ngày 15-1, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, xã An Ninh Nội còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 5 sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (lễ kỳ phúc); 1-5; kiêng húy chữ “Đại”. 2- Côi Kỳ Dương Đình đại vương (chữ “Côi Kỳ” có sách chép là “Khôi Kỳ”), tên húy Hoằng, sinh ngày 19-2, hóa và hiển thánh ngày 20-8, đời Hùng Vương thứ 18; được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, xã An Ninh Nội còn giữ được sách ghi chép sự tích vị thần này và 3 sắc phong thuộc các đời: Thành Thái I (1889), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 19-2 (ngày sinh, cũng làm lễ kỳ phúc), 20-8; kiêng húy chữ “Hoằng”. Làng còn lập miếu thờ anh em Vũ Hồng và Vũ Thị Lê Hoa có công giúp Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân. Trước năm 1938, những người dự tế gồm “kỳ lão, hương lý tân cựu”. “Phần việc thì tùy theo mỗi khi ai không trở bụi gì thì dân cử chứ không nhất định gì”. Trước ngày lễ và trong ngày hành lễ, “những người được dự tế lễ phải tắm gội và ăn chay”.

Làng An Ninh Nội có chùa Long Tiên, xưa lợp bằng rạ nên dân chúng quen gọi là chùa Rạ.

(Còn tiếp)

Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 1

alt

Trần Phương

Là một địa bàn chiến lược chịu rất tác động của nhiều biến cố lịch sử diễn ra trong suốt nhiều thế kỷ đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các làng xã huyện Thủy Nguyên. Tính biến động của làng xã thể hiện rõ ở sự tăng, giảm, tách ra hay mất đi của một số làng nào đó mà nguyên nhân chủ yếu là do các điều kiện lịch sử, xã hội, thậm chí do mâu thuẫn trong nội bộ các làng xã. Đến đời Đồng Khánh, tên xã Gia Đước vẫn được liệt kê trong danh sách làng xã thuộc tổng Dưỡng Động, nhưng không hiểu vì lý do gì, ngay sau đó dân làng đã phiêu bạt mà không thấy sách nào chép tới. Làng Hữu Quan được tách ra từ làng gốc Tả Quan, làng Giáp Động tách ra từ làng gốc Phương Lăng; làng Câu Tử vốn có nguồn gốc là trang Hùng Khê thời Trần, sau tách thành Câu Tử Nội và Câu Tử Ngoại,. Tương tự, làng Niêm Sơn (tên nôm là làng Nóm) tách thành Niêm Sơn Nội và Niêm Sơn Ngoại. Làng Phù Lưu tách thành Phù Lưu Nội và Phù Lưu Ngoại; làng An Ninh tách thành An Ninh Nội và An Ninh Ngoại…Sách “Tên làng xã Việt Nam” chép ở tổng Thủy Đường có xã Nam Triệu, song trên thực tế, đến đời Đồng Khánh, làng đã bị phiêu tán hết, chỉ còn lại một cái miếu giữa đồng gọi là miếu Nam Triệu. Trong trường tồn lịch sử, có nhiều tên thôn, tên làng xã bị phiêu tán, thay đổi do thiên tai, nhân họa, chiến tranh hoặc do nguyên nhân xã hội nào đó.

Xét về hình thức, làng là một điểm tụ cư, nhưng thực chất nó là một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp. Xét về cội nguồn, làng là sự phát triển mở rộng của một gia đình lớn, của gia tộc từ thuở khởi đầu. Hầu như làng nào ở Thủy Nguyên cũng đều có một đến vài dòng họ gốc, họ lớn nhất, rồi từ đó tiếp nhận thêm các dòng họ mới bằng nhiều quan hệ khác nhau. Cùng với quá trình tăng trưởng dân số, xáo trộn dân cư, quan hệ hôn nhân, các làng từ quan hệ thân tộc trở thành quan hệ láng giềng là chính. Mỗi làng ở Thủy Nguyên là một thiết chế tự quản thông qua việc tự quản bằng cơ cấu tổ chức, tự quản bằng các quan hệ xã hội và hương ước. Tự quản bằng cơ cấu tổ chức thể hiện ở chỗ mỗi làng là một phức hợp dựa theo 5 hình thức tập hợp: gia đình và dòng họ, xóm ngõ, giáp, bộ máy chính trị - xã hội làng xã, các phường hội. Mỗi làng có bản hương ước riêng, làm công cụ để quản lý đời sống cộng đồng. Hương ước vốn là những quy ước truyền miệng, nhiều khía cạnh đã dần trở thành phong tục của làng về mặt đời sống và dần được văn bản hóa. Mỗi làng có tục lệ riêng về cưới xin (thể hiện ở việc nộp cheo), về tang ma (thể hiện ở lệ táng), về ngôi thứ, khao vọng…, trở thành những nét riêng của làng, để phân biệt với làng bên cạnh. Làng xã Việt Nam như một thứ vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương ước) và tiểu triều đình (trong đó có hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp; nhiều làng tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ)”. Tín ngưỡng thờ thành hoàng là một trong những yếu tố tạo cho mỗi làng diện mạo văn hóa riêng. Nguồn gốc các vị thành hoàng ở Thủy Nguyên rất đa dạng: Thiên thần (thần ở trên trời xuống), nhiên thần (thổ thần, sơn thần, thủy thần), nhân thần (những người có công với nước, người khai lập làng (tiên công), người truyền nghề thủ công cho dân làng…). Thành hoàng là vị thần bảo vệ, che chở cho cộng đồng làng xã. Do vậy trách nhiệm thờ cúng, tham gia đóng góp xây dựng đình, đền, miếu thờ thành hoàng và tổ chức lễ hội là đương nhiên, bắt buộc với mọi người. Dưới đây là lược khảo về các làng xã của huyện Thủy Nguyên.

1. Làng An Lư (xã An Lư):

Làng An Lư (tên nôm là làng Sưa (Xưa)), một số thư tịch ghi làng An Các (Yên Các), nhưng trong huyện Thủy Nguyên (Thủy Đường cũ) không có làng An Các, có thể do lầm chữ “Các” và chữ “Lư” vì mặt chữ hơi giống nhau; có sách ghi thôn An Lư là thôn Bình Lư, nhưng huyện Thủy Đường không có thôn Bình Lư.

Trước năm 1945, là xã An Lư, tổng Thuỷ Tú, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước 1813, là xã An Lư, tổng Thủy Đường, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Dân An Lư vốn là dân Nghĩa Phú, xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương di cư đến. Địa bàn xã An Lư ngày nay tương ứng với một phần xã Nam Triệu thời cổ. Theo sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí”, trên địa bàn huyện Thủy Đường, có một con sông nhỏ từ xã Hà Tây chia nhánh chảy về phía nam qua xã An Lư đến xã Tả Quan, dài 14 dặm, 11 trượng, 5 thước. Cầu Sưa do bà Mai Thị Tuyết vận động dân đóng góp xây dựng để quân đội nhà Trần qua sông đánh giặc trong trận Bạch Đằng năm 1288.

An Lư là quê hương của các nhà khoa bảng: 1- Vũ Trực Hành (1467 - ?), đỗ Đồng tiến sĩ năm 1493, làm quan nhà Lê đến chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên. 2- Nguyễn Huân (1479 - ?), đỗ Đồng tiến sĩ năm 1505, làm quan nhà Lê đến chức Giám sát ngự sử. 3- Nguyễn Đạc (? - ?) (con Nguyễn Huân), đỗ Đồng tiến sĩ năm 1538, làm quan nhà Mạc đến chức Giám sát ngự sử.

Đền An Lư (di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng quốc gia) và miếu An Lư thờ ba vị thành hoàng: 1- Nguyễn Hoằng (tên húy là Nguyễn Tĩnh - nhà dược học nổi tiếng Tuệ Tĩnh). Ông sinh ngày 12-2, hóa ngày 11-9. Trước năm 1938, làng An Lư còn giữ được một số sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 6 (1853), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924); ngày tế lễ hàng năm:12-2; 11-9 và 11-11; ngày 1-6 làm lễ hạ điền, 1-7 làm lễ thượng điền; kiêng húy chữ “Tĩnh”. 2- Trần Quốc Tảng (con thứ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), sinh ngày 12-10, hóa ngày 3-8, có công đánh giặc Nguyên trên sông Bạch Đằng, được thờ bằng long ngai. Trước năm 1938 làng còn giữ được sắc phong đời Khải Định 9 (1924); ngày tế lễ hàng năm: 12-10 (ngày sinh), 3-8 (ngày hóa); các ngày: 1-6 làm lễ hạ điền; 1-7 làm lễ thượng điền; kiêng húy chữ “Tảng” (đọc là “Tưởng”). 3- Đông Hải đại vương Đoàn Thượng, được thờ bằng long ngai. Trước năm 1938, còn giữ được 2 sắc phong đời Khải Định 3 (1918) và 9 (1924); ngày tế lễ hàng năm: 1-6 (lễ hạ điền), 1-7 (lễ thượng điền), 10-8. Khác với nhiều làng trong vùng, khi tế xong, “các đồ lễ đem phân phát cho các tân cựu lý dịch hưởng”.

Tấm bia “Trần triều hiển thánh” ở đền An Lư khắc ghi tên người, tên làng xã có công trong trận Bạch Đằng năm 1288. Hằng năm, hội đền An Lư diễn ra vào ngày 11-11; trong hội có nhiều trò vui dân gian như: đu tiên, hát đúm, chọi gà, cờ tướng…Trước thế kỷ XIX, văn miếu huyện Thủy Đường đặt ở xã An Lư; mùa xuân và mùa thu, hàng huyện hội tế.

(còn tiếp)

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay151
mod_vvisit_counterHôm qua125
mod_vvisit_counterTất cả48512
Hiện có 33 khách Trực tuyến