Dấu tích Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng.

alt

Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử (Ảnh sưu tầm)

1) Đền thờ Trần Nhân Tông: ở làng Diên Lão, nay thuộc xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng, ngoại thành Hải Phòng:

Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương Toàn hạt dư địa chí, mục “từ miếu huyện Tiên Minh” chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua, đến tu ở chùa Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước, Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là Diên Lão; lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lạ thì rước về thờ sẽ được che chở. Ngày Điều Ngự giác Hoàng nhập niết bàn trên núi Yên Tử, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông), rất linh ứng. Hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”…: “Nhân Tông sau khi thoái vị về trụ trì chùa Yên Tử, một hôm đến phủ Thiên Trường qua làng Diên Lão, già làng kính cẩn nghinh đón, Nhân Tông hài lòng vì làng biết lễ nghi nên ban tên là Diên Lão, lại dặn bao giờ trên sông có vật lạ thì rước về thời ác được phù hộ. sau này Nhân Tông đã nằm trên phiến đá ở núi Yên Tử thiêu hóa, các già làng Diên Lão thấy có một viên đá trôi ngược dòng sông, nhớ đến lời dặn của Nhân Tông bèn rước về thờ, rất linh ứng. Viên đá này còn ở trong đền.”

Trong thời Pháp tạm chiếm, có một viên tề là giáo dân vào đền xâm phạm tượng, nói nhiều lời vô lễ. Ít ngày sau, tên Tề ác này dẫm phải mìn chết tan xác. Đền đã được UBND Tp. Hải Phòng xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.

2) Bến đò “sáu mươi”: ở xã Nghi Dương, nay thuộc xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng:

Theo truyền ngôn nguồn gốc của tên bến đò này, vì có lần Trúc Lâm Đại Đầu Đà từ Thiên Trường qua bến đò thăm chị gái là công chúa Thiên Thụy tu ở chùa Nghi Dương. Lúc ấy trời đã xẫm tối, viên xã quan đi kiểm tra đếm canh, hắn thấy nhà sư gầy gò, túi vải vát vai, chống gậy dò đường lên bến. Viên xã quan đã ngà ngà sai rượu, đã hách dịch hỏi giấy tờ tùy thân, Ngài từ tốn đáp không mang theo, thế là tên này túm lấy Ngài đấm 60 đấm. Vừa may gia nhân công chúa Thiên Thụy thấy thế quát to “Thượng Hoàng đấy, sao dám hỗn”. viên xã quan sợ hết hồn, quỳ rạp xuống xin xá tội. Ngài ôn tồn bảo tên xã quan chừa tính hóng hách rượu chè, và quay lại nói với giai nhân công chúa : “ đây là nghiệp chướng của ta”. Nhân đó ban tên bến đò này là “bến đò 60”. Dân thường gọi tắt là bến đò “sáu”.

((1), (2): Trích “Những di tích lịch sử văn hóa liên quan đến Điều ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất Tổ”/Văn Hà, Lợi Hội//Báo ĐT “Giác ngộ”- cơ quan ngôn luận của Giáo hội Phật giáo VN. – ngày 27/2/2010)

3) Cuối đường Bến Vua thị trấn Tiên Lãng hiện nay có ngôi miếu cổ của xã Phú Kê huyện Tiên Lãng thờ Bốn vị Thánh vương. Tại đó:

Sáng 15 -2 - 2014, tại miếu Bến Vua, UBND huyện Tiên Lãng TP Hải Phòng tổ chức hội thảo khoa học “Phát huy di sản dân tộc Phật hoàng Trần Nhân Tông tại huyện Tiên Lãng”, với sự tham gia của các nhà khoa học thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, đại diện các cơ quan, ban ngành thành phố và huyện Tiên Lãng.

Các đại biểu tập trung làm sáng tỏ địa danh Bến Vua (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) - nơi duy nhất trên vùng địa bàn nay là Hải Phòng từng được hoàng đế Trần Nhân Tông lui tới, họp tướng sĩ bàn bạc, ra các quyết sách quan trọng có ảnh hưởng tới thắng lợi của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ 2 (năm 1288)

(Nơi duy nhất tại Hải Phòng từng đón Phật hoàng Trần Nhân Tông//Báo ĐT “Van hien.Vn” (thuộc Hội Khoa học LS Việt Nam). – ngày 16/2/2014)

4) Trần Nhân Tông có đầu hàng giặc hay không:

“Ngày 1 tháng 3, năm Ất Dậu (1285), giặc Nguyên đuổi theo rất gắt hai vua (Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng Đế Nhân Tông) phải bỏ thuyền, xử dụng đường trên bộ đi đến Thủy-Chú (không rõ nơi nào ngày nay), sau đó lấy thuyền ra cửa Nam-Triệu, vượt biển Đại-Bàng (thuộc địa phận xã Đại-Bàng, huyện Nghi- Dương, tỉnh Hải-Dương) đi vào Thanh-Hóa. Quân đội Đại Việt đang rơi vào thế tam đầu thọ địch đúng như kế hoạch của kẻ địch dự trù là các cánh quân của Thoát Hoan từ Thăng Long tiến về phối hợp với các cánh quân của tướng Hữu thừa Khoan Triệt, Vạn Hộ Mông Cổ Đãi và Bột La Hợp Đát Nhi dẫn quân bằng đ ường bộ và Lý tả thừa Ô Mã Nhi Bạt Đô (sau khi chiếm xong bãi Tha-Mạc) bằng đường thủy; cánh quân của Toa Đô giải quyết xon g chiến trường Thanh, Nghệ cũng thẳng đường tiến tới Thiên Trường. Để giải tỏa thế gọng kềm này ta phải giải quyết ra sao? Từ Thiên Trường một cánh quân của ta rút về các lộ vùng đông bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh) để dụ địch rượt theo rồi chờ cho Toa Đô dẫn quân ra khỏi Thanh Hóa thì ta mới vượt biển Đại-Bàng như đã nói ở trên để vào chiếm lại Thanh Hóa làm căn cứ đóng quân. Toa Đô vừa phải vất vả ngược xuôi để rượt đuổi quân ta, rốt cuộc cũng chẳng được gì lại mất đi cứ điểm vừa mới chiếm. Cương Mục Chính Biên quyển VII có đoạn viết: «Lúc ấy quân Nguyên đuổi theo riết, nhà vua phải mời thượng hoàng cùng ngự một chiếc thuyền con, chạy ra nguồn Tam Trĩ, một mặt khác, sai người kéo thuyền của vua vẫn ngự đi ra ngả núi Ngọc Sơn, để đánh lừa quân Nguyên. Tướng Nguyên do thám biết được mưu ấy, mới sai Hữu thừa là Khoan Triệt, Tả thừa là Lý Hằng chia đường đuổi theo. Nhà vua phải đổi đi đường bộ đến xã Thủy-Chú, rồi lại đi thuyền đến sông Nam-Triệu, qua cửa biển Đại- Bàng vào Thanh Hóa».

Ngày 9 tháng 3 năm Ất Dậu (1285), hai vua bị tướng Nguyên là Giảo-Kỳ và Đường-Cổ-Đới đem chu-sư (hải quân) ra biển vây và suýt bắt được các ngài. May thay nhờ tướng Nguyễn Cường tận lực hộ giá mới có thể rút ra được về phía nguồn Tam-Trĩ, đồng thời giả đưa thuyền rồng đi miền Ngọc-Sơn (miền biển Thanh Hóa) để đánh lừa giặc. Quân thù tưởng là thyền hai vua, chúng đón bắt và tịch thu rất nhiều vàng bạc cũng như nam nữ của ta. Ở đoạn này ta thấy rằng sau khi quân Đại Việt rút khỏi kinh thành Thăng Long rồi liên tiếp xảy ra các trận đánh Tha Mạc, Bình Than, A Lỗ, Đại Hoàng, Thanh Hóa thì hai vua và quân đội Đại Việt gần như rơi vào thế bị động phải liên tục di chuyển để tránh né sự truy đuổi của quân Nguyên theo Cương Mục ghi «nhà vua phải chạy loạn long đong»; Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: «Nhân Tông kinh hãi, Thượng hoàng đêm ngày lo sợ»; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: «Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên…xa giá nhà vua phiêu bạt».

Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: «Nhân Tông kinh hãi, Thượng hoàng đêm ngày lo sợ»; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: «Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên...xa giá nhà vua phiêu bạt». Các vị sử gia nói trên phê phán một vị đại anh hùng như Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như vậy thì hơi vội vàng và thiếu khách quan. Hãy xem tình hình quân thù ra sao, theo Nguyên Sử 13 tờ 8b8-10 ghi: «Tháng 3 ngày Bính Tý Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh xin thêm quân. Lúc bấy giờ Trần Nhật Huyên (Trần Nhân Tông) trốn về hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, binh lực lại tập hợp. Hưng Đạo Vương đem hơn ngàn chiến thuyền về nhóm Vạn-Kiếp, còn Nguyễn Lộc thì ở Vĩnh Bình, mà quan quân đi xa lại đánh lâu, treo lơ lửng ở giữa. Quân của Toa Đô và Đường Cổ Đãi lại đến không đúng lúc, nên xin thêm quân. Vua cho đi đưòng thủy là nguy hiểm, ra lệnh cho quân tăng viện đi theo đường bộ» - Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh Thát Việt dịch. Như vậy thì quá rõ ràng, theo Nguyên Sử thì quân Mông-cổ cũng đang rơi vào thế bị động. Thế bị động đó là chúng phải đối phó với nghĩa quân của ta quấy rối trong  hậu phương của địch. Bằng chứng là  phản thần Trần-Kiện trên đường về chầu Hốt-Tất-Liệt lại được quân ta cho đi chầu âm phủ; để đối phó với những hoạt động tiêu thổ kháng chiến của quân ta, chúng bắt buộc phải xin thêm quân xây dựng thêm nhiều đồn bót để gia tăng phòng thủ cũng như kiểm soát những vùng đã chiếm được. Nếu thật sự kẻ thù có khả năng làm cho quân ta lúng túng, bị động thì cần gì phải xin thêm viện binh như thế? Sau khi hóa giải thế gọng kềm mà chúng muốn tạo ra để vây hãm quân ta  phải quy phục, thì nay chính đoàn quân xâm lược lại bị rơi vào thế trận mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo Vương đã sắp xếp sau cuộc họp ở Hải-Đông. Đó là rút lui, phòng thủ và phản công chiến lược. Hiện tại ta ở giai đoạn nhì là phòng thủ chiến lược để chuẩn bị bước qua giai đoạn ba là phản công chiến lược. Chưa hết, tại chiến trường Thanh Hóa quân Mông-cổ đã gặp sức phản kháng rất quyết liệt của quân dân ta. Ngày 9 tháng 3 năm 1285, tướng Nguyên  là  Giảo Kỳ kéo quân đến Bố Vệ (thuộc Cần Bố, Thanh Hóa). Người dân trong vùng nổi lên đánh địch, trong đó có dân chúng Hương Yên Duyên (xã Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự chỉ huy của ông Lê Mạnh tước là Đại Toát đã chống cự quyết liệt khiến chúng không biết đường chống đỡ, rút lui cũng không được tiến tới cũng chẳng xong, cuối cùng vì quân ta có có kẻ phản bội nên giặc Nguyên mới thoát được và chúng còn đốt phá nhà cửa của ông. Sự kiện này không thấy ghi trong sử nhưng nhờ công đức xây chùa nên bia chùa Hưng Phúc ghi lại rằng: «Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào hương này. Ông đem người trong hương chận giặc ở bến Cổ Bút. Hai bên đánh nhau giặc cơ hồ không rút chạy được. Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của ông bị đốt phá» (Thơ văn Lý Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập II quyển thượng trang 648). Trong lúc này Hưng Đạo Vương được lịnh đem hơn 1000 chiến thuyền về Vạn-Kiếp là nơi trước đây đã rút lui, còn tướng Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình tạo thế gọng kềm đối với quân thù. Vì thế cả ba cánh quân của chúng do Thoát Hoan, Ô Mã Nhi và Toa Đô đều nằm ở giữa vòng vây mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo Vương dầy công sắp xếp kể từ sau trận Nội-Bàng và Chi-Lăng. Với tài dụng binh như thần của Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như thế, quân đội Đại Việt đang ở thế bị bao vây cả ba hướng, thế mà quân ta đã lật ngược được thế cờ trong những lúc nguy cấp nhất, khiến kẻ thù rơi vào giữa vòng vây của quân ta, như Nguyên sử nói «quan quân đi xa đánh lâu, lại treo lơ lửng ở giữa».

(Trần Nhân Tông có đầu hàng giặc hay không?/Từ điển Lịch sử quân sự Việt Nam online//nonghoc.com (thuộc trường ĐH nông- lâm Tp. Hồ Chí Minh)

5. Dấu thiêng của Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng:

Đức vua Trần Nhân Tông tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), năm hai vua Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan quân xâm lược Thát Đát lần thứ nhất tại Đông Bộ Đầu. Ngài là con trưởng của Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), Ngài lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284), Trùng Hưng (1285-1293). Năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái Thượng hoàng, nhưng vẫn chỉ đạo và giám sát vua Anh Tông.

Vốn sùng kính đạo Phật từ nhỏ, năm 1295, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư - Ninh Bình), tập sự xuất gia với Quốc sư Huệ Tuệ. Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), 41 tuổi, Ngài vào núi Yên Tử, chính thức tu hạnh Đầu Đà, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Do uy tín, đức độ, trí tuệ của Trúc Lâm Tam Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã quy tụ được các tông phái Phật giáo của Đại Việt thành một tổ chức Phật giáo thống nhất.

Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông chọn vùng non thiêng Yên Tử để tập hợp tín đồ để truyền bá giáo lý Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng với tinh thần “Cư trần lạc đạo” của mình, không phải là một sự lựa chọn ngẫu nhiên. Khi còn là Tổng chỉ huy và đích thân xông pha trận mạc chống giặc Nguyên Mông xâm lược, Trần Nhân Tông và quân đội nhà Trần đã nhiều lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân, tăng ni, Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển Bạch Đằng.

Giữa lúc nguy khốn nhất, bị giặc bao vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trần Lại - người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo; dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người bí mật đưa Vua và Thượng Hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phản công chiến lược.

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các vị sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ tự), chùa Vẽ (Hoa Linh tự) ở làng Đoạn Xá phục vụ. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sĩ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288.

Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở huyện Thái Thụy - tức cung điện dã ngoại (gọi là cung Trần Vương) của vua Trần Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hóa, đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo.

Đề cập đến động cơ tu hành của Điều Ngự Giác Hoàng - Đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông không thể không nhắc đến vai trò và ảnh hưởng to lớn của Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, đạo hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ. Sách Tam tổ thực lục chép rằng: “Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung thượng sĩ, thu lượm được nhiều tinh hoa của đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung là thầy”.

Tuệ Trung thượng sĩ Trần Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu (mẹ của Trần Nhân Tông). Trần Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã nhiều lần làm sứ giả đến trại giặc để nghị hòa và thám thính ở Tổng hành dinh Thoát Hoan.

Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ trương “toàn dân vi binh, tông tử duy thành” (toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong những chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là phong cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên dậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên - Mông (từng được cử làm Phó Tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo đảm trách) nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung được vua Trần giao trấn giữ miền biên tái Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Ở làng Dưỡng Chính, xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, các nhà sử học đã phát hiện thấy dấu vết Tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung.

Do ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm và uy tín cũng như đạo hạnh của Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, đạo Phật thời Trần ở vùng đất Hải Phòng phát triển rất thịnh đạt. Đương thời, vùng này xuất hiện nhiều chùa, tháp với quy mô lớn như: chùa Đông Khê (Nguyệt Quang tự), chùa Dư Hàng (Phúc Lâm tự), chùa Thường Sơn (Hàm Long tự), chùa Phù Lưu (Thiên Vũ tự), chùa Mỹ Cụ (Linh Sơn tự), chùa Vẽ (Hoa Linh tự), chùa Núi Voi (Long Hoa tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bản…

Đáng chú ý là công chúa Thiên Thuỵ - chị gái vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang, đắp đê ngăn mặn, mở mang nhiều làng xã ở huyện Kiến Thuỵ và An Lão. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (công chúa Quỳnh Trân) cho dựng chùa Mõ ở trang Nghi Dương (xã Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ). Một người chị khác của Trần Nhân Tông là công chúa Chiêu Chinh đã bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, mở chợ Bến Đò, khai hoang đất ở ven sông Lạch Tray (quận Kiến An) và tu sửa chùa Long Hoa ở núi Voi...

Theo ngọc phả đền Kha Lâm, công chúa Chiêu Hoa (con gái trong dân gian của vua Trần Thánh Tông) cùng chồng là Thái Học Sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến An) dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn (Kiến An), làng Tiểu Trà (Kiến Thụy) mở mang làng xóm, dựng chùa thờ Phật. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương Toàn hạt dư địa chí, mục từ miếu huyện Tiên Minh chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua, đến tu ở chùa Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước, Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là Diên Lão; lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lạ thì rước về thờ sẽ được che chở. Ngày Điều Ngự giác Hoàng nhập niết bàn trên núi Yên Tử, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông), rất linh ứng. Hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”…

(Dấu thiêng của Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng//Cổng thông tin điện tử Tp. Hải Phòng. – ngày 14/11/2016)

Phạm Văn Thi (Hội KHLS Hải Phòng) sưu tầm.

Trao đổi tìm hiểu về Chùa Liên Hoa ở quận Kiến An, TP Hải Phòng

Chùa Liên Hoa có địa chỉ tại phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, TP Hải Phòng. Đường vào Chùa Liên Hoa có hai lối; Lối thứ nhất đi từ đường Trần Thành Ngọ; Lối thứ hai đi từ đường Cổng Rồng.

0c55

Chùa Liên Hoa lúc đầu chỉ là một am nhỏ. Trải qua bao thăng trầm và biến đổi của thời cuộc, các sư trong chùa không ngừng tu tập, làm kinh tế, để có nguồn kinh phí hoạt động trong các phong trào từ thiện và tích lũy để sửa sang lại chùa, tạo một bến đỗ tâm linh thật uy nghi, yên bình cho Phật tử cũng như những người có tâm hướng thiện.

0c56

Theo thời gian chùa từng được trùng tu, sửa chữa. Hiện, chùa đang xây mới ngôi Tam Bảo với kinh phí từ sự đóng góp của đông đảo tín đồ Phật tử, những nhà hảo tâm gần xa trong và ngoài nước, đáp ứng cho các hoạt động truyền thống hằng năm của chùa: Lễ Phật đản, lễ hội Hoa đăng, đại lễ Vu lan, Nguyên tiêu...

0c58

Chùa Liên Hoa với lối kiến trúc thuyền lâm Phật giáo, thể hiện sự khoan dung, độ lượng, luôn sẵn lòng cứu giúp chúng sinh.

MT

Ngôi đình cổ giữa làng trồng hoa truyền thống thành phố Hải Phòng

Nói về làng hoa ở thành phố Hải Phòng không ai không biết tới làng Lũng Bắc. Lũng Bắc là làng cổ dưới triều Nguyễn thuộc tổng Lương Xâm, huyện An Dương, tỉnh Hải Dương. Làng Lũng Bắc nổi tiếng là vùng đất trồng hoa của thành phố Hải Phòng. Lũng Bắc ngày nay là một tổ dân phố thuộc phường Đằng Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Giữa trung tâm khu phố Lũng Bắc sầm uất, bên cạnh địa điểm chợ hoa truyền thống nhộn nhịp của thành phố Hải Phòng, một ngôi đình cổ còn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

alt

Ngôi đình mang tên làng xã xưa nơi sản sinh ra nó, đình Lũng Bắc, ngoài ra đình có tên chữ “Thọ Xương”, theo nghĩa Hán tự và được hiểu rộng ra ngôi đình biểu tượng cho sự thịnh vượng, phát đạt trường tồn của dân làng Lũng Bắc. Đình Lũng Bắc được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 2001. Đình lũng Bắc thờ Thành hoàng, đức Ngô Vương Quyền, ông là bậc đại anh hùng dân tộc. Cuối mùa đông năm 938 chỉ trong thời gian nửa ngày, ông đã chỉ huy quân dân đánh tan 20 vạn quân Nam Hán do Thái tử Hoằng Tháo chỉ huy vào sông Bạch Đằng xâm lược nước ta. Vua Nam Hán là Lưu Cung chỉ huy quân chi viện, nghe tin quân bị diệt, con bị giết rất hoảng sợ vội rút quân về nước. Chiến thắng trên đã chấm dứt hàng ngàn năm dân tộc ta bị Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài cho đất nước. Với chiến công Bạch Đằng, Ngô Quyền trở thành ông tổ trung hưng của nền độc lập dân tộc. Xét về công lao, thành tích, nhân tài, vật lực giúp Ngô Quyền trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của nhân dân huyện An Dương, vua Triều Nguyễn, niên hiệu Tự Đức thứ sáu (1853) đã sắc phong ban cho 6 tổng, 17 làng, xã thuộc vùng phía Đông huyện An Dương thờ Ngô Vương Quyền làm Thành hoàng, đình Lũng Bắc nằm trong số những làng trên. Đình Lũng Bắc phối thờ hai vị danh tướng Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận. Hai ông là tráng sĩ người làng Gia Viên ( có tên Nôm làng Cấm), huyện An Dương, rất thạo nghề sông nước và có tài bắn cung nỏ đã có nhiều công lao giúp Ngô Quyền trong trận chiến trên sông Bạch Đằng. Chính vì vậy hai ông được Ngô Quyền tin yêu, coi như gia thần, thủ túc. Đặc biệt đình Lũng Bắc có ban thờ Vũ Quận Quyến Hoa Công Chúa. Bà họ Vũ, tên Quyến Hoa, quê làng Gia Viên, trong trận đại chiến đánh giặc xâm lược trên sông Bach Đằng năm 938, với phương châm huy động tối đa lực lượng hậu cần tại chỗ, bà được Ngô Quyền giao cho nhiệm vụ đặc biệt phụ trách toàn bộ việc quân lương. Với tinh thần trách nhiệm cao, tài năng, đức lớn bà Vũ Quận đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đất nước thanh bình, sau khi lên ngôi vua, định đô ở thành Cổ Loa, xét thưởng công lao cho các tướng sĩ, vua Ngô Quyền đã ban phong tước cho bà là “ Quận Chúa”. Sau này khi hóa bà đã hiển thánh trở thành Phúc thần của làng Gia Viên. Nhiều địa phương của thành phố Hải phòng có đền, miếu phụng thờ bà. Thường ở tất cả những nơi thờ Ngô Quyền đều có phối thờ Chúa Bà. Tại Gia Viên còn lưu giữ được một số đạo sắc của vua triều Nguyễn ban phong cho bà. Niên hiệu Bảo Đại thứ 8, bà được ban phong phẩm trật thần bậc cao nhất “ Thượng đẳng thần”. Trong tín ngưỡng dân gian, người dân tôn vinh bà là “Bà Chúa Nam Phương”. Vì dân gian giải thích rằng đức ông Ngô Quyền là vua trị vì nước phương Nam, thì tất phải có Chúa Bà giúp vua, yên dân dưới trời phương Nam. Nhân dân có khi gọi bà là “Bà Chúa Năm Phương”, hay “Chúa Bà Năm Phương” bởi tránh từ húy Nam thành Năm

Đình Lũng Bắc nằm trên khuôn viên đất rộng, thoáng mát, nhìn ra mặt phố lớn, phía trước trên sân đình có hai cây bàng cổ thụ. Theo các cụ cao niên của làng Lũng Bắc, hai cây bàng được trồng từ khi xây dựng ngôi đình, như vậy cây đã có tuổi đời khoảng 300 năm. Hai cây đại thụ có vóc dáng cao to, hùng vĩ như hai vị thần mộc đứng canh giữ, bảo vệ ngày đêm cho nơi linh thiêng phụng thờ bậc Anh hùng, Thiên Tử. Tán cây bàng xanh tốt, tỏa bóng mát rợp cả sân đình che cho người dân, quý khách về hành hương tham quan, chiêm bái ngôi đình cổ. Hai cây bàng đã được vinh danh là “ Cây di sản Việt Nam”. Đình Lũng Bắc hướng Nam, hướng đắc địa như cổ nhân thường nói: “ Thánh diện Nam nhi thính tri thiên hạ”, nghĩa là bậc thánh ngự nhìn về hướng Nam để nghe được sự tâu bày của người dân trong thiên hạ. Đình Lũng Bắc được khởi dựng vaò thời Hậu Lê thế kỷ 18, hiện nay những lạc khoản thời gian trùng tu, tôn tạo đình vẫn còn được tiền nhân khắc ghi trên thượng lương và câu đầu của kiến trúc đình như: câu đầu tòa tiền tế ghi năm Gíap Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894), câu đầu tòa trung đường ghi năm Gíap Tí, niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924), năm Gíap Tuất niên hiệu Bảo Đại thứ 9 (1934) và đợt trùng tu đình gần đây nhất vào năm 2013 được ghi trên câu đầu gian hậu cung. Tuy qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, song kiến trúc của đình Lũng Bắc vẫn được bảo tồn còn khá nguyên vẹn, vẫn giữ được ngôi đình mang dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn nửa cuối thế kỷ 19. Đình Lũng Bắc mặt bằng kiến trúc kiểu tiền nhất hậu đinh, lăm gian tiền tế, ba gian trung đường và hai gian hậu cung, trong đó có một gian cung cấm. Đình làm hoàn toàn bằng vật liệu thiên nhiên truyền thống, mái chéo đao tầu góc, lợp ngói mũi hài. Di tích bảo lưu được ba đạo sắc của vua triều Nguyễn, niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897), niên hiệu vua Duy thứ 3 (1909), niên hiệu vua Khải Định thứ 9 (1924), phong cho Đức Ngô Quyền là “Ngô Vương Thiên tử Thượng đẳng thần”, Thành hoàng làng Lũng Bắc. Đình Lũng Bắc được bài trí đầy đủ những nghi trượng, nghi vật, đồ thờ tự, tế khí có giá trị lịch sử và mỹ thuật cao, như câu đối, cửa võng, đại tự, nhang án, long ngai, bài vị...Đặc biệt trong cung cấm đình, nơi thâm nghiêm nhất, dưới thánh tượng có ba di vật rất có giá trị và ý nghĩa, được xem như bảo vật linh thiêng của ngôi đình đó là: Buồng cau lớn sai quả, tươi tốt, hình ảnh nhắc nhớ về câu chuyện, thân mẫu của Ngô Quyền trong giấc mộng được Tiên Ông trao cho buồng cau lớn, tươi tốt và sau bà đã sinh ra Ngài; Khinh chu (thuyền nhẹ), biểu tượng phương tiện thuyền gọn nhẹ của quân đội Ngô Quyền chiến đấu chống quân xâm lược trên sông Bạch Đằng, thuyền có thể luồn lách tránh những hàng cọc nhọn, nhưng vẫn áp sát để tiến đánh hạm thuyền lớn của giặc; Hai khúc gỗ nhọn đầu, biểu tượng cho trận địa cọc, vũ khí độc đáo, hiểm yếu của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng. Những di vật trên được tạo tác tinh sảo bằng loại gỗ hương quý hiếm và được trang trí hoa văn rất chau chuốt, cầu kỳ tạo những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc cho mọi người khi được trực tiếp chiêm ngưỡng.

Hàng năm tại đình Lũng Bắc nhân ngày hóa của đức Ngô Vương Quyền nhân dân địa phương tổ chức hội lễ lớn đầu xuân vào ba ngày 17, 18 và 19 tháng Giêng, để tri ân Thành hoàng, các vị thần được phối thờ và những bậc tiền nhân đã có nhiều công lao giúp dân, giúp nước, khai sơn, mở địa để có được quê hương trù phú, tươi đẹp như hôm nay. Trong hội lễ có tế lễ, dâng hương, giao lưu văn nghệ giữa các tổ dân phố trong phường... những năm có điều kiện địa phương tổ chức rước thánh được rất nhiều người dân tham gia, tạo ra khí thế rất trang nghiêm, hào hứng. Ngoài ra vào ngày 16 tháng 6 âm lịch ngày hóa của Chúa Bà Nam Phương, di tích đình Lũng Bắc tổ chức hội lễ rất nhiều người trong và ngoài địa phương tham gia, trong hội lễ có hoạt động diễn xướng chầu văn trước ban thờ Chúa Bà.

Đình Lũng Bắc nằm cận kề với ngôi chùa cổ của làng Lũng Bắc, có tên chữ “Bảo Phúc ”. Chùa có niên đại xây dựng vào khoảng thế kỷ 17, hiện chùa Bảo Phúc còn bảo lưu được nhiều cổ vật có giá trị về lịch sử, mỹ thuật như tượng pháp, câu đối, đại tự, chuông đồng, bia đá...Đình, chùa Lũng Bắc trong cùng khu vực tạo thành trung tâm rất thuận tiện trong sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người dân trong vùng.

Trong một vài năm trở lại đây Ban Quản lý di tích đình Lũng Bắc được kiện toàn, đã cùng nhân dân trong và ngoài địa phương tổ chức trùng tu, tôn tạo đình, cải tạo sửa chữa những công trình phụ trợ, trang hoàng, bổ xung thêm những đồ thờ tự quý, tổ chức bài trí việc thờ tự trong đình theo quy chuẩn truyền thống, lịch sử. Chính vì vậy di tích đình Lũng Bắc đang có sức quy tụ, thu hút mọi người đến ngày càng đông hơn. Cùng với vùng đất trồng hoa nổi tiếng xưa nay và chợ hoa, quả truyền thống lớn hiện nay của thành phố Hải Phòng, di tích đình Lũng Bắc đã và đang trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn của du khách xa gần.

Tự Miễn

Di tích quốc gia miếu cổ Cựu Điện, Vĩnh Bảo, Hải Phòng- Hùng khí non sông một góc trời

Cựu Điện là vùng đất cổ, theo Hán tự nghĩa là vùng đất vững bền có từ rất lâu đời. Miếu Cựu Điện xa xưa thuộc thôn Trung xã Cựu Điện, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng ( sau đổi là Ninh Giang), đạo Hải Dương ( trước có tên là Hồng Châu). Nay miếu Cựu Điện thuộc thôn Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Miếu Cựu Điện tọa lạc trên khu đất rộng rãi, vị trí trung tâm của làng, cách thị trấn Vĩnh Bảo trên 1 km về phía Nam. Miếu Cựu Điện một cổ miếu, thắng tích nổi tiếng của thành phố Hải Phòng, quần thể di tích miếu và chùa Cựu Điện đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1994.

alt

Miếu Cựu Điện được xây dựng từ thời Lý Nhân Tông (1072- 1128). Tức là sau khi tướng quân Kim An hóa và được nhà vua ban sắc phong cho Cựu Điện phụng thờ làm Thành hoàng làng. Thuở ban đầu miếu làm bằng gianh tre nứa lá, qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo đến nay miếu Cựu Điện là công trình kiến trúc nguy nga, cổ kính mang dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Song kiến trúc công trình được trang trí mỹ thuật đẹp, có nhiều nét độc đáo nổi trội hơn hẳn với những di tích trong thành phố Hải Phòng. Tổng thể khu vực miếu được quy hoạch, xây dựng liên hoàn rất hợp lý, hài hòa, đẹp mắt, gồm tòa miếu, tả vu, hữu vu, cổng, hồ...Tòa miếu công trình chính mang ý nghĩa trung tâm, xây kiểu chồng diêm, nóc các, trùng thiềm điệp ốc, cao dần về phía sau. Tòa tiền bái lăm gian, tiếp đến là tòa trung đường ba gian và sau cùng là tòa hậu cung. Tòa tiền bái lăm gian, mặt tiền xây gắn liền với lầu chiêng, trống hai bên. Lầu chiêng, trống xây đăng đối nhau qua trục thần đạo, kiến trúc kiểu thượng gia, hạ cổng, ba tầng, mái chồng diêm, hai tầng tám mái, đao mái trang trí theo các thức truyền thống. Tầng dưới cùng tạo dáng cổng vòm, tầng giữa mặt tiền, mặt hậu trổ cửa hình tròn thông với nhau. Cổ diêm đắp chữ Nho trên gắn mảnh gốm cổ. Nhìn tổng thể lầu chiêng, trống như kiến trúc khuê văn các ở Văn Miếu Quốc Tử Gíam. Tòa trung đường xây chồng diêm, hai tầng mái, mái đao cong. Tòa hậu cung, xây vươn cao ba tầng, tầng dưới xây trang trí lan can bốn mặt, hai tầng trên, mỗi tầng bốn mái, mái đao cong. Trên đao cong của các mái miếu cổ đều được đắp trang trí các đề tài truyền thống như vân cụm, lá lật, rồng chầu, phượng vũ...Trên cổ diêm các tòa của miếu đắp trang trí những hình, hoa văn như: cửa võng, chữ thọ cách điệu, đắp chữ Nho gắn mảnh gốm cổ... Trong miếu bài trí đồ thờ tự, tế khí rất uy nghiêm, lộng lẫy như câu đối, đại tự, cửa võng, long ngai, bài vị...Miếu Cựu Điện là một trong những di tích còn bảo tồn được nhiều di vật, cổ vật có giá trị về lịch sử, mỹ thuật nhất của thành phố Hải Phòng.

Kể về di tích quốc gia miếu, chùa Cựu Điện không thể không nói đến thắng cảnh nhân tạo núi đá ở đây, người dân địa phương thường gọi là “giả sơn”. Chính núi nhân tạo này đã làm nổi danh khu di tích miếu chùa Cựu Điện. Các sách về lịch sử của Hải Phòng như: “ Địa chí Hải Phòng”; “ Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng” đều ghi chép và ca ngợi giả sơn trên. Tuy nhiên hai cuốn sách này đều ghi nhầm núi giả thuộc làng Nhân Mục, cùng xã Nhân Hòa. Gỉa sơn được tạo dựng cách ngày nay hàng trăm năm, núi làm bằng đá xanh có khối lượng, kích thước lớn nhất của thành phố Hải Phòng. Núi đứng sững sững, hùng vĩ, thanh u, như thiên tác, tạo nên cảnh đẹp sơn thủy hữu tình ở nơi đất thiêng liêng. Núi soi bóng trên mặt nước hồ trong xanh, ẩn chứa ước nguyện của người dân nơi đây như lời cổ nhân nói: “ Nhân giả nhạo sơn; Trí giả nhạo thủy”, nghĩa là mong tình yêu thương của mọi người quê hương vững bền như núi và có trí tuệ dồi dào như nước. Trên núi có đủ hang sâu, động lớn, có cổ thụ, cây cỏ, hoa lá, lầu các, những thác nước chảy, những cây cầu bắc qua suối, cùng những muông thú quần sinh. Thấp thoáng trên non còn có ngôi chùa Khổng Tước, nơi song thân của đức Kim An cầu tự nên đã sinh ra vị Thành hoàng của làng Cựu Điện.

Theo bản thần tích do Đông các Đại học sĩ, Viện Hàn lâm Nguyễn Bính soạn, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên ( 1572) và được Quản giám bách thần, Tri điện hùng lĩnh Lê Tung, sao lại niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 6 ( 1740). Miếu Cựu Điện phụng thờ Thành hoàng họ Kim, tên An. Ông sinh tại trang Vĩnh Thiệu, huyện Hương Trà, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa. Ngọc phả chép rằng: Song thân của ông tuổi đã cao nhưng chưa có con nối dõi, nghe châu Hoan có ngôi chùa cổ Khổng Tước linh thiêng, hai ông bà thành tâm đến chùa cầu tự, đêm hôm đó thân mẫu nằm mơ thấy có ngôi sao bay vào miệng. Bà mang thai 13 tháng, sau sinh ra người con trai thiên tư thông minh, thân thể, diện mạo rất khác người thường, lúc bà sinh có giải mây hồng bay vào nhà sau ba ngày mới tan. Thân phụ biết là thần nhân xuất thế, thiên hạ tất được yên vui nên ông đặt tên con là An. Bảy tuổi đi học, thiên chất thông minh nên cậu bé An học lực tinh thông, đọc hiểu nhiều sách về binh thư, võ lược. Khi trưởng thành cha mẹ chọn vợ, nhưng ông không đồng ý và chỉ tìm kết giao anh em tốt để nghiên cứu sách vở, đi tìm hiểu những miền đất, phong tục tập quán ở các địa phương. Khi 20 tuổi cha mẹ ông qua đời, ông chọn đất an táng và phụng kính cha mẹ ba năm. Vào thời đó có quân Tống hợp binh với quân Chiêm Thành sang xâm lược nước ta. Ông An nghe tin vua ban chiếu tuyển chọn nhân tài ra giúp nước, ông vào Kinh đô dự thi. Vua thấy ông An văn, võ toàn tài, ứng đối trôi chảy nên phong cho ông chức Đô huy sứ, Hữu tướng quân cùng Thượng tướng Lý Thường Kiệt mang quân đi đánh giặc. Vào một hôm đoàn quân của ông đến trang Cựu Điện, huyện Vĩnh Lại, Phủ Ninh Giang, đạo Hải Dương. Thấy thế đất có phong thủy tốt, thắng cảnh, sinh hoạt thuận tiện, nên ông An cho quân dừng nghỉ, đóng đồn trại phòng bị, sau đó mở yến tiệc khao lao dân trong trang và chọn được một số tráng niên trong hương làm gia thần, thủ túc. Sau đó ông hợp quân cùng Lý Thường Kiệt tiến đến trại giặc giao chiến. Chỉ trong một trận quân giặc đã đại bại, phải chạy về nước, vua triệu tướng sĩ hồi triều. Vua Lý khao thưởng tướng sĩ, ông An xin được về khu Cựu Điện, nhân dân trong trang rất vui mừng đón chào ông. Ông mở tiệc khoản đãi dân trang, trong lúc yến tiệc ông An căn dặn mọi người và hóa vào ngày 12 tháng 11. Nhân dân tấu lên triều đình, vua Lý rất thương tiếc vị công thần, cho sứ giả mang sắc phong về tận trang tế lễ ông, phong ông là Đương cảnh Thành hoàng, Thượng đẳng thần “ An Trấn Đại Vương” ( nhân dân địa phương thường đọc là An Tấn Đại Vương). Sau này vào triều Trần, triều Lê sơ ông Kim An đã âm phù cho giang sơn, xã tắc, nên đều được các triều đại trên sắc phong, gia tặng mỹ tự

Với những giá trị lịch sử văn hóa, mỹ thuật đặc sắc trên, cùng với ngôi chùa Cựu Điện ( Phúc Lâm tự) nằm cận kề, quần thể di tích cấp quốc gia miếu, chùa Cựu Điện đã, đang trở thành địa điểm tham quan du lịch hấp dẫn trong tuyến du khảo đồng quê của thành phố Hải Phòng.

Châu Lương

Đình Hộ quốc Kinh Lương ở xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng- nơi thờ những vị thần trấn giữ biển Đông

Gần đây, vùng đất Tiên Lãng (Hải Phòng) đã thu hút được sự quan tâm của giới học giả. Nhiều bài viết và nghiên cứu đã minh chứng đây là vùng đất cổ, có bề dày văn hiến của Hải Phòng và còn lưu giữ được rất nhiều những di tích lịch sử-văn hóa, bia ký, văn tự cổ có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu về vùng đất địa linh nhân kiệt này… Hiện nay, Tiên Lãng là huyện có số lượng văn bia nhiều nhất Hải Phòng (234 bia), chứa nhiều nội dung phong phú, phản ánh đời sống tâm linh, công cuộc xây dựng quê hương, chống giặc ngoại xâm của địa phương này.

alt

Các bản thần phả, sắc phong, bi ký hiện còn được bảo tồn tại đây cùng các tài liệu Hán-Nôm lưu giữ ở Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cung cấp nhiều chứng cứ khẳng định vùng Kinh Lương (trang Cảnh Thanh xưa) – thôn Kinh Lương, xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng (nay) là vùng đất địa linh, nhân kiệt. Nơi đây từng tồn tại 3 di tích lịch sử quan trọng: Chùa Đót Sơn (xây dựng năm 505), đình Kinh Lương và đền Đống  Duy (có thời Đinh Tiên Hoàng) là nơi thờ thần, phật có thể coi là lâu đời nhất nước ta.

Một số nhà sử học cho rằng đình lập quốc Kinh Lương và đền Đống Dõi (hay Đống Duy) - nơi tôn thờ các vị thần hộ quốc an dân, là vùng đất thiêng (chính linh) của Tiên Lãng nói riêng và là huyệt đạo của Hải Phòng nói chung.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu sấm truyền nói về vùng huyệt đạo này như sau:

“Kinh Lương chùa Đót

Còn sót một ngôi

Huyệt tại Thiên Lôi

Anh hùng kế thế”.

Nơi huyệt thiêng này đã sinh ra những bậc hiệt kiệt có công bảo quốc, an dân trong lịch sử dân tộc sẽ nói dưới đây.

Đình lập quốc Kinh Lương và đền Đống Dõi cũng được giới học giả coi là một trong những trường hợp đặc biệt của “ngũ linh từ” ở Tiên Lãng. Nghĩa là có thể xếp đình Kinh Lương và đền Đống Dõi là linh từ thứ 6 của huyện Tiên Lãng ? Có thể lắm chứ khi mà trước cách mạng Tháng 8, người dân nơi đây vẫn quanh năm hương khói thờ phụng 5 vị hộ quốc tướng quân được triều Đinh phong thần và nhiều triều đại phong kiến ban sắc phong. Chỉ tính riêng trong thời kỳ nhà Nguyễn, 13 đạo sắc phong đã được ban cho Ngũ vị Đẳng thần. Toàn bộ các thần tích và thần sắc về vùng đất này vẫn được lưu giữ tại kho tài liệu Hán-Nôm của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Bài vị của Ngũ vị Đẳng thần vốn được thờ phụng tại Đình Kinh Lương trước khi những di tích này bị tàn phá trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã ghi tên:

Bạt Hải Hữu vi Vô danh Thần vị; Bình Lãng Hữu vi Vô danh thần vị; Mạnh tướng húy danh Phương Thần vị; Đống Duy húy danh Tụy Thần vị và Thần kỳ Cửa Chùa húy danh Tề Thần vị.

5 vị thần tướng được thờ ở đình Kinh Lương được dân gian coi là các vị hộ quốc công thần đầu tiên trấn giữ vùng đất, vùng biển Hải Phòng.

Chuyện khắc trên văn bia đình làng Kinh Lương (ngọc phả) đã kể lại thân thế, công lao của ba vị Đại Vương (trong số 5 người) như sau:

Ở trang Vĩnh Đồng, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam có một người thuộc danh gia vọng tộc họ Trương (húy Lợi), vợ là người ở trong trang tên là Nguyễn Thị Nguyên, lấy nhau được ba năm rồi mà vẫn chưa thấy nảy mầm thai nghén. Trải thêm được 3-4 năm sau thì hai người đã bỏ quê ra đi và tìm đến trang Cảnh Thanh (sau đổi là Kinh Thanh rồi Kinh Lương) thuộc huyện Bình Hà, phủ Nam Sách, lộ Hải Dương xin định cư khi thấy nơi đây dân

tục thuần hậu. Trải được khoảng một hai năm, gia sản vợ chồng ngày thêm khá giả và dần được xếp vào hạng Hào trưởng trong làng. Vào một hôm giữa lúc đêm khuya, người vợ mộng thấy mình bỗng bay lên trời và bẻ được ba đóa hoa quế ôm vào trong lòng rồi chợt tỉnh giấc. 3 tháng sau, bà thấy trong mình chuyển dạ rồi có thai, đến kỳ mãn nguyệt thì đẻ ra một bọc sinh ra được ba người con trai (giờ Tuất, ngày 16 tháng giêng năm Ất Mùi), diện mạo khôi kỳ, thân dung dài rộng, long nhan cằm hổ, mặt cứng như sắt, toàn thân sắc đỏ, đều là khác hẳn người thường, đặt tên cho người thứ nhất là Phương, người thứ hai là Tụy và người thứ ba là Tề.

Ngày tháng thấm thoắt trôi mau, những người con đã 14 tuổi. Cha mẹ bèn tìm thầy cho nhập học, nhưng các người con lại đều không chịu học mà chỉ chuyên võ nghệ và giỏi binh thư. Tài nghệ của những người này giỏi đến mức các bằng hữu không ai là không kính phục.

Các ông chợt nghe thấy giặc Ma Na kháo với nhau rằng, nhà Đinh đã đến lúc suy đồi, thế vận đã hết, nên chuẩn bị binh mã để tiến đến xâm chiếm. Vua Đinh, trước nạn xâm lăng vội vã cho truyền hịch khắp thiên hạ muôn phương để tìm người anh tài võ sĩ cùng về giúp nước, sau khi bình giặc xong sẽ ban quan tước để hiển công danh mãi ở đời.

Các ông nghe được hịch, bèn cùng bảo nhau đến tòa Vọng Quang làm lễ bái yết rồi đến triều đình bệ kiến. Đức Vua thấy các ông có long nha hổ tướng khác hẳn người thường nên đã bái ông thứ nhất làm Quyền chưởng trung hoa tể, ông thứ hai làm Quyền chưởng sơn đầu các châu làm tước, ông thứ ba làm Quyền chưởng thống lĩnh 15 đầu sông làm tước.

Thụ phong xong xuôi, nhà vua bèn lập tức cử binh thẳng tiến đến đồn sở quân giặc (tức đồn lập ở sông Bạch Đằng). Giáp công một trận được thua chưa phân thì nhà vua lại thoái binh về đến địa giới Bản Trang (tức trang Cảnh Thanh) rồi cho lập đồn trú binh lại một ngày. Giữa đêm hôm ấy, nhà vua mộng thấy có một vị quan nhân áo mũ chỉnh tề viết hai chữ “Bình Lãng” (tức Bình được sóng gió) để trước mặt nhà vua, vua lấy làm lạ thì người ấy tâu rằng “Ta vốn ở thiên đình, vâng mệnh giáng xuống báo cho nhà vua biết là sẽ âm phù giúp nước để mong được quốc lộc hương hỏa đến vô cùng vậy”. Nhà vua chợt tỉnh giấc, biết đây là thần báo mộng nên sáng sớm hôm sau vua sai 3 tướng chia quân làm hai đạo thủy, bộ và mình thân chinh ngự giá thẳng tiến đến đồn sở của giặc. Vậy là thủy bộ song hành đại chiến một trận, quân giặc đại bại, thuyền lớn thuyền nhỏ của giặc phần bị lửa thiêu, phần bị chìm đắm vô số. Đất nước lại trở lại yên bình, giặc không còn một bóng. Sau đó ba ông trở về cung sở (tức trang Cảnh Thanh). Nhà vua nghe tin thắng trận, bèn cho mở đại yến tiệc ăn mừng khao thưởng quân sỹ, thưởng gia phong, sau đó lại truyền dân bản trang dựng cung đền để làm đền thờ chính thờ phụng vị Thiên Quan (thần nhà trời) báo mộng.

Việc yến tiệc xong xuôi và kỳ hạn cũng đã đến ngày hết, các ông bèn tiến binh trở về triều nhậm sự. Hôm ấy, khi các ông bắt đầu xuất binh ở địa giới bản trang thì tự nhiên trời đất tối đen, gió mưa nổi lên ầm ầm, sấm vang chớp giật, rồi các ông cùng hóa. Hôm đó là ngày mồng 7 tháng 11 (âm lịch). Chỉ trong chốc lát, trời đất lại trở lại trong sáng, gió mưa dứt hẳn, nhân dân chạy đến chỗ ấy thì đã thấy kiến xông thành ngôi mộ lớn. Nhân dân lấy làm kỳ sự bèn biểu tấu lên nhà vua. Nhà vua thương xót công thần có công lớn với quốc triều bèn lệnh cho đình thần dâng đưa sắc chỉ về quê, sau đó lại truyền cho tu sửa lập đền miếu ở đúng nơi các ông hóa để hương hỏa phụng thờ, lại ban cho dân sở tại 300 quan tiền công quỹ để lấy đó làm hương hỏa rồi bao phong mỹ tự để muôn thuở huyết thực mãi mãi trường tồn cùng hưởng phúc lành với đất nước.

Từ đó trở đi người dân trang Cảnh Thanh (tức vùng Kinh Lương bây giờ) cứ vào ngày thánh hóa mồng 7 tháng 11 (ÂL) hàng năm lại long trọng cử hành lễ tế 3 vị thiên tướng có công giúp Đinh Tiên Hoàng đế đánh tan thủy quân Ma Na. Tục lệ này được duy trì đến trước cách mạng Tháng 8 năm 1945. Trước thời gian này,vùng đất Kinh Lương vẫn

nổi tiếng với đình Kinh Lương, đền Đống Dõi (hay Đống Duy) và chùa Đót Sơn với ba giếng thần. Trong đó, chùa Đót Sơn là tàn tích của một trung tâm Phật giáo lớn đầu tiên của Việt Nam (trước cả Luy Lâu ở Bắc Ninh). Chùa Đót Sơn, nơi cùng với Chùa Hang ở Đồ Sơn đã từng lưu dấu tích của nhiều nhà sư Ấn Độ trong buổi đầu Phật giáo được truyền bá sang Việt Nam bằng đường biển. Chùa Đót Sơn (còn có tên là Non Đông tự) được coi là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam (xây dựng năm 503). Ngôi chùa này gắn liền với sư tổ Huyền Quang (pháp danh Thích Quảng Đông) - Thánh tổ Non Đông và là kinh đô của môn phái Pháp Môn Tịnh Độ Thiền tông được du nhập vào nước ta từ Ấn Độ.

Hải Phòng - vùng đất tiền tiêu của Tổ Quốc bên bờ biển Đông, từng nhiều lần phải chống chọi với quân xâm lược từ phía biển, bởi vậy nơi đây đã phát sinh những nhân vật và thần tích linh thiêng.

Theo Văn tịch về Thần Tích và Thần Sắc về làng Kinh Lương được lưu giữ tại Viện KHXH Việt Nam, đình làng Kinh Lương thờ 5 vị Đẳng Thần là: Mạnh Tướng Đăng Kinh Đại Vương (Nhãn thần), Hỏa thần Đống Duy Đại Vương (Nhãn thần), Thiên Quan Bình Lãng Đại Vương (Thiên thần), Thần Kỳ Cửa Chùa Đại Vương (Nhãn thần) và Bạt Hải Đại Vương Tôn Thần (Thiên thần). Những vị tướng này đã giúp Vua Đinh Tiên Hoàng đánh thắng đạo thủy quân xâm lược Ma Na và hóa thần ngay sau khi giặc tan. Nhớ ơn họ, vua Đinh đã phong danh Thượng đẳng thần cho 5 vị hộ quốc, coi họ như các công thần khai quốc (lập nước) để nhân dân muôn đời thờ cúng. Có lẽ vì vậy mà nơi thờ 5 vị đẳng thần ở Kinh Lương mới có tên là đình khai quốc Kinh Lương, đền khai quốc Đống Duy. Các vị nhãn thần và thiên thần được thờ tại đây đã trở thành các thần hộ quốc đầu tiên trấn giữ vùng biển Đông Bắc của Tổ Quốc. Điều này có lẽ còn ít người biết đến.

Trong kháng chiến chống Pháp (giai đoạn 1945-1954) chùa Đót Sơn cũng như đình Kinh Lương là những cơ sở cách mạng quan trọng. Kinh Lương trở thành vùng chiến địa khốc liệt nhất của Tiên Lãng khi căn cứ địa của cách mạng được đặt tại đây. Chiến tranh đã phá hủy chùa Đót Sơn, đình Kinh Lương và đền Đống Duy. Nhiều di vật quý giá của chùa, đình, miếu mạo đã mất mát hoặc thất tán theo phong trào tiêu thổ kháng chiến.

Sự tàn phá và quên lãng những di sản văn hóa quan trọng của đất nước là một điều rất đáng tiếc. Đã đến lúc giới học giả cần phải có những nghiên cứu và chính quyền địa phương phải thực sự vào cuộc để khôi phục lại những di tích tâm linh, hồn thiêng sông núi của dân tộc. Nên chăng các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và cơ quan chức năng quản lý di sản văn hóa Trung ương cần tổ chức hội thảo khoa học về vùng đất chính linh huyệt đạo Tiên Lãng để khẳng định giá trị lịch sử - văn hóa - tâm linh của các phế tích nói trên. Từ cơ sở đó mà xúc tiến việc phục dựng các di tích lịch sử quan trọng này, góp phần bảo tồn vốn văn hóa quý giá xứ Đông, phục vụ việc phát triển du lịch và bồi bổ lòng yêu nước, chống ngoại xâm trong nhân dân.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Chùa Đót Sơn- Non Đông tự và nơi đầu tiên thờ những vị thần trấn giữ biển Đông

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo, Chùa Đót Sơn ở thôn Kinh Lương, xã Cấp Tiến huyện Tiên Lãng ngày nay (mới được phục dựng năm 2014) là tàn tích của một trung tâm Phật giáo lớn đầu tiên của Việt Nam (trước cả Luy Lâu ở Bắc Ninh)

alt

Theo những phát hiện mới nhất, Phật giáo được truyền vào Việt Nam lần đầu tiên bằng đường biển và địa danh đầu tiên có sự hiện diện của Phật giáo được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam ghi nhận là khu vực ven biển Đồ Sơn (Hải Phòng).

Hai địa danh Phật giáo quan trọng của khu vực ven biển vốn thuộc Châu Nam Sách xưa (nay thuộc Hải Phòng) được các nhà nghiên cứu xác định là nơi bắt đầu hiện diện Phật giáo trên vùng Đồng Bằng Bắc Bộ là Chùa Hang ở Đồ Sơn và Chùa Non Đông (sau đổi tên là Chùa Đót Sơn) tại xã Cấp Tiến, Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng.

Văn bia của chùa Đót Sơn hiện còn được lưu giữ và được in trong cuốn Văn Bia Tiên Lãng, ghi nhận Chùa được xây dựng trong thời kỳ nhà Lương (Trung Quốc) đô hộ nước ta vào thế kỷ thứ V. Vào thời kỳ ấy, đạo Phật đã bắt đầu được truyền từ Ấn Độ vào nước ta.

Theo Địa chí Hải Phòng (xuất bản 1990), đoạn về vùng đất Tiên Lãng có viết “Nền văn hóa Tiên Lãng phát triển sớm. Đạo Phật du nhập vào mảnh đất này từ thế kỷ V, VI. Khoảng thời gian ấy, Tiên Lãng đã xuất hiện một trung tâm Phật giáo ở Chùa Đót (Cấp Tiến) với kiến trúc quy mô, bảo tháp và tượng Phật đồ sộ. Chùa Đót đã hoạt động liên tục suốt các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc ... kích thích sự ra đời của hàng chục ngôi chùa khác ở Tiên Lãng, trong đó có hẳn một kho chứa kinh đặt ở Chùa Thiên Tộ (thôn Phác Xuyên – xã Bạch Đằng)”. Chùa Đót Sơn, nơi cùng với Chùa Hang ở Đồ Sơn đã từng lưu dấu tích của nhiều nhà sư Ấn Độ trong buổi đầu Phật giáo được truyền bá sang Việt Nam được coi là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam.

Chùa Đót Sơn đầu tiên có tên gọi là Chuyết Sơn (Tiếng Phạn - Juisan) có nghĩa nơi tràn ngập không khí nhà Phật. Chùa này sau đó được đổi tên thành chùa Non Đông vào thế kỷ thứ 10 và Đót Sơn vào cuối thế kỷ XV ?. Ngôi chùa này gắn liền với sư tổ Huyền Quang - Thánh tổ Non Đông và là kinh đô của môn phái Pháp Môn Tịnh Độ Thiền tông. Chùa hiện vẫn còn cây bồ đề được các nhà sư Ấn Độ mang sang trồng khi truyền đạo vào thế kỷ thứ 6 và được coi là cây bồ đề gốc Phật giáo của Việt Nam.

Vậy Thánh tổ Non Đông - Huyền Quang là ai?. Ngài có phải là Thánh tổ Non Đông từng trụ trì Non Đông tự ở Mạo Khê – Đông Triều – Quảng Ninh hay không?. Không! Thánh tổ Non Đông ở Mạo Khê là Thiền Sư Tuệ Nhẫn tên họ là Vương Thiên Huệ, hiệu Quán Viên, pháp hiệu Tuệ Nhẫn - là vị Thánh Tổ đắc đạo đời Trần, còn Thánh tổ Huyền Quang là vị đại sư sống vào thời Đinh Tiên Hoàng và người đã từng trụ trì Non Đông tự ở Cấp Tiến – Tiên Lãng – Hải Phòng nay. Sự thể như sau:

Vào thời kỳ nhà Đinh, Phật giáo trở thành quốc đạo và được triều đình tôn sùng. Hai anh em dòng họ nhà Đinh gồm Đinh Bộ Lan - em trai của vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Bộ Đông (947-999) - em họ của Vua, đã tu tại chùa Non Đông (thuộc Tiên Lãng – Hải Phòng nay) là trung tâm của Phật giáo Bắc Bộ thời ấy. Đinh Bộ Đông lấy tên pháp là Huyền Quang Thích Quảng Đông và là vị sư trụ trì chùa trong khi Đinh Bộ Lan, lấy tên pháp là Thích Quảng Bình. Hai vị được coi là những vị tổ của trường phái Pháp môn Tịnh độ Thiền tông – Phật phái mới nhất được truyền từ Ấn Độ vào nước ta. Ngài Huyền Quang Thích Quảng Đông viên tịch vào ngày 24 tháng giêng năm Kỷ Hợi 999, thọ 51 tuổi. Tài liệu này có được  từ thác bản Hán Nôm huyện Tiên Lãng, dịch từ bia kí chùa Non Đông - Đót Sơn (Tiên Lãng )

Việt Nam Phật Giáo sử lược có đoạn viết “đến thời Đinh Tiên Hoàng, khi Tiên Hoàng Đế định giai cấp văn võ, thì ngài triệu tất cả Tăng sĩ lỗi lạc vào Thái miếu và định phẩm trật cho các Tăng-già. Ngài tặng chức Khuông Việt Thái sư cho Pháp sư Ngô Chân Lưu, Pháp sư Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân uy nghi”.

Ở đây, Pháp sư Đặng Huyền Quang chính là Pháp sư Huyền Quang của chùa Non Đông khi đó. Thời điểm bấy giờ, Phật giáo rất thịnh hành và Chùa Non Đông ở Tiên Lãng là ngôi chùa lớn nhất trên Vùng Đồng Bằng Bắc bộ vào thời điểm đó và được coi là Trung tâm của Phật giáo Pháp môn tịnh độ Thiền Tông.

Tại đây, vào mùa Kết Hạ (bắt đầu từ ngày Đản sinh của đức Phật Thích Ca 15/4 Âm lịch cho đến ngày Lễ Vu Lan 15/7 Âm lịch) thường xuyên hiện diện các vị pháp sư Ấn Độ. Khi ấy, Chùa Non Đông đón 300 đến 400 vị chư tăng tại nhiều vùng trong cả nước đến tu tập. Cơm được nấu bằng niêu đất và thực phẩm đều được tăng ni tự cấy, trồng từ vườn của nhà Chùa.

Đến thời nhà Lý, vào cuối thể kỷ thứ X và đầu thế kỷ XI, sau khi nhà sư Đường Tam Tạng (Trung Hoa) qua Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và phổ biến Phật giáo Pháp Môn Mật Tông tại Trung Quốc, giáo lý Phật giáo này lan sang Việt Nam một cách mạnh mẽ. Thời điểm này, vùng Luy Lâu (thuộc Thuận Thành - Bắc Ninh) đã nổi lên trở thành kinh đô của Phật giáo Pháp Môn Mật Tông. Còn chùa Non Đông vẫn là một địa chỉ quan trọng của Pháp Môn tịnh độ Thiền Tông.

Đến năm 1491, dưới triều Hậu Lê, trải qua hàng trăm năm, Chùa Non Đông xuống cấp và được tu sửa lại. Vua Lê Thánh Tông trong lần vãn cảnh chùa, đã tức cảnh bài thơ

Đót Sơn tên gọi,

Sãi vãi dựng xây

Vẹn tròn tượng Phật,

Nền phúc căng đầy

Lưu truyền mãi mãi

Cùng hưởng sum vầy

Góp phần công đức

Khắc đá minh này.

Bài thơ này được in trong văn bia của Chùa và có thể trong khoảng thời gian chùa Non Đông được tôn tạo đó mà nó đã được đổi tên thành Chùa Đót Sơn (hoặc có thể muộn hơn, dưới triều vua Lê Thánh Tông).

Vùng đất được coi là “chính linh”  - vùng đất thiêng của Tiên Lãng là Kinh Lương (xã Cấp Tiến – huyện Tiên Lãng) còn được các nhà nghiên cứu cho là huyệt đạo của Hải Phòng. Ở đây, ngoài ngôi chùa cổ nhất Việt Nam nói trên còn có những di tích thờ Ngũ vị đẳng Thần gìn giữ biển Đông ít người biết đến.

Kinh Lương, trước là Kinh Thanh, rồi Cảnh Thanh, thuộc huyện Bình Hà, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đây là nơi có đình Khai quốc Kinh Lương, đền Khai quốc Đống Duy và chùa Đót Sơn – Một trong những di tích lịch sử được xếp vào hàng cổ nhất Việt Nam.

Kinh Lương được nhắc đến trong nhiều thần tích và sắc phong của các triều đại phong kiến và trong các văn tịch liên quan đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đã có rất nhiều sắc phong của các triều đại tại đây. Đến thời kỳ nhà Nguyễn, 13 đạo sắc phong đã được ban cho Ngũ vị Đẳng thần. Toàn bộ các thần tích và thần sắc về vùng đất này vẫn được lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

Những vị thần được thờ tại Kinh Lương là những bậc hộ quốc công thần thời Đinh Tiên Hoàng đế và được triều đình ân điển cho muôn đời thờ phụng.

Trong miếu có năm bài vị thờ Ngũ vị Đẳng thần gồm Bạt Hải Hữu vi Vô danh Thần vị; Bình Lãng Hữu vi Vô danh thần vị; Mạnh tướng húy danh Phương Thần vị; Đống Duy húy danh Tụy Thần vị và Thần kỳ Cửa Chùa húy danh Tề Thần vị, ghi bằng chữ Nôm.

Bạt hải Đại vương tôn thần, vị thần "hữu vi, vô danh" tức có nhiều công giúp nước nhưng không biết đến danh tính, là một vị thần liên quan trực tiếp đến biển. Ngài Thiên Quan Bình lãng Đại Vương, cũng là vị Hữu vi Vô danh, là vị thần giúp nhân dân bình được sóng gió. Ba vị Mạnh Tướng Đăng Kinh Đại Vương, Hỏa thần Đống Duy Đại Vương, Thần Kỳ Cửa Chùa Đại Vương, là những vị Nhãn Thần, được coi như những con mắt dõi theo và bảo vệ dân. Do đó có thể nói Ngũ vị Đẳng thần này liên quan trực tiếp tới Biển Đông của Việt Nam. Ân chuẩn thờ phụng các Ngài còn mãi cho đến khi đình, đền, chùa bị tàn phá trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sự tàn phá và quên lãng một di sản quan trọng của đất nước là một điều rất đáng tiếc.

Theo Văn tịch về Thần Tích và Thần Sắc về làng Kinh Lương được lưu giữ tại Viện KHXH Việt Nam, đây là nơi thờ Ngũ vị Đẳng Thần gồm Mạnh Tướng Đăng Kinh Đại Vương (Nhãn thần), Hỏa thần Đống Duy Đại Vương (Nhãn thần), Thiên Quan Bình Lãng Đại Vương (Thiên thần), Thần Kỳ Cửa Chùa Đại Vương (Nhãn thần) và Bạt Hải Đại Vương Tôn Thần (Thiên thần). Những vị này đã giúp Vua Đinh Bộ Lĩnh sau khi xưng đế phá tan đạo thủy quân xâm lược Ma Na và hóa thần ngay sau khi giặc giã. Vua Đinh Bộ Lĩnh đã phong thần để nhân dân muôn đời thờ cúng.

Theo Địa chí Hải Phòng (xuất bản 1990), đoạn về vùng đất Tiên Lãng có viết “Nền văn hóa Tiên Lãng phát triển sớm. Đạo Phật du nhập vào mảnh đất này từ thế kỷ V, VI. Khoảng thời gian ấy, Tiên Lãng đã xuất hiện một trung tâm Phật giáo ở Chùa Đót (Cấp Tiến) với kiến trúc quy mô, bảo tháp và tượng Phật đồ sộ. Chùa Đót đã hoạt động liên tục suốt các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc ... kích thích sự ra đời của hàng chục ngôi chùa khác ở Tiên Lãng, trong đó có hẳn một kho chứa kinh đặt ở Chùa Thiên Tộ (Phác Xuyên - Bạch Đằng)”. Chùa Đót Sơn, nơi cùng với Chùa Hang ở Đồ Sơn, lưu lại dấu tích của nhiều nhà sư Ấn Độ trong buổi đầu Phật giáo được truyền bá sang Việt Nam.

Tấm bia dựng tại chùa Đót Sơn Hoàng Đồ Củng cố Đót Sơn Tự Di Đà Phật Bi, dựng năm 1491, cho biết “chùa có từ đời nhà Lương (505-543), trải qua các đời Lý Trần, con vị Quản lão ở bản xã cùng vị sư trụ trì đứng ra sửa chùa quy mô to lớn”. Như vậy, có thể khẳng định chùa Đót được xây dựng trước cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế với sự ra đời của nước Vạn Xuân và được coi là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Việt Nam.

Chùa Đót Sơn đầu tiên có tên gọi là Chuyết Sơn (Tiếng Phạn (Hindi) Juisan - có nghĩa nơi tràn ngập không khí kỷ niệm của Phật giáo). Chùa, sau đó, được đổi tên thành là chùa Non Đông vào thế kỷ thứ 10 và Đót Sơn vào năm 1941. Đây là ngôi chùa gắn liền với Đức tổ Huyền Quang, Thánh tổ Non Đông và là kinh đô của Pháp Môn Tịnh Độ Thiền tông. Chùa hiện vẫn còn cây bồ đề được các nhà sư Ấn Độ mang sang khi truyền đạo vào thế kỷ thứ 6 và được coi là cây bồ đề gốc Phật giáo của Việt Nam. Năm 1491, trong lần vãn cảnh chùa sau khi chùa được phục dựng lại, Vua Lê Thánh Tông đã có bài thơ viết tại đây, được lưu lại trong văn bia của chùa. Chùa cũng đổi tên thành chùa Đót Sơn từ thời điểm này.

Chùa Đót Sơn có quy mô lớn, rộng tám mẫu và được coi là kỳ quan của Phật giáo Việt Nam. Ngôi chùa chính nằm ở hướng đông với 100 gian và hoành phi câu đối có ghi dòng chữ Non Đông Tự. Xung quanh chùa chính có hành lang rộng 3m. Đằng sau, phía tây có 100 pho tượng La Hán bằng đá. Chùa có một quả chuông nặng năm tấn.

Trước Cách mạng Tháng Tám, vùng đất Kinh Lương vẫn nổi tiếng với đình Kinh Lương, đền Đống Dõi (Duy) và chùa Đót Sơn với ba giếng thần. Đến năm 1947, Thượng tọa Thích Thanh Lạc trụ trì chùa tròn 100 tuổi, thầy đã tự thiêu ở Sự Đồng Kệ. Trước khi hỏa táng, Thầy đã nói "Ta hỏa táng để Phật pháp được trường tồn".

Trong kháng chiến chống Pháp, giai đoạn 1945-1954, chùa Đót Sơn cũng như đình Kinh Lương là những căn cứ cách mạng quan trọng. Theo một số cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã từng ở tại chùa để chỉ đạo kháng chiến khi ông là Chính ủy Quân khu Tả ngạn. Kinh Lương đã trở thành nơi chiến địa ác liệt nhất. Và trong thời gian này, trước sự ác liệt của cuộc chiến tranh, chùa Đót Sơn, đình Kinh Lương và đền Đống Duy đã bị phá hủy. Hòa thượng Thích Thanh Dũng cũng hy sinh trong trận càn của Pháp năm 1953.

Hiện trạng của chùa Non Đông - Đót Sơn:

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954, huyện Tiên Lãng đã trở thành nơi đầu sóng ngọn gió và đã kiên cường đánh bại nhiều trận càn của lính thực dân Pháp và tay sai. Cũng chính trong thời gian này, theo phong trào tiêu thổ kháng chiến, Chùa Non Đông - Chùa Đót Sơn đã bị phá hoại. Thầy Thích Thanh Dũng là vị sư cuối cùng trụ trì chùa Non Đông - chiến sĩ cách mạng và hy sinh trong trận chống càn của Pháp năm 1953.

Bản thân Hòa thượng Thích Thanh Dũng, cũng hy sinh trong trận càn của Pháp năm 1953 nhưng đến bây giờ vẫn chưa được công nhận liệt sỹ mặc dù hồ sơ đã được gửi tới Sở Lao Đông Thương Binh Xã hội Hải Phòng từ lâu.

Địa điểm của Chùa Đót Sơn đã trở thành Nghĩa trang Liệt sỹ xã Cấp Tiến, Huyện Tiên Lãng. Toàn bộ các tượng Phật bằng đá đều bị thất lạc. Theo bà con trong vùng, sau khi hòa bình lập lại, các cột đá ở tam quan đã được sử dụng để xây Cống Nẻ, tượng phật bị vứt tại khu vực ao gần cây Bồ Đề nghìn năm tuổi. Đất của Chùa đã bị giao cho nhiều hộ gia đình. Ngôi chùa chỉ còn lại là một am rất nhỏ, vốn là chiếc bếp xưa của Chùa và một cây Bồ đề trên nghìn năm tuổi. Những lăng tẩm của các vị tổ Chùa Non Đông bị phá và phần cốt bị thất lạc. Hiện nay, phần cốt của Ba vị tổ của Chùa Non Đông - Chùa Đót Sơn đang được táng trước cửa Chùa nhỏ, nơi thải nước của các hộ dân xung quanh. Chùa hiện không có sư trụ trì và người trông coi ngôi chùa là hai bà vãi, những người có cơ duyên. Bản thân bà Chiêu, một trong hai bà vãi, người từng là y tá đã từng phải đi hành khất khắp nơi để lấy tiền xây được thêm một gian của chiếc am.

Đót Sơn ngày nay đã trở thành Nghĩa trang Liệt sĩ. Toàn bộ các tượng Phật và tượng thần bằng đá đều bị thất lạc. Theo bà con trong vùng, sau khi hòa bình lập lại, các cột đá ở tam quan cũng như nhiều văn bia đã được sử dụng để xây Cống Nẻ. Đất của chùa, đình và đền đã bị giao cho nhiều hộ gia đình. Ngôi chùa chỉ còn lại là một am rất nhỏ, vốn là chiếc bếp xưa của chùa và một cây bồ đề trên nghìn năm tuổi.

Với một vị tổ linh thiêng của Việt Nam và Trung Quốc cũng đã lập chùa để thờ, một ngôi chùa của dòng họ Đinh và một ngôi chùa có giá trị cao về mặt tâm linh, lịch sử và văn hóa, sự biến mất của ngôi chùa là nỗi xót xa cho những người dân trong vùng. Đã đến lúc giới học giả cần phải có những nghiên cứu và chính quyền địa phương phải thực sự vào cuộc để khôi phục lại một địa chỉ tâm linh, hồn thiêng sông núi của dân tộc.

Đúng 60 năm kể từ khi đình và đền Khai Quốc và chùa Đót Sơn bị phá, hậu thế mới tiến hành phục dựng lại (đình, đền và chùa bị phá hoàn toàn vào cuối năm 1953 và đầu 1954).

Nguồn: Nơi đầu tiên thờ những vị thần giữ biển Đông/Mạnh Thắng//Báo Nhân dân Online. - ngày 8/5


Tháp Tường Long tại Đồ Sơn TP Hải Phòng- Di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu vùng Duyên hải Bắc bộ

alt

Trên bản đồ vệ tinh Hải Phòng, bán đảo Đồ Sơn là một dải đất uốn khúc ra biển theo hướng Đông Nam, hẹp dần và kết thúc ở điểm cuối cùng là đảo Hòn Dáu. Với địa hình ba phía giáp biển và những ngọn núi đất thoai thoải xanh màu rừng cây tạo cho nơi đây một phong cảnh sơn thủy hữu tình đặc sắc ít nơi nào có được.

Vào thời kỳ biển tiến hàng nghìn năm trước, khi mà nước biển bao phủ nhiều vùng đất duyên hải, có lẽ nơi đây đã từng là điểm tiền tiêu của miền ven biển Bắc Bộ nước ta.

Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Đồ Sơn là nơi đầu tiên tiếp nhận đạo Phật truyền vào với những giai thoại về chùa Hang (Cốc tự) - nơi nhà sư Phật Quang (còn gọi sư Bần) người Ấn Độ đã cư ngụ và truyền đạo. Ngoài ra những ghi chép trong thư tịch cổ còn nói rằng nơi đây từng tồn tại tháp Asoka do đoàn truyền giáo Ấn Độ của vua A Dục Vương (Asoka) cùng các phật tử dựng nên để đánh dấu sự có mặt của đạo Phật. Hai tài liệu Trung Hoa: “Giao Châu Ký” của Lưu Hân Kỳ (năm 360-420 sau CN) và “Thủy Kinh Chú” của Lệ Đào Nguyên đều ghi rằng: “…ở Giao Châu tại thành NêLê (1), có bảo tháp của vua Asoka”. Sau này các học giả xác định thành NêLê chính là Đồ Sơn - Hải Phòng.

Do vị trí địa lý đặc biệt của Việt Nam ở bán đảo Đông Dương (giáp biển nhiều nhất) nên việc Phật giáo dưới thời hoàng đế Asoka từ Ấn Độ du hành chủ yếu theo đường biển bằng thuyền buôn của các thương gia tới Việt Nam sớm hơn Trung Quốc cũng là điều dễ hiểu. Cũng vì vị trí địa lý của địa hình Đồ Sơn chạy dài nhô ra hẳn đại dương và cửa biển Đồ Sơn nằm ở giữa, phía Bắc nhìn ra sông Bạch Đằng, phía Nam đối diện cửa sông Văn Úc, thuận tiện cho thuyền bè di chuyển theo hệ thống sông Thái Bình lên Luy Lâu (2) nên các thư tịch cổ nước ngoài đã ghi chép rằng nơi đây các thương thuyền thời kỳ ấy khi vào biển Đông trao đổi hàng hóa với nước Văn Lang và Trung Quốc thường hay dừng chân nghỉ ngơi và lấy nước ngọt ở cửa biển Nêlê (Đồ Sơn - Hải Phòng nay). Cho đến tận bây giờ, khu vực ven biển Đồ Sơn và khu vực xung quanh vẫn còn một số giếng nước ngọt cổ, hiện vẫn cấp nước cho bà con trong vùng.

Từng có giả thuyết cho rằng đạo Phật truyền vào nước ta đầu tiên bằng đường biển vào khoảng 300 năm trước công nguyên ở giai đoạn cuối nhà nước văn Lang, đầu nhà nước Âu Lạc (cuối thời vua Hùng, đầu thời Thục An Dương Vương). Vậy thì huyền tích về thánh Chử Đồng Tử đã tiếp nhận Phật pháp từ sư Phật Quang rồi trên đường về qua trang Minh Liễn (Kiến Thụy) đã cải tử hoàn sinh con trai bà Đa không phải là không có cơ sở (nay ở thôn Cốc Liễn, xã Minh Tân, Kiến Thụy, Hải Phòng vẫn còn Đình Cốc Liễn thờ thần Đông Yên (Chử Đồng Tử). Tại đây hiện còn lưu giữ 20 đạo sắc phong từ đời Lê Thần Tông 1628 đến trước đời Khải Định (1916-1925).

Chứng tích rõ ràng nhất ghi nhận vai trò tiền tiêu của Đồ Sơn ở khu vực Đông bắc Đại Việt chính là tháp Tường Long do vua Lý Thánh Tông xây dựng trên đỉnh núi Ngọc (thuộc phường Vạn Xuyên, quận Đồ Sơn) để thờ Phật.

Đây là ngọn núi đầu tiên trong dãy núi Rồng thuộc bán đảo Đồ Sơn cao khoảng 168 m. Có giả thuyết cho rằng tháp Tường Long được xây chính trên nền móng cũ của tháp Asoka.

Khi đó đã trải qua hàng nghìn năm và Tháp Asoka đã đổ nát thì vua Lý Thánh Tông trong một giâc mơ, đã được Phật A Di Đà đưa tới đây và đọc cho hai câu kệ:

“Tường Long hiện Trung Hải

Lôi động khởi Phong Đăng .”

(Nghĩa là: Thấy rồng hiện giữa biển, sấm nổ mở ra sự hưng thịnh).

Tỉnh dậy, nhà Vua đã thân chinh ngự tới đây để cho phục dựng bảo tháp, mở ra

một thời kỳ thái bình thịnh trị với những chiến công phá Tống bình Chiêm hiển hách.

Sách Đại Việt sử lược - cuốn sử chính thống đầu tiên của nước ta từ thời nhà Trần chép:

“Năm Mậu Tuất niên hiệu Long Thụy thứ 5 (1058). Mùa thu tháng 9, vua ngự ra cửa biển Ba Lộ nhân đó ngự ra chỗ xây Tháp ở Đồ Sơn. Năm sau (1059) Vua Lý Thánh Tông thấy Rồng vàng hiện lên ở điện Trường Xuân, Vua ban cho Tháp này tên hiệu là Tường Long, ý muốn ghi lại điềm lành”. Như vậy thì nhiều khả năng tháp Tường Long được xây dựng vào năm 1058.

Tháp Tường Long ngoài y nghĩa tâm linh và vai trò quân sự còn mang ý nghĩa rất lớn về phong thủy.

Dưới cái nhìn phong thủy của các nhà địa lý học thì vị trí mà người xưa chọn để xây dựng Tháp Tường Long thật là vùng đất tụ sơn, tụ thủy. Bởi nếu không có vị trí đắc địa thì khi xưa các nhà truyền giáo do Vua ASoKa (A-Dục Vương) cử đến đây truyền đạo đã chẳng chọn nơi này để dựng tháp Asoka. Nên biết rằng các nhà truyền giáo Ấn Độ phần lớn đều là các bậc cao tăng uyên thâm về Phật Pháp, lại nắm vững các tri thức khoa học huyền bí của nền khoa học cổ đại Ấn Độ. Hơn nữa, các cao tăng đến vùng Đông Nam Á và Việt Nam truyền đạo lúc ấy đều thuộc hệ phái Phật giáo Mật Tông chủ chương dùng các phép tu hành bí mật để khai mở tâm thức con người dẫn đến sự giác ngộ nên chẳng phải ngẫu nhiên mà hai vị cao tăng Sona và Uttara lại cho dựng ngôi tháp ấy

Đồ Sơn gồm có mười ngọn núi (1 núi Mẹ; 9 núi con mà dân gian gọi là cửu long sơn). Núi mẹ (mẫu sơn) cao chừng 168 m so với mặt biển. Đỉnh núi này chính là nơi bảo tháp Asoka (A Dục Vương) được dựng vào khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên. Sau này, vào giữa thế kỷ XI vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng tháp Tường Long trên nền tháp cổ A-Dục Vương.

Nhìn trên bản đồ vệ tinh, chúng ta có thể thấy vị trí tháp Tường Long nằm khá cân đối ở khu vực thị xã Đồ Sơn. Nếu lấy hướng mặt nhìn ra biển Đông thì tay Long (rồng) của Tháp chính là khu vực bán đảo Đồ Sơn nơi có khu bãi tắm 3 và bến Nghiêng ra đảo Hòn Dáu. Tay Long này uốn khúc phình ra trên bờ biển và tưởng như kết thúc tại khu vực Casino - mỏm cuối của bán đảo, nhưng thực ra sau một đoạn chui ngầm dưới biển sâu nó lại cất cao đầu vươn lên tạo thành đảo Hòn Dáu linh thiêng với bao truyền kỳ huyền bí.

Đảo Dáu như thể vừa là Long đầu (đầu rồng) vừa là Án sa của tháp Tường Long. Tay Long này đặc biệt còn được tiếp thêm sinh lực của nhánh sông Lạch Tray khiến cho nó có đầy đủ sơn khí, thủy khí đem đến sự thịnh vượng cả nhân tài lẫn vật lực. Còn tay Hổ của Tháp Tường Long chính là con sông Văn Úc đổ ra cửa biển Văn Úc . Đây là một nhánh của hệ thống sông Thái Bình. Trước khi đổ ra cửa Văn Úc tại Đồ Sơn, sông Văn Úc đã hợp lưu và phân lưu với một số nhánh như sông Hương (có đoạn gọi là sông Rạng) nên nó có được một sự cân bằng rất tốt cho lưu lượng dòng chảy quanh năm. Nó chính là một nhánh tay Hổ khá tốt xét về mặt tổng thể. Tuy nhiên, như một sự trớ trêu của tạo hóa mà khi bắt đầu đoạn sông đổ ra cửa biền Đồ Sơn thì tay Hổ Văn Úc đang đi vào từ cung Tây Nam (Quẻ Khôn tượng trưng cho Đất – Mẹ) bỗng đổi hướng rẽ ngoặt xuống hướng Tây Bắc – cùng cung hướng với Tay Long tạo thành một thế rất xấu là phản cung Thủy và tạo nên thế Long Hổ vô tình, trở thành tay Hổ vô tình với Đồ Sơn, làm giảm đi đáng kể lượng nước đổ vào khu tiểu vịnh Đồ Sơn cũng đồng nghĩa là nguồn sinh khí giảm thiểu, lại thêm bị cái hại của thế phản cung Thủy thì vùng đất này tất khó tránh khỏi cái họa tiểu nhân và đàn bà (theo quan điểm tâm linh). Trái lại tay Hổ là sông Văn Úc này lại kết hợp với Tay Hổ là sông Lạch Tray ôm vòng tạo ra một vùng đất khá trù phú bên cạnh Đồ Sơn là huyện Tiên Lãng. Nhược điểm ở chỗ tay Hổ lại hơi có tư thế doãi ra, ngoảnh đi làm cho huyệt Long bị tán khí! Điều này ứng với “Thê thiếp, tiểu nhân - Người dưới lấn áp bề trên”. Và như thế huyệt này cũng không thành chân Long đích huyệt. Hiểu rõ điều này nên các vị cao tăng Ấn Độ xưa và Vua Lý Thánh Tông sau này đã cho dựng tháp để tụ khí mạch, tạo uy thế cho tay Long, áp chế tay Hổ, để giúp nơi đây thành một huyệt đất quý.

Nền móng của tháp Tường Long được phát hiện tình cờ vào cuối năm 1972 khi bộ đội, dân quân Đồ Sơn đào hào xây dựng trận địa phòng không chống máy bay Mỹ.

Khi đó các cán bộ của Bảo tàng Hải Phòng đã đến ghi chép, mang mẫu gạch móng về thẩm định. Cuối tháng 2 năm 1978, Viện khảo cổ học Việt Nam kết hợp với Sở Văn hóa thông tin Hải Phòng tiến hành khai quật tháp Tường Long lần thứ nhất để tìm hiểu về kiến trúc thời Lý ở Hải Phòng.

Hai mươi năm sau, vào 1998 tháp được khai quật lại với mục đích giữ chân móng tháp làm “bảo tàng ngoài trời”, chuẩn bị cho phỏng dựng lại ngôi tháp cổ này ở gần với chân móng ngôi tháp cũ. Nhờ hai cuộc khai quật nền tháp, chúng ta đã có những hiểu biết cơ bản về kiến trúc, đề tài trang trí, chất liệu xây dựng của ngôi tháp...

Qua 2 cuộc khai quật, người ta thấy phát lộ 2 nền móng tháp giống nhau về cơ bản, chỉ khác nhau về kích thước. Phải chăng vào thời Lý người ta không chỉ xây một mà là 2 tháp, hay là tháp Tường Long được xây gần chân móng tháp Asoka cổ? Tất cả còn đợi câu trả lời của các cuộc khai quật nghiên cứu quy mô hơn.

Tháp Tường Long ngoài giá trị lịch sử, văn hóa - nghệ thuật và tâm linh còn có giá trị quân sự.

Sách “Đại Nam Nhất thống chí” triều Nguyễn chép: “Tháp cũ Đồ Sơn ở xã Đồ Sơn huyện Nghi Dương cao 100 thước”. 1 thước ở thời Nguyễn (thước ta) bằng 0,425 mét, suy ra tháp Tường Long phải cao hơn 40 m. Với triều cao ấy, lại ở trên đỉnh núi cao 168 m thì tháp không chỉ là biểu tượng sùng Phật của một vị minh quân triều Lý mà còn trở thành một đài quan sát bờ biển, cảnh báo kẻ thù xâm phạm từ xa.

Tháp Tường Long có thể còn nắm trong hệ thống “phong hỏa đài”, ban ngày người ta có thể dùng khói, ban đêm đốt lửa  báo hiệu cho các trạm thông tin kế tiếp truyền báo về kinh đô trong điều kiện thông tin liên lạc đơn sơ ngày xưa. Đài quan sát này cũng đồng thời được coi như một vọng gác tiền tiêu bảo vệ vùng ven biển Đông Bắc Tổ quốc ta thời bấy giờ.

Có thể nói, tháp Tường Long là tháp cao thứ hai (sau tháp Báo Thiên ở Thăng Long cao 70 m) trong hệ thống các tháp chùa được xây dựng dưới thời nhà Lý.

Năm Gia Long thứ 3 (1804), tháp Tường Long bị phá vỡ, lấy gạch xây thành trấn Hải Dương theo chủ trủ trương của ông vua đầu triều Nguyễn. Thật không bình thường khi phải phá đi một ngọn tháp nói lớn thì cũng không sai, nhưng để xây một tòa thành thì vật liệu của nó thật chẳng thấm tháp gì, lại thêm sự vận chuyển xa xôi, khó khăn ?

Có thể nói, ở đây việc phá tháp nằm trong mục đích phá thế phong thủy của Đồ Sơn đất nghịch (theo chủ trương của các ông vua luôn lo sợ mất ngai vàng). Họ cho phá hết những gì đe dọa sự trường tồn của triều đại mình. Thêm nữa bài học Mạc Đăng Dung phản nhà Lê, Phan Bá Vành, Nguyễn Hữu Cầu khởi nghĩa chống triều đình Lê-Trịnh còn nóng hổi thì việc phá hoại Tháp Tường Long chắc chắn nằm trong âm mưu thay đổi thế phong thủy có hại cho triều đình. Chuỗi sự kiện này còn kéo dài tới tận đời vua Minh Mạng như phá Phượng Hoàng Trung Đô (Nghệ An) của vua Quang Trung, phá Thành Hà Nội để xóa bỏ sinh khí của một đất đế đô trên 700 năm lịch sử với rất nhiều các bậc hiền tài vốn là nguyên khí quốc gia.

Trong bài viết của mình, tác giả - kiến trúc sư Ngô Huy Giao còn điểm số phận bi thảm của tháp Tường Long như sau:

“Tháp có 12 tầng. Năm 1288 bị sét đánh đổ ngọn. Năm 1322 lại bị sét đánh sạt 2 tầng trên. Năm 1426, giặc Minh phá tháp lấy đồng làm vũ khí. Năm 1791 triều đình Lê phá tháp lấy gạch tu bổ thành Thăng Long”.

Đến thời Pháp đô hộ, chính quyền thực dân đã đào xới tháp, lấy đi nhiều bảo vật bằng đá, đồng và chặt đầu tượng Phật Adi Đà mang về Pháp.

Với sự phá hoại như vậy, một kỳ quan văn hóa nay chỉ còn sót lại chút tàn tích khiến chúng ta không khỏi xót xa. Vậy nên việc nghiên cứu, phỏng dựng lại tháp Tường Long không chỉ là yêu cầu bảo tồn bản sắc văn hóa của cha ông mà còn nhằm mục đích hội tụ khí thiêng sông núi của phong thủy Đồ Sơn như đã trình bày ở trên.

Theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Văn hóa - Thông tin về việc hưởng ứng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2008 Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố Hải Phòng đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng  quần thể di tích lịch sử tháp Tường Long tại quyết định số: 920/QĐ-UBND với tổng mức đầu tư là 179 tỷ, 700 triệu đồng. UBND thành phố Hải phòng đã giao UBND quận Đồ Sơn làm chủ đầu tư công trình. Với quy mô của dự án, đây sẽ là một công trình kiến trúc phật giáo lớn nhất vùng Duyên hải Bắc bộ nằm trong tuyến du lịch trọng điểm quốc gia Đồ Sơn - Cát Bà - Vịnh Hạ Long. Công trình này không những góp phần tích cực vào việc bảo vệ, lưu giữ những giá trị lịch sử văn hoá dân tộc mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng, phát triển Hải Phòng nói riêng và đất nước nói chung.

Theo Đề án thiết kế, tòa tháp được xây mới theo dạng phỏng dựng cao 36,09 m, gồm 13 tầng, bên cạnh nền móng tháp cũ. Chân tháp hình vuông có kích thước 25,86 m x 25,86 m, được tổ chức 4 lối lên xuống đăng đối nhau, bên trong là tượng A-Di-Đà ngồi trên tòa sen bằng đá, vốn đầu tư 17,4 tỷ đồng.

Tòa tháp này chỉ được phỏng dựng thay vì phục dựng bởi những dấu tích tháp cũ còn sót lại rất ít, chủ yếu là nền móng trong khi không có tài liệu nào ghi chép về kiến trúc của tháp này.

Cùng với việc phỏng dựng lại tháp Tường Long, Dự án còn bao gồm các hạng mục như xây dựng nhà che hố khảo cổ- nơi tìm thấy dấu tích tháp Tường Long; nhà che bia và tôn tạo chùa Tháp. Tổng vốn đầu tư của dự án là 179,7 tỷ đồng, trong đó riêng vốn để tôn tạo chùa Tháp (80 tỷ đồng) hoàn toàn được huy động từ xã hội hóa. Công trình này đã và đang được tiến hành. Dự kiến dự án án này sẽ hoàn thành vào năm 2015 và khu di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia này sẽ trở thành một điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

...

(1) “NêLê” theo tiếng Phạn của Ấn Độ cổ nghĩa là “bùn đen”.

(2) Đô thị Luy Lâu nằm giữa khu vực giao nhau giữa Sông Dâu và Sông Đuống thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Luy Lâu thời Bắc thuộc là trung tâm chính trị - kinh tế - thương mại, trung tâm văn hóa - tôn giáo lớn và cổ xưa nhất của Việt Nam.

Phạm Văn Thi

(CLB Hải Phòng học)

Đền Chợ Giá Mỹ Giang

Mời các bạn về xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng. Chúng ta cùng tới chiêm bái Đền Chợ Giá Mỹ Giang- Di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng. Đền Chợ Giá nằm trong khuôn viên rộng 2.366m2, tục truyền được xây dựng từ thời nhà Lý (1010-1225) dành để tôn thờ thánh nữ Càn Quý cô nương Phạm Đình Quân công chúa Phổ Thị Huyền là con cụ Phổ Danh Nguyên, chị gái của 2 vị dũng tướng Phổ Hóa và Phổ Hộ, có công âm phù giúp vua Lý đánh giặc Nguyễn Ngao.

alt

Tục truyền Thượng Công hộ giá vua Nhân Tông đem đại quân ra vùng cửa biển Bạch Đằng đánh giặc Nguyễn Ngao. Đêm xuống, nhà vua nghỉ lại tại chùa Giang Tân cạnh An Lâm thị (tức chợ Giá- Mỹ Giang). Nửa đêm, nhà vua nằm mơ thấy một người con gái trẻ kiều diễm đến bên, quỳ xuống tâu rằng: “Thiếp là con gái họ Phổ ở trang này, do phận mỏng bị mất sớm, không thể trực tiếp theo giúp đánh giặc cứu nước, cứu dân. Thiếp có hai người em trai văn võ toàn tài, có thể giúp vua dẹp tan giặc dữ và thiếp xin được âm phù trợ lực cho đại vương”.

Khi tỉnh dậy, nhà vua liền sai triệu tập các bô lão và dân chúng quanh vùng An Lâm thị hỏi sự việc xảy ra trong giấc mơ. Sau khi đã rõ sự tình, vua bèn sai người ra chợ Giá vời anh em Phổ Hộ và Phổ Hoá đến bên, hỏi về kế sách đánh giặc, cả hai trả lời rất lưu loát và đều xin được tòng quân giúp nước. Trận này, nhờ có Thượng Công chỉ huy đạo quân thủy phối hợp ăn ý với cánh quân bộ do hai tướng Phổ Hộ và Phổ Hoá làm tả hữu tiên phong, quân ta thắng to, tướng giặc Nguyễn Ngao bị bắt sống. Đầu năm mới, du xuân về đất Kênh Giang và chiêm bái Đền Chợ Giá đã để lại những kỷ niệm đẹp.


CB

Đình và Chùa An Dương

ĐÌNH VÀ CHÙA AN DƯƠNG - DI TÍCH CÁCH MẠNG

alt

Làng An Dương huyện An Dương là một làng cổ xứ Đông vốn thuộc tổng An Dương; thời thuộc Pháp một phần đất của làng cắt chuyển vào nội đô để làm ga xe lửa, nhà thương bản xứ (Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp nay), nghĩa địa Tây nên phần đất còn lại vẫn mang làng cũ nhưng chuyển thuộc tổng An Lạc huyện An Dương. Qúa trình đô thị hóa, chính quyền pháp còn đặt sân thể thao làm hồ quẹt, lưu giữ các gò đổng nhiều cây cối cho học sinh cắm trại... Về công nghiệp chỉ có vài xưởng thuộc da, nhà máy gạch Tần Tài Đông của Hoa kiều và bến tầu sông thường gọi là bến Nguyễn Hữu Thu, ở đây chính quyền Pháp đặt bãi rác của thành phố. Riêng các công trình văn hóa cổ của làng như: chùa, miếu, đình văn chỉ đều nằm ở khu trung tâm, dù trải qua bao biến cố lịch sử xã hội vẫn được nhân dân giữ gìn, tôn tạo. Theo lịch sử đảng thành phố, quận, phường, tiểu sử một số cán bộ lão thành như Vũ Văn Tấn, quê làng Vĩnh Khê, Vũ Văn Quý, quê làng Cống Mỹ đều thuộc huyện An Dương, đặc biệt là hồi ký cách mạng của đồng chí Nguyễn Công Hòa do mai Quân ghi mang tên con đường sống duy nhất kể rõ việc đồng chí trọ ở nhà bà cụ là người ở của chủ nhà máy gạch Tần Tài Đông. Khi chủ nhà máy phá sản, nhà máy trở lên hoang tàn, nhưng bà cụ vẫn ở lại ngôi nhà cũ. Chiến sỹ cộng sản trẻ Nguyễn Công Hòa thuê được gian gác xép gần ống khói nhà máy do có người đồng chí làm thợ cho một hiệu bánh kẹo trên phố khách thi thoảng mới về thăm mẹ rồi đi ngay. Cho nên nơi này có nhiều người lao động, công nhân ở trọ, trong đó có một số người là đảng viên cộng sản, là hội viên Hội thanh niên đồng chí.

Nhà Nguyễn Công Hòa, vườn đình, vườn chùa An Dương là nơi họ hội họp bàn công việc được Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ, Tỉnh ủy Hải Phòng phân công. Dịp tết Canh Ngọ (1990) Nguyễn Công Hòa được triệu tập đến trụ sở Tỉnh bộ ở Quần ngựa, Nguyễn Đức Cảnh giao nhiệm vụ bố trí chỗ ăn ở làm việc cho 2 cán bộ Trung ương về kiểm tra và chỉ đạo phong trào là đồng chí Giáp, đồng chí Hai Cao (sau đồng chí Hòa mới biết Hai Cao là Trần Phú) ít lâu sau chỉ còn Trần Phú ở lại. Đồng chí nói với chủ nhà mình là công nhân mỏ vàng Danh thất nghiệp tìm về Hải Phòng kiếm việc. Đồng chí thăm đường đi lối lại trong xóm, đặc biệt chú ý cái ống khói nhà máy. Đồng chí đặt kế hoạch chương trình rất sát sao. Lúc giải lao tranh thủ quét sân, băm bèo giúp cụ chủ nàh nên bà cụ mến lắm. Ngày ấy quỹ Đảng nghèo, hai anh em chỉ xin đủ tiền đong gạo, rau quanh vườn đình, vườn chùa không thiếu. Cạnh gác xép có một ao to lắm  cá. Trần Phú kiếm một cần câu , câu được nhiều cá thừa ăn lại biếu bà cụ chủ nhà mà không hết. Từ khu đình chùa An Dương Nguyễn Công Hòa bí mật đưa Trần Phú đi khảo sát khu công nhân Máy Tơ, Máy Bát (nay thuộc Ngô Quyền), nhà máy Nến, nhà máy Cống.... ở đây có lần 2 đồng chí suýt bị bắt, nếu không có sự tỉnh táo, bình tĩnh của Trần Phú. Một bữa 2 anh em đang  làm việc trên gác xép, bỗng có tiếng quát tháo đòi mở cổng của cút lít, trong khi bà cụ chủ nhà cố trùng trình thì Trần Phú đã gói xong tài liệu dòng dây thả xuống ống khói. Nguyễn Công Hòa định xuống gác thì Trần Phú giữ lại, vừa lúc đó tại cút lít hỏi nhà bà nuôi mấy cón lợn, thực ra chỉ có 2 con, nhưng chúng bảo còn 2 con nữa chạy rộng ra phố. Bà cụ mở hầu bao xin nộp phạt 4 con để chúng rút đi.

Nguyễn Công Hòa cho biết, thời gian công tác ở Hải Phòng, Trần Phú đã tham gia góp nhiều ý kiến quý báu cho các cơ sở, cho lãnh đạo Hải Phòng và riêng Nguyễn Công Hòa được Trần Phú dạy thêm văn hóa, bồi dưỡng tư tưởng, phương pháp tác phong công tác. "Và cũng mãi sau này vào nhà tù, nghe anh em nói lại tôi  mới biết người đã chung sống với tôi ngót 2 tháng trời trong gian gác xép ở xóm thợ An Dương là đồng chí Tổng bí thư Đảng". Ngày 28/4/1987, Ban thường vụ Thành ủy HP tổ chức hội nghị khoa học. Những điều kiện thành lập Đảng bộ HP, bác Nguyễn Công Hòa về dự, sau hội nghị đồng chí Phạm Bà Chi và tôi đến hỏi một vài vấn đề lịch sử, nhân tiện bác nhắc đến cơ sở cách mạng xóm thợ An Dương. Thời kỳ mặt trận dân chủ 1936-1939, gia đình cụ Vũ Văn Tiện  (quê ở Làng Cống Mỹ làm ở công ty vệ sinh đặt ở khu bãi rác An Dương) là cơ sở cách mạng của Đảng, 2 con cụ Vũ Quý, Vũ Phú, chúng tra khảo chết ngay tại chỗ. Hiện cả hai anh em đã được công nhận là liệt sĩ. Gia đình cụ Vũ Văn Tiện được công nhận di tích cách mạng cùng bằng có công với nước. Thời kỳ mặt trận Việt Minh, đồng chí Lê Thanh Nghị và một số đồng chí được cơ sở cách mạng làng An Dương bảo vệ, đồng chí đã kết hôn với một cán bộ Việt Minh, người họ Đào làng này. Như vậy khu vực đình chùa An Dương là cơ sở cách mạng liên tục từ 1929 đến tổng khởi nghĩa. Rất tiếc, khu vực này chưa được phát huy, dân cư thay đổi qua quá trình đô thị hóa nếu không kịp thời bảo vệ xếp hạng thì việc dân lấn chiếm khuôn viên di tích chắc ngày càng gia tăng.

 

Ngô Đăng Lợi

Biểu tượng “Hạt giống đỏ” tại vườn hoa Nguyễn Du, Hải Phòng

Cách đây hơn 60 năm, sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, nhiều con em cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam được gửi ra miền Bắc đào tạo, chuẩn bị đội ngũ cán bộ phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chấn hưng đất nước sau ngày thống nhất. Vào thời điểm những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, 28 trường học sinh miền Nam nội trú được thành lập tại miền Bắc với hàng chục nghìn học sinh là con em đồng bào miền Nam mà sau này Bác Hồ gọi là “những hạt giống đỏ” được học tập, rèn luyện trưởng thành. Ngày ấy, Hải Phòng là một trong những địa phương tiếp đón, đùm bọc và “ươm mầm” nhiều “hạt giống đỏ” của miền Nam ruột thịt. Dưới sự che chở của nhân dân thành phố Cảng, nhiều học sinh miền Nam trưởng thành có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

alt

Với tâm nguyện muốn có công trình lưu lại những kỷ niệm về một thời những người con của miền Nam được nhân dân thành phố Cảng đùm bọc, giúp đỡ, sinh sống, học tập trong giai đoạn đất nước cam go, mong muốn của các cựu học sinh miền Nam phù hợp với chủ trương của thành phố về xây dựng các công trình mỹ thuật tại dải vườn hoa trung tâm. Công trình “hạt giống đỏ” được xây dựng thỏa nguyện mong ước của cả nhân dân Hải Phòng và những người con miền Nam gắn bó một thời với thành phố Hoa phượng đỏ. Công trình có quy mô không lớn, nhưng thật ý nghĩa, chứa đựng những tình cảm sâu sắc, lấy hình tượng đôi bàn tay che chắn tượng trưng cho Đảng bộ và nhân dân thành phố Hải Phòng, địa phương có nhiều trường học sinh miền Nam nhất miền Bắc, bao bọc hạt giống đỏ tượng trưng cho cựu học sinh miền Nam. Biểu tượng được đặt tại vị trí trang trọng tại vườn hoa Nguyễn Du, với khuôn viên rộng gần 60m2, riêng diện tích khối đế rộng 17,5m2, chiều cao tổng thể 4,5m. Nền đế là tảng đá xanh nguyên khối được vận chuyển ra từ Thanh Hóa, địa phương đầu tiên tiếp nhận học sinh miền Nam. Đôi bàn tay được chế tác từ đá ngọc bích nguyên khối. Toàn bộ biểu tượng đặt trên thảm cỏ xanh, giống như mảnh đất tốt tươi ươm mầm những “hạt giống đỏ” của miền Nam thành đồng. Qua đó, mỗi người dân Hải Phòng càng thêm tự hào về truyền thống “nhân ái, nghĩa tình”. Biểu tượng “Hạt giống đỏ” sẽ sống mãi trong lòng những người con miền Nam từng học và sinh sống tại Hải Phòng.

PV (Tổng hợp)

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay144
mod_vvisit_counterHôm qua125
mod_vvisit_counterTất cả48505
Hiện có 34 khách Trực tuyến