Tôi chong đèn đọc thơ văn Đức Tổ Trí Hải đêm nay- Thích Thanh Tùng

Bức ảnh Đức Tổ Trí Hải chụp bán thân màu đen trắng còn đậm nét, có lẽ được mang từ ngoài Bắc vào, treo trong phòng khách thầy tôi là hình tượng quen thuộc mỗi ngày với tôi, khi tôi còn làm Sa di đang tu học ở chùa Giác Hoa vùng Gia Định nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

alt

Thời đó, mỗi khi rảnh việc, thầy tôi thường kể lại cho chúng tôi nghe những câu chuyện xưa về Tổ. Đến năm 1979, Tổ đi tàu biển vào thăm Phật giáo đất phương Nam và tôi được tận mắt trông thấy Tổ bằng người thật. Tôi còn nhớ một buổi sáng trong phòng thầy tôi tại chùa An Lạc, thầy tôi y áo quỳ lạy Tổ và khóc, Tổ cũng khóc nữa. Hằng ngày, tôi được giao việc bưng cơm nước thị giả Tổ. Tổ lưu lại thành phố Hồ Chí Minh một thời gian ngắn và trở về Bắc một tháng sau, viên tịch tại chùa Phật Giáo Hải Phòng. Bây giờ đang mùa hạ Chư tăng an cư, đêm nay tôi ngồi chong đèn đọc thơ văn Tổ viết để lại và tìm hiểu Tổ đã hiện thân với phong cách nào qua thơ văn.

Đọc tập Hồi Ký Thành lập Hội Phật Giáo, chương Phật Học Tùng Thư, ngay phần mở đầu Tổ đã xác định mục tiêu của tổ chức là trước tác phiên dịch kinh sách bằng chữ quốc ngữ để phát hành truyền bá Phật pháp sâu rộng trong quần chúng.

Vậy thì, phong cách đầu tiên Tổ hướng tới là tính quần chúng.

Tính quần chúng

Bắt đầu từ chuyện ngụ ngôn. Loại chuyện này rất thích hợp với người bình dân ít học, không kể trẻ già ai cũng thích đọc, nhất là được viết với thể thơ lục bát song thất giản dị gần với ca dao. Câu chuyện Con Cáo bị Cành Cây Đập nói về sự vô minh của người đời sống với cái bóng không thật, nghĩ tưởng là thật. Không dám về ngôi nhà thật của mình. Đây là bi kịch của trần gian:

Có con cáo ở cành cây nọ
Gió rung cành đập vỡ tứ tung
Cúi đầu chạy thẳng dám trông
Suốt ngày quanh quẩn vẫn không dám về.
Chiều trông thấy cành kia động đậy
Tới nơi lại được phủ che
Tháng ngày lại được mọi bề yên vui
Ví kẻ bị thấy hơi nói động
Đã vội vàng làm nũng bỏ đi
Thân tâm lêu lổng hay gì
Ba năm cóc chết lại về núi thôi. (1)

Bút của Tổ viết dễ như dạo chơi. Tổ thường hay dùng thể thơ này vì nó gần gủi người Việt. Người xưa dùng hai câu của thất ngôn đường luật phối hợp với hai câu lục bát làm thành thể thơ hoàn toàn Việt Nam, âm điệu giàu hơn thơ đường. Nhưng trên thực tế, người Việt dùng lục bát viết ca dao nhiều hơn song thất lục bát. Bài chị ru em trong gia đình giáo dục, Tổ viết như hát ru dân gian:

Em ơi, em hỡi, em hời
Em ăn, em ngủ, em chơi chị mừng
Tham, ngu, giận em đừng có vướng
Ôn, nhu, hòa, em tưởng luôn luôn
Sau này em lớn em khôn
Học hành chăm chỉ lòng son chớ rời
Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời
Chị mong em tiến kịp người mới nên
Nên nhớ rõ thánh hiền thuở trước
Tốn bao công vì nước vì nhà
Hạ hơi, hạ hỡi, hỡi hà
Bao nhiêu công việc nước nhà mai sau.
Hết thảy đều trông vào em cả
Cơ nghiệp này em chớ bỏ rơi
Hạ hơi, hạ hỡi, hỡi hà
Em nên nhớ lấy những lời chị khuyên
Lễ, nghĩa cùng gương liêm xỉ nọ
Ăn mặc và chỗ ở đường đi
Từ nay em phải xét suy
Mượn hơi người thở có khi nào thành
Tài, trí, năng thân mình đầy đủ
Bao điều hay, chớ bỏ lỡ thời
Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời. (2)

Thời của Tổ, người mẹ thường nằm trên võng ru con hay chị ru em ngủ bằng những lời hát ru quen thuộc nơi đồng bằng Bắc bộ:

Cái cò cái vạc cái nông
Sao mày dẫm lúa (i i) nhà ông hỡi cò
Không không tôi đứng trên bờ
Mẹ con nhà nó (i ii ư) đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin thì ông đi đòi
Mẹ con nhà nó (i i i a) vẫn ngồi đây (i i i) kia. (3)

Tổ làm theo loại hát ru này cho dân gian ru con bằng Phật pháp. Đứa trẻ lớn lên bằng điêu ru này, tâm hồn nó sẽ có lòng từ bi nhân hậu một cách tự nhiên. Tổ làm nhiều thể loại để giáo hóa mọi tầng lớp xã hội. Có khi thơ Tổ phảng phất hơi Kiều mà rất dân gian. Đọc đến đâu hiểu đến đó không cần người giải thích:

Sửa sang đón rước linh đình
Hương hoa chất đống, chật thành ngựa xe. (4)

Hai câu này viết trong bài Phật Vào Thành Vương Xá thuộc thể loại Phật hóa tiểu thuyết của Tổ. Rồi có hai câu khác cũng giống như thơ Kiều:

Khác nào hoa nở tối tàn
Cá kia gặp nước, rồng thời gặp mây. (5)

Câu này diễn tả cảnh Phật về thăm nhà, thuyết pháp độ cho vua cha về cảnh đời vô thường đến với tất cả mọi người không phân biệt ai sang ai hèn.

Khi vua cha tịch, lễ hỏa táng cử hành trang trọng nghi ngút mùi hương:

Cùng nhau sắm sửa đặt bầy
Lập đàn hỏa táng, chất đầy trầm hương. (6)

Thử đọc đôi câu Kiều lên, sẽ thấy không khác. Chất thơ Kiều, tôi nghĩ, Tổ cố ý đưa vào cho câu truyện kể nghe thêm ly kỳ và đúng nghĩa Phật hóa tiểu thuyết:

‘Trong các kinh sách Phật, có rất nhiều truyện ly kỳ thường gọi tỉnh những tâm hồn mê mộng sa ngã, khiến cho cải tà quy chính, toàn là những chuyện bổ ích cho nhân tâm thế đạo, phong hóa, luân thường.

....................................

Nay muốn cho ai ai cũng hiểu đúng, tôi xin thành tâm cố gắng biết đến đâu tâu đến đấy, lược trích những cốt yếu trong các truyện biến thành bộ sách toàn là truyện trong đạo Phật, nên gọi là Phật hóa tiểu thuyết'. (7)

Người ta không khỏi kinh ngạc thời đó Tổ đã ý tưởng hoằng pháp rất mới. Sau này ở miền Nam thập niên 1965-1975 nhà thơ Phật giáo Phạm Thiên Thư dùng từ hơi khác là thi hóa kinh Phật, như kinh Ngọc thi hóa từ kinh Kim Cương, kinh Hiền thi hóa từ kinh Hiền Ngu.

Đọc thơ văn Tổ rất thú vị, tôi thấy bên cạnh tính quần chúng đậm đà còn hiện lên tính thời sự nồng nàn vì con đường hành đạo của Tổ là chấn hưng Phật giáo không có thời gian .

Tính thời sự

Tổ đặt câu hỏi rất thời sự trước tình trạng suy đồi của Phật giáo Việt Nam thời ấy trong một bài viết: ‘Tại sao phải chấn hưng Phật giáo’. Nhân Gian Phật Giáo Đại Cương, Hồi Ký Thành Lập Hội Phật Giáo Viêt Nam, và Phật Giáo Việt Nam là ba tác phẩm quan trọng của Tổ viết phản ảnh rõ thời sự Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Việt Nam cần phải làm gì để chấn hưng.

‘Vì chưa đóng kịp bàn ghế cho học sinh trường đành dùng tạm án thư, trường kỷ, đôn. Cụ Lương Trúc Đàm dạy bên nam, cô Năm dạy bên nữ. Những cái đầu để chỏm ở giữa hoặc trái đào hai bên, chen với những mớ tóc đen nhánh quấn trong vành khăn nhiễu tam giang. Hết thảy đều cặm cụi, bậm môi tô những chữ a, chữ o, chữ e trên giấy (8). Sách 'Đông Kinh Nghĩa Thục' của Nguyễn Hiến Lê nói đây là lớp học đầu tiên của Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907.

Thời kỳ này phong trào học chữ quốc ngữ bắt đầu phôi thai và rất có ý nghĩa với cuộc vận động thống nhất chấn hưng Phật giáo Việt Nam sau này của Tổ.

Tổ gốc quê làng Quần Phương Trung, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Tổ sinh ra và trưởng thành trong thời gian này.

Năm 17 tuổi, Tổ xuất gia tại chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, thờ sư cụ Thích Thông Dũng làm Tôn Sư. Nuôi chí lớn chấn hưng Phật giáo, năm 25 tuổi, Tổ quyết định thành lập Lục Hòa Tịnh Lữ:

‘Từ đấy, chúng tôi quyết định tìm phương cách thành lập Hội Phật Giáo. Nhưng nếu không có phép tắc hẳn hoi thì rất dễ bị ghép tội hoạt động bất hợp pháp và sẽ dẫn đến tan vỡ. Bấy giờ chúng tôi phỏng theo lối tổ chức Hội Liên Xã ở các sơn môn vẫn có xưa nay.

...............

Có điều khác là chúng tôi không lấy tên Hội, vì từ 'Hội' có vẻ to tát quá, nên chúng tôi lấy tên là ‘Lục Hòa Tịnh Lữ'; có nghĩa là những người trong sạch làm bạn cùng nhau, tu theo Sáu phép hòa thuận của Đức Phật'. (9)

Thời gian của Lục Hòa Tịnh Lữ, Tổ hội ngộ được các trí thức Phật giáo tâm huyết cùng chí hướng như cụ Lê Toại thường viết bài về việc chấn hưng Phật Giáo; cụ Trần Văn Giác người Trà Vinh là hội viên hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học; cụ Nguyễn Hữu Kha Thiều Chửu đang dịch bộ Phật Học Từ Điển; và cụ Vũ Đình Chung hội trưởng Hội Đông Dương Liên Hữu Tương Tế.

Có một điều rất cảm động là những người này là những cư sĩ trí thức Phật giáo có vai trò hạt nhân ban đầu cùng với trí tuệ của Tổ đã đặt nền tảng cho những giai đoạn tổ chức thống nhất Phật giáo Việt Nam sau này được thành công.

Cũng thời gian này, khoa thi Hán cổ đã bị bãi bỏ. Trên thi đàn xuất hiện những bài thơ mới. Rồi những cuộc khẩu chiến về thơ mới thơ cũ xảy ra nẩy lửa. Cuối cùng, thơ mới được chấp nhận trên thi đàn. Và xuất hiện những tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ có nhiều độc giả ái mộ.

Xã hội Việt Nam đang chuyển mình thì Phật giáo càng cần sớm thay đổi để thích hợp với thời đại mới.

Do đó, Phật Học Tùng Thư được thành lập 1932. Và hai năm sau mới chính là mốc thời gian lịch sử của cuộc vận động chấn hưng thống nhất Phật giáo: Hội Phật Giáo Bắc Kỳ ra đời và trụ sở đặt ở chùa Quán Sứ, Hà Nội. Lúc này quả là thời kỳ vàng son của Hội.

Hội đã tụ họp được những nhà trí thức nổi tiếng và thỉnh được Đức tổ Thích Thanh Hanh để suy cử làm Thiền Gia Pháp Chủ của Phật giáo miền Bắc.

Và báo Đuốc Tuệ ra đời. Chủ bút là Hòa thượng Phan Trung Thứ và trưởng ban biên tập- nhà sử học Trần Trọng Kim cùng với các cây bút nổi tiếng như nhà nho Dương Bá Trạc, nhà văn Đồ Nam Tử, nhà báo Sở Cuồng Lê Dư, và nhà Phật học Thiều Chửu...

Năm tháng trôi qua, ‘Hội vẫn tích cực in kinh sách và báo Đuốc Tuệ vẫn phát hành như thường lệ. Hội còn trù bị xuất bản một tờ nhật báo lấy tên là 'Tinh Tấn' nhưng vì giấy khan hiếm nên chỉ mới ra mỗi tuần ba kỳ vào các ngày thứ ba, thứ năm, thứ bảy’ (10). Báo Đuốc Tuệ hoạt động đến năm 1945 được 11 năm và đổi tên là Diệu Âm lúc này Tổ Tố Liên làm chủ bút. Và tên Hội cũng được đổi là Hội Phật Giáo Việt Nam theo sắc lệnh chính phủ.

Tuy nhiên, việc thống nhất Phật giáo Việt Nam vẫn cứ là vấn đề thời sự. Cho nên 'ngày 10 tháng 4 năm 1951, ba vị Pháp Chủ đại diện cho Phật giáo toàn quốc đã ra lời hiệu triệu chiêu tập kỳ họp đại hội đồng để thành lập Hội Phật Giáo Thống Nhất toàn quốc'.

'Kết quả, hội nghị đã nhất trí thông qua bản điều lệ và nội quy của Hội cũng như bầu được ban tổng trị sự cùng các ủy viên. Đúng 18 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1951 hội nghị bế mạc'. (11)

Hội lấy tên là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.

Đến giai đoạn này, Phật Giáo Việt Nam đã bắt đầu hướng về quốc tế. Nhưng cuộc vận động thống nhất Phật Giáo vẫn chưa kết thúc. Phật giáo Việt Nam muốn thay danh xưng Tổng Hội ra Giáo Hội cho chính danh của một tổ chức Tôn giáo dân tộc mà lịch sử Việt Nam mặc nhiên thừa nhận.

Ngay phần mở đầu chương 'Giáo Hội Tăng Già Việt Nam' của Hồi Ký, Tổ viết:

'Có người hỏi: trong Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đã có Tăng già rồi nhất là viện Tăng Thống đã giữ phần tối cao cho toàn thể Phật giáo, cùng chung một tôn chỉ, mục đích là hoằng dương Phật pháp, giữ vững tinh thần dân tộc... Sao lại còn phải tổ chức Giáo Hội tăng Già Việt Nam? Giáo hội với Hội Phật Giáo có khác gì đâu?

Đứng về phương diện Hội mà nói tức là hiệp hội, các hội liên hiệp lại cùng nhau lập một hội để tiến hành theo chung một mục đích. Đây phải được nhà nước cho phép hay bắt giải tán. Hoặc tự những người trong tổ chức hội không muốn liên hiệp cùng nhau nữa, tự động giải tán và chỉ báo lại cho Nhà Nước là tan hội. Đối với pháp luật không còn gì nữa.

Còn nói về Giáo hội: chỉ những người thuần túy triệt để tín ngưỡng theo tôn chỉ giáo lý của vị giáo chủ sáng lập ra (thí dụ như Đức Phật Thích Ca sáng lập ra Phật Giáo), truyền bá giáo pháp của Ngài đã chứng ngộ cho chúng sinh nói chung, nói riêng là những người thay Ngài trong khi còn tại thế cũng như lúc Ngài đã viên tịch để duy trì, truyền bá giáo pháp ấy càng ngày càng sâu rộng và đời đời còn mãi.vậy phải là những người chân chính xuất gia như các tăng ni mới đảm nhiệm được việc đó, cũng như con cái giữ gìn cơ nghiệp của cha mẹ. Còn những người tại gia tu theo Phật pháp chỉ như những người học trò với thầy giáo thôi'. (12)

Đọc những dòng viết trên của Tổ, tôi không khỏi kinh ngạc, sững sờ tự hỏi tại sao thời đó Tổ lại có cái nhìn quán triệt về danh xưng tổ chức như vậy nhất là có lần tình cờ khi đọc 'A Study of History' (nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải) của Anold Tonynbee định nghĩa về xã hội:

‘Xã hội là hệ thống hoàn chỉnh của những liên hệ giữa con người với nhau. Do đó, các thành tố của xã hội không phải là những con người mà là những liên hệ giữa họ với nhau. Trong một cấu trúc xã hội, ‘các cá nhân chỉ là những foci (tiêu điểm) trong hệ thống liên hệ'. Bức tranh minh họa nổi tiếng tên sách Leviatthan của Hobbes hình dung xã hội như một người khổng lồ gồm vô số những hình người bằng người thật, là một hình dung nhân hình hóa sai lầm về hiện thực. Vì vậy, người ta luôn nói tới con người như những 'thành viên' của xã hội hay của một thể chế nào đó tạo thành xã hội (chẳng hạn: một câu lạc bộ, một giáo hội, một giai cấp, một gia đình, một 'nghiệp đoàn'). Một tập hợp người có thể nhìn thấy và sờ thấy không phải là một xã hội mà là một nhóm. Khác với một xã hội, một nhóm có thể tụ lại, tan ra, có thể chụp ảnh được hoặc bị tiêu hủy'. (13)

Và cuối cùng, bản quy chế của Giáo hội được thông qua, Giáo Hội lấy tên là Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, vào ngày 14/9/1952.

Quả vậy, tính thời sự trong văn phong của Tổ có đủ những yếu tố cần thiết cho cây bút thời sự của một nhà báo như Trương Vĩnh Ký - chủ bút tờ Gia Định báo đòi hỏi:

‘Xin các Ngài chớ quên để ngày để tháng hẳn hoi. Phép làm chuyện phải kể tại chỗ nào? Ngày nào? Tháng nào? Nhơn cớ làm sao? Ban đầu làm sao? Khúc giữa thế nào? Sau hết ra việc gì? Lợi hay hại, may hay rủi, v.v…' (14)

Nói chung, văn phong của Tổ đã thể hiện xứng đáng là một nhà cải cách lớn của Phật giáo Việt Nam nhìn từ trí tuệ lịch sử.

Đêm đã khuya. Tôi gấp tập Hồi Ký Thành Lập Phật Giáo Việt Nam và cuốn Phật Học Ngụ Ngôn để lại trên cái bàn gỗ. Và đi qua nhà Tổ. Tôi thắp lại nén hương vòng bị tắt. Đêm thật yên tịnh. Trong mùi hương, tôi nhớ mấy chữ 'Mỹ Hồ Đức' năm xưa Hòa thượng Trí Tạng viết thảo trên giấy hoa tiên tặng tổ khi Tổ vào thăm miền Nam. Bức thư họa này hàm ý muốn ca ngợi vẻ đẹp đức độ của Tổ đã khởi nguồn cho cuộc vận động thống nhất và chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào tiền bán thế kỷ 20 đến nay vẫn tiếp tục dòng chảy lịch sử của nó không dứt.

Thích Thanh Tùng
Chùa An Lạc
11 /9/2019 Kỷ Hợi

Chú thích:

(1)Phật Học Ngụ Ngôn/Sa môn Trí Hải – NXB. Tôn Giáo, 2015

(2)Gia Đình Giáo Dục/Sa môn Trí Hải – Chùa Quán Sứ , Hà Nội

(3)Hát Ru Việt Nam/Lư Nhất Vũ – NXB Trẻ, 2005

(4), (5), (6), (7) Phật Hóa Tiểu Thuyết/Tuyển tập II – Sa môn Trí Hải – NXB Tôn Giáo, 2001

(8)Đông Kinh Nghĩa Thục/Nguyễn Hiến Lê

(9), (10), (11), (12) Hồi Ký thành lập Hội Phật Giáo/HT. Thích Trí Hải – NXB Tôn Giáo 2004

(13) Nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải/Anold Tonynbee/ nhóm dịch giả Nguyễn Kiến Giang – NXB Tổng Hợp TP.HCM

(14) Lịch sử báo chí Sài Gòn – TP.HCM
(1865-1995)/Nguyễn Công Khanh – NXB Tổng Hợp TP.HCM.

Hòa thượng Thích Trí Hải- bậc Tăng tài có nhiều đóng góp cho Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Hải Phòng

Trong các tăng sĩ tiêu biểu nước ta, hòa thượng Thích Trí Hải nổi bật là một nhà tu hành tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo, thống nhất Phật giáo ba miền và đổi mới cách hoằng dương Phật pháp. Về đời, ngài là một người nhân ái, thông tuệ, có tài trên một số lĩnh vực như mỹ thuật, thiết kế xây dựng, dịch thuật, thơ ca và tổ chức hoạt động.

alt

“Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải (1906-1979) là một trong những bậc cao Tăng đã để lại dấu ấn sâu đậm trên trang sử Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XX. Ngài là bậc long tượng của Phật pháp, đầy đủ “đạo, học, hạnh, nghị” với trái tim nhân hậu, kinh qua đủ bước thăng trầm của nhân thế, nổi chìm của kiếp người, đầy bi hài kịch của kiếp nhân sinh” (1)

Đối với Hải Phòng, Hòa thượng từng có những đóng góp quan trọng cho Phật giáo thành phố trong những năm tháng sau khi giải phóng Hải Phòng (năm 1955).

Nhân kỷ niệm 40 năm ngài viên tịch (7/6/1979 ÂL – 7/6/2019 ÂL ), xin giới thiệu về Ngài với những đóng góp tiêu biểu cho đất nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.

Hòa thượng có pháp danh Thích Thanh Thao, thế danh là Đoàn Thanh Tảo, đạo hiệu Trí Hải, thuộc Sơn môn Tế Xuyên. Ông sinh năm Bính Ngọ (ngày 19/5/1906) tại làng Quần Phương Trung, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ngày nay trong một gia đình Nho giáo sống bằng nghề nông và dệt vải.

Ông có ba anh em (trong đó 2 gái), song thân là cụ ông Đoàn Văn Đích (tự Phúc Thực) và cụ bà Nguyễn Thị Tuất (hiệu Diệu Mậu).

Ngài có duyên với đạo, lúc 12 tuổi đã vào chùa làng theo học Sư cụ Thanh Dương. Khi 17 tuổi, được cha mẹ đồng ý và sư cụ hướng dẫn, giới thiệu, ông chính thức xuống tóc đi tu dưới sự truyền dạy của nhà sư Thích Thông Dũng, tại chùa làng Mai Xá thuộc xã Đồng Lý huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Chẳng bao lâu Ngài được thọ giới Sa Di (Sư bác) ở Tổ đình Tế Xuyên (Chùa Tế Xuyên - Bảo Khám tự, thuộc thôn Tế Xuyên xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Trong những năm tháng học tại Tổ đình Tế Xuyên, để nhân dân, Phật tử trong làng dễ thuộc, dễ nhớ, Hòa thượng đã dùng thơ lục bát chuyển tải giáo lý Phật để dạy cho mọi người mỗi khi họ ra chùa lễ Phật. Vì thế, ngày nay người ta vẫn còn nhớ rất nhiều bài thơ do Hòa thượng làm để dạy dân.

Hòa thượng Thích Trí Hải có năng khiếu hội họa chân dung. Được biết, bức ảnh truyền thần thủy mạc Tổ Phổ Tụ đang được thờ tại Tổ đình Tế Xuyên chính do Hòa thượng Trí Hải trực tiếp họa chân dung  mà hiều người đương thời khen là chính xác. Hòa thượng Thích Trí Hải còn là một người giỏi về mỹ thuật kiến trúc. Ngôi Đại hùng bảo điện chùa Quán Sứ ngày nay và chùa Nam Hải - trụ sở hiện tại của Hội Phật giáo Hải Phòng chính do Hòa thượng vẽ mẫu.

Khi 19 tuổi, lúc còn là Sa di tập sự, nhìn vào thực trạng đau lòng của Phật giáo đang suy vi và bị chèn ép bởi Công giáo, Sa di Trí Hải đã ôm ấp hoài bão chấn hưng Phật giáo, làm sao cho Phật giáo Việt Nam trở thành một tôn giáo chân chính như nó vốn có. Ngài cùng một số tu sĩ trẻ, thành lập nhóm tăng trẻ, lấy tên là Lục Hòa Tịnh Lữ (nghĩa là: những người trong sạch làm bạn cùng nhau, tu theo 6 phép hoà thuận của Đức Phật). Trong nhóm, người cao tuổi nhất là Thích Trí Hải cũng chỉ mới 25 tuổi, số còn lại chủ yếu từ 15 tuổi đến 18 tuổi. Lúc đầu tổ chức này thường bị các bậc cao tăng giễu là “Hội Trẻ Con”, “Hội Chấp Tác”. Nhưng dần theo thời gian, cùng với sự làm việc tích cực và những kết quả cụ thể đạt được, Lục Hoà Tịnh Lữ đã được một số vị cao tăng trong tỉnh Hà Nam tán thành, tham gia. Sau đó, Lục Hoà Tịnh Lữ đã dần lan sang các tỉnh xung quanh như Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, được nhiều tăng sĩ ra nhập.

Cuối năm 1932, Lục Hoà Tịnh Lữ quyết định thành lập một nhà xuất bản Phật giáo có tên gọi “Phật Học Tùng Thư”, với các thành viên ban đầu mà phía xuất gia gồm Thích Thái Hoà, Thích Trí Hải, Thích Hải Châu và phía tại gia có các ông Lê Toại, Trần Văn Giác và Nguyễn Hữu Kha. Mục đích của Phật Học Tùng Thư là biên dịch kinh sách Phật giáo từ Hán ngữ ra chữ Quốc ngữ để ấn hành và truyền bá sâu rộng trong tăng ni, phật tử và quần chúng nhân dân với mong muốn sẽ tiến hành lập Hội Phật giáo khi đã được nhiều người hiểu biết tán thành và khi có cơ hội thuận tiện. Sử dụng chữ Việt và tiếng Việt cho việc hoằng dương đạo Phật là một chủ trương có tinh thần dân tộc của nhà sư Thích Trí Hải bởi ông cho rằng, chữ Việt và tiếng Việt có thể truyền tải đầy đủ được ý nghĩa và thanh âm khi đọc kinh sách hay tụng kinh mà lại tiện cho người Việt khi mà rất ít người biết chữ Nho.

Từ cuối năm 1932 đến đầu năm 1934, Phật Học Tùng Thư đã dịch ra chữ Quốc ngữ được một số kinh sách Phật giáo, trong đó tiêu biểu là các bộ: Kinh Địa Tạng, Kinh Dược Sư, Kinh Phổ Môn, Lịch sử Phật Tổ.

Để hoàn thành được tâm nguyện chấn hưng Phật giáo, Thích Trí Hải đã phải vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ, kể cả thất bại. Nhưng “cũng như con cá sông càng bị ngược nước càng cố tiến lên, việc có khó mới là những việc của những người có chí lớn, thua keo này bày keo khác?” (2).

Trong việc theo đuổi mục đích thành lập Hội phật giáo Bắc Kỳ, Hòa thượng gặp phải sự cản trở của nhiều vị sư trụ trì một số ngôi chùa Hà Nội, nhưng ông đã không nản lòng và xác định hướng đi đúng đắn là phải liên kết với các cư sĩ có tâm, có tài và đoàn kết chặt chẽ với các Tăng sĩ nên cuối năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập cộng hưởng với phong trào chấn hưng Phật giáo trên khắp ba miền đất nước.

Trụ sở của “Phật Học Tùng Thư” ban đầu được đặt tại chùa Mai Xá, tỉnh Hà Nam, nơi Thích Trí Hải đang trụ trì. Nơi đây tuy khá xa thành thị nhưng vẫn thu hút được nhiều người mến mộ đạo Phật, trong đó có các học giả, nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Dư, Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Bá Trạc, v.v… Khi trao đổi về việc thành lập Hội Phật giáo, các vị này đều cho rằng đó cũng là hoài bão lâu nay của họ, là việc cần phải làm ngay để chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Để có thể phát triển công việc, thuận tiện cho việc giao dịch, Phật Học Tùng Thư cần phải có trụ sở ở Hà Nội.

Nhờ tích cực vận động và sự giúp đỡ của ông Lê Toại – một người làm việc trong tòa Đốc lý Hà Nội mà vào ngày lễ Phật Đản mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934), Phật học Tùng thư được phép chuyển về Hà Nội, ở tại chùa Quán sứ và Thích Trí Hải chính thức làm lễ nhập tự.

Ngày 16 tháng 11 năm 1934, với sự kiện Thống sứ Bắc Kỳ Auguste Tholance ký Nghị định số 4283 cho phép thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, (hội quán đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội) đã đánh dấu 10 năm khởi xướng và vận động chấn hưng Phật giáo do Thích Trí Hải và những đồng đạo của mình thực hiện thành công bước đầu.

Danh sách những Hội viên sáng lập Hội theo Tập Kỷ Yếu số 1, ra tháng 5 năm 1935 gồm 32 người.

Trong đó có 27 cư sĩ gồm: 1 người làm nghị trưởng dân biểu Bắc Kỳ; 2 người làm việc tại phủ Toàn quyền; 1 người làm việc tại sở Đốc Lý Hà Nội; 5 người là phán sự Thương chính Hà Nội; 2 người là tham tá trường Viễn Đông Bác Cổ, 6 người là đốc học, kiểm học hoặc giáo học, 2 người là thương gia, chủ nhà in và 5 người là nhà văn, mở hiệu sách.

Họ đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ những năm 1935 – 1945.

Năm 1935, để truyền bá giáo lý và tạo nhận thức đúng về chủ trương của Hội trong việc tương trợ và hệ thống hóa các đoàn thể Tăng Ni Phật tử, Hòa thượng Trí Hải cùng với Hội Phật giáo Bắc Kỳ lập nhà in và xuất bản tuần báo “Đuốc Tuệ”(tiền thân của tập bán nguyệt san Diệu Âm và Phương Tiện sau này). Hòa thượng còn chủ trương xuất bản nhật báo Tân Tiến.

Năm 1936, Ngài đứng ra hưng công tái thiết lại toàn bộ ngôi chùa Quán Sứ với qui mô và kiến trúc mới (trong đó tự tay vẽ thiết kế ngôi Đại hùng bảo điện. Đồng thời, ngài tổ chức đại lễ suy tôn Đại lão Hòa thượng Vĩnh Nghiêm lên ngôi Thiền gia Pháp chủ, và lập trường Tăng học đặt tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội.

Không chỉ là một nhà cải cách, chấn hưng Phật giáo, Thích Trí Hải còn là một người có đầu óc nhìn xa, thấy rộng trong canh tân, làm kinh tế phục vụ hoạt động Phật giáo. Ông đã tích cực vận động để có được 50 mẫu ruộng tại tỉnh Thái Bình nhằm giải quyết vấn đề kinh tế căn bản cho các Tăng sinh yên tâm tu học.

Năm 1943, Ngài phác thảo một chương trình kiến thiết một Đại Tùng Lâm rộng 20 hecta ở ga Thường Tín - Hà Đông, với qui mô rộng lớn, trong đó có ngôi chùa, nhà Pháp Bảo, nhà Tổ, nhà Tăng trang nghiêm, tiện nghi, tiêu biểu cho một cơ sở hoằng dương chính pháp. Ngoài ra còn có những cơ sở giáo dục như trường Tiểu, Trung và Đại học, bệnh viện, siêu thị, nhà dưỡng lão v.v... nhằm phát huy văn hóa dân tộc. Đối với thánh tích Phật giáo, Ngài cũng có kế hoạch trùng tu khu danh lam Trúc Lâm Yên Tử. Các công việc đang tiến hành thì phải dừng lại vì nạn đói khủng khiếp năm 1945 trên miền Bắc.

Giàu lòng nhân ái, Hòa thượng đã làm nhiều việc từ thiện như nuôi trẻ mồ côi, cứu đói trong nạn đói này.

Ngài cùng Hòa thượng Tố Liên và cư sĩ Thiều Chửu thành lập Tổng Hội Cứu tế đặt tại chùa Quán Sứ - Hà Nội để giúp đỡ những người đói khổ, dựng lên một cô nhi Viện nuôi hơn 200 trẻ thất lạc, bơ vơ và lập Trại nuôi đồng bào bị đói tại Ngã Tư Vọng - Giáp Bát (Hà Nội), cứu đói cho hàng nghìn người.

Ngày 30/8/1945, tại chùa Phương Mỹ (nay thuộc xã Mỹ Đồng – Thủy Nguyên), Hội Phật giáo Cứu quốc huyện Thủy Nguyên được thành lập, do ông Lương Ngọc Trụ làm chủ tịch, Thượng tọa Thái Hòa làm Trưởng Ban Chấp hành. Đây là phủ bộ đầu tiên ở Bắc Bộ thành lập Phật giáo Cứu quốc. Các hoạt động đặc thù của Phật giáo như cứu tế xã hội tiếp tục được phát huy với vai trò nổi bật của các Thượng tọa Trí Hải, Tố Liên...

Với những đóng góp đáng kể và kinh nghiệm trong việc làm từ thiện, Thượng tọa Trí Hải được mời làm cố vấn cho ông Nguyễn Văn Tố - Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Có thể nói, trong số các nhà sư và cư sĩ đầy nhiệt huyết với việc đổi mới Phật giáo miền Bắc, có Hòa thượngTrí Hải. Suốt cuộc đời tu tập và hoạt động của mình, Hòa thượng luôn chú tâm xây dựng các mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Phật giáo và gắn kết với các tổ chức xã hội khác.

Năm 1951, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập tại Huế, 6 tổ chức Phật giáo suy tôn Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và Hòa thượng Trí Hải  làm Đệ nhất Phó Hội chủ. Năm 1952, trong Đại hội Phật giáo miền Bắc, Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Đại hội đã suy cử sư tổ Tuệ Tạng lên ngôi Thượng Thủ và bầu Thích Trí Hải làm Trị Sự Trưởng và tháng 11/1952 ông được cử làm Phó trụ trì chùa Quán Sứ. Khi đó Hòa thượng Trí Hải mới 46 tuổi.

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Hải Phòng nằm trong khu vực tập kết 300

ngày. Do sự tuyên truyền nói xấu cách mạng, lôi kéo di cư vào Nam của các thế lực thù địch mà nhiều người dao động, hoang mang, sinh ra cảnh kẻ ở người đi, Phật tử lo lắng. Hòa Thượng Trí Hải được Tổng hội Phật giáo điều xuống giúp Phật giáo Hải Phòng. Dù có người thuyết phục Ngài vào Nam để bảo đảm một tương lai tốt đẹp nhưng ông kiên quyết ở lại miền Bắc để hành đạo với niềm tin chính trực.

Trong việc xây dựng ngôi chùa trụ sở Hội Phật giáo Hải Phòng (chùa Nam Hải), Hòa thượng đã tự tay vẽ bản thiết kế chùa phù hợp tình hình tài chính có được và kiên trì vận động xây dựng. Trong 3 tháng chùa đã hoàn tất để làm Phật sự và ổn định tinh thần cho Phật tử rằng chính quyền tôn trọng tự do tín ngưỡng. Ngày 30 tháng 11 năm Giáp Ngọ (1954), chùa làm xong bằng xi măng, cốt thép, nền cao 1m, diện tích 400 m2 , lát toàn gạch hoa. Ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (đầu năm 1955) chùa khánh  thành. Có chùa mới, các Phật tử, tu sĩ ở Hải Phòng phấn khởi, vui mừng, nhiều người không đi vào Nam nữa mà ở lại Hải Phòng tu hành Phật đạo. Cơ duyên đã khiến Hòa Thượng gắn bó quãng đời còn lại với Hải Phòng tại ngôi chùa này cho đến khi viên tịch.

Năm 1958, Hòa thượng tham dự Hội Phật giáothống nhất Việt Nam ra đời tại miền Bắc, do tuổi cao và sức khỏe, ngài không giữ một cương vị nào trong Hội và chuyên tâm xây dựng, tôn tạo lại một số ngôi chùa ở Hải Phòng; nghiên cứu kinh sách, hướng dẫn Phật tử; dịch tác phẩm văn học Phật giáo và hoàn thành dịch được 30 bản kinh có giá trị từ chữ Hán sang quốc ngữ. Hòa thượng có  nhiều  công lao cổ xúy thực hiện việc tụng kinh bằng tiếng Việt cho tăng ni, Phật tử miền Bắc thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc.

Với hơn 200 bài báo đăng trên các báo Đuốc Tuệ, Tinh Tiến, Phương Tiện và hơn 40 tác phẩm viết và dịch thuật, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải được coi là một trong những nhà văn hóa lớn của Phật giáo Việt Nam thời cận hiện đại.

Năm 1971-1972, tại Hải Phòng, bằng khả năng am hiểu và thông thạo chữ Nho, Hòa thượng dịch hoàn tất choViện Triết học thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam 3 cuốn sách quý liên quan đến đạo Phật: Khóa Hư lục của Trần Thái Tông hoàng đế, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm, Phật giáo Triết học của Tiểu Dã Thanh Tú (tác giả Nhật Bản). Bằng thể thơ lục bát, song thất lục bát ..v.v..., Ngài diễn giải một cách tài tình giáo lý của Phật tổ và đạo đức Phật giáo như Tâm chúng sinh, Truyện Phật Thích Ca, Phật học ngụ ngôn, Gia đình giáo dục...(3) làm cho người đọc dễ tiếp thu và làm theo. “Phật giáo nhân gian đại cương”, “Phật giáo Việt Nam”, “Phật giáo vấn đáp” là những tác phẩm thể hiện tâm huyết xây dựng một nền Phật giáo nhập thế nước nhà của ông. Cuốn Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam của Ngài được viết xong tại chùa Nam Hải – Hải Phòng ngày 19 tháng 5 năm 1965 là một tài liệu lịch sử quý giá duy nhất trong thư tịch Phật giáo Việt Nam, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về công cuộc chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc qua ngòi bút chân thực của một chứng nhân lịch sử.

Trong 24 năm hành đạo tại Hải Phòng và trước đó, Hòa thượng Trí Hải đã dành nhiều công sức, khả năng biên soạn, ấn hành được tổng cộng 27 tác phẩm:

Nhập Phật Nghi tắc, Nghi thức tụng niệm, Khôn sống, Gia đình giáo dục, Truyện Phật Thích Ca, Phật học ngụ ngôn, Lời vàng, Kinh Thập thiện, Kinh kiến chính, Phật học phổ thông, Phật học vấn đáp, Đồng Nữ La Hán, Cái hại Vàng Mã,

Phật hóa tiểu thuyết, Kinh lục độ tập, Tâm chúng sinh, Thanh gươm trí tuệ, Luận Quán Tâm, Phẩm Quán Tâm, Khóa Hư lục, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Nhân gian Phật giáo Đại cương, Nghi thức Tam quy, Duy Ma Cật và Viên Giác, Các văn sớ, Nghĩa khoa cúng chúc thực, Phật giáo triết học, Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1979, Hòa thượng vào thăm quan miền Nam 3 tuần, được toàn thể tăng ni, Phật tử đón tiếp trọng thị và kính mến. Trở về miền Bắc được ít hôm, Hòa thượng lâm bệnh, đã ra đi nhẹ nhàng vào ngày 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi (30/6/1979) tại chùa Nam Hải – Hải Phòng. Tính ra, Ngài trụ thế 74 tuổi, tu đạo 57 năm. Dù cuộc đời tu đạo của Thích Trí Hải có những nốt trầm nhân thế, nhưng không vì thế mà Ngài bất mãn, bi quan, luôn xác định triết lý nhà Phật “sắc sắc không không”, “đời là giả tạm” để cống hiến hết mình cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp theo quan điểm “Đạo pháp trong lòng dân tộc”.

Phạm Văn Thi

Những dấu ấn lịch sử vàng son của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng

alt

Thượng toạ Thích Thanh Giác

(Uỷ viên HĐTS- Phó Trưởng ban Thường trực Ban Hoằng pháp TƯGHPGVN

Phó trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN thành phố Hải Phòng)

- Cách đây 710 năm ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16, đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn tại Am Ngoạ Vân, trên non thiêng Yên Tử, thọ 51 tuổi. Ngài là vị vua thứ ba của triều Trần (1225-1400) đầy hiển hách. Trong suốt 15 năm trị vì đất nước (1278-1293). Hoàng đề Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278) Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284). Trùng hưng (1285-1293). Năm 1293 Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, nhưng Ngài vẫn chỉ đạo và giám sát nhà vua. Vốn sùng kính Đạo Phật từ nhỏ. Năm 1295 Ngài đã đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc thôn Vũ Lâm xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) tập sự xuất gia (1). Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299) năm 41 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được Quốc sư Huệ Tuệ thọ giới lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu Đà. Ngài được nhận là người truyền thừa chính thức của thiền phái Yên Tử thuộc thế hệ thứ sáu sau Thiền sư Huệ Tuệ. Việc xuất gia lần này của Trần Nhân Tông đã tạo lên một sự chấn động lớn, một sự bàng hoàng trong dân chúng, bởi đây là hiện tượng có một không hai, không chỉ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam mà cả trong lịch sử dân tộc và thế giới. Tiếp đó Ngài đã thu nhận Đồng Kiên Cương (Pháp Loa) và Huyền Quang... làm đệ tử. Trước khi viên tịch, Ngài truyền y bát cho Pháp Loa làm Đệ Nhị Tổ. Pháp Loa truyền y bát cho Huyền Quang thuộc thế hệ thứ ba. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được hậu thế tôn vinh là “Trúc Lâm Tam Tổ”. Do uy tín, đức độ, trí tuệ siêu việt của Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã quy tụ được các tông phái Phật giáo Đại Việt thời bấy giờ thành một tổ chức Phật giáo thống nhất.

- Sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với dân tộc nổi trội trên ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước. Trên cả ba lĩnh vực, Ngài đã có những đóng góp hết sức đặc biệt. Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới một người như Phật hoàng Trần Nhân Tông hiếm thấy xuất hiện. Dưới sự lãnh đạo tối cao của Ngài, dân tộc ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (1285 và 1287 - 1288) giữ vững nền tự chủ đất nước trước tham vọng xâm lăng của đế chế Nguyên Mông, một đế chế hung hãn nhất thời đại hầu như chưa chùn bước trước bất cứ một đối thủ nào ở cả hai lục địa Á - Âu. Đơn cử như trên đất Hải Phòng; khi Ngài còn làm tổng chỉ huy đích thân xông pha trận mạc chống giặc Nguyên Mông xâm lược, Ngài và quân đội nhà Trần đã nhiều lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân và Tăng Ny Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển sông Bạch Đằng. Giữa lúc nguy khốn nhất bị giặc baoo vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trần Lịa người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo xấu, dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người bí mất đưa Ngài và Thượng hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phân công chiến lược. Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ). Chùa Vẽ (Linh Hoa Tự) ở làng Đoạn Xá giúp đỡ việc quân lương. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sỹ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288. Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Đặc biệt là các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở huyện Thái Thuỵ, tức cung điện dã ngoại (gọi là Cung Trần Vương) của vua Trần Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hoá đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo.

- Đề cập tới động cơ tu hành của Điều Ngự Giác Hoàng đệ nhất Tổ Trúc Lâm, không thể không nhắc đến vai trò ảnh hưởng to lớn của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đạo hiệu Tuệ Trung Thượng Sỹ. Sách Tam Tổ Thực lục chép rằng: “Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thu lượm được nhiều tinh hoa của Đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung làm thấy”. Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (mẹ của Trần Nhân Tông). Trần Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã nhiều lần làm sứ giả đến trại giặc đề nghị hoà và thám thính ở Tổng hành dinh Thoát Hoan. Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ động “Toàn dân duy binh, tông tử duy thành” (Toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là pháp cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên rậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên Mông (từng được cử làm Phó tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc Công Tiết chế Trần Hưng Đạo đâm trách), nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đã được vua Trần giao trấn thủ miền biên ải Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Trước đó Hưng Ninh Vương Trần Quốc Rung được ban thái ấp Vạn Niên, hiện chưa xác định được địa điểm cụ thể. Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, có lẽ ấp Vạn Niên gần ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo. Ở vùng Dưỡng Chính xã Chính Mỹ của Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Quốc Tung. Các bậc cao niên địa phương giải thích về tên làng Dưỡng Chân vốn được bắt nguồn từ sự kiện đạo quân của nhà Trần, trong 1 lần hối hả hành quân ra vùng cửa biển để xây dựng thế trận Bạch Đằng năm 1288 đã dừng chân nghỉ đêm tại đây. Tịnh thất này nằm trên địa bàn ấp Thang Mộc An Sinh, An Phụ, An Dưỡng, An Bang của An Sinh vương Trần Liễu được cấp sau vụ ông gây bạo loạn “Sông Cái” cuối năm 1236. Tương truyền có lúc hai đức vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã họp bàn kế sách chống giặc với các thân vương, cũng như tham vấn ý kiến của Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung tại tịnh thất này. Do có nhiều công lao lớn, nên Hưng Binh vương Trần Quốc Tung được vua Trần ban cho đất đai thực ấp ở làng Dưỡng Chân (sau đổi thành Dưỡng Chính) ở huyện Thuỷ Đường, nay là xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vẫn còn vết tích tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sỹ.

- Ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm bắt nguồn từ mối quan hệ thân tộc giữa Tuệ Trung Thượng Sỹ với đức vua Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã từng được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi bằng Sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho Ngài dạy dỗ. Như chúng ta đã biết Trần Nhân Tông tìm đến Đạo Phật không chỉ với mục đích “Độ” cho mình thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, mà còn tìm những điều giải đáp cho hàng loạt câu hỏi lớn: Con người là ai? Thế giới này có hay không? Thật hay ảo? Vấn đề sinh tử? Sắc không? Việc xuất gia tu hành của Ngài không chỉ đơn thuần giải thoát cho cá nhân mà cả dân tộc. Ngài chủ trương rằng: “Thông qua giáo lý của Đạo Phật để nuôi tâm đạo đức, dạy trí làm người, bồi đắp tinh thần độc lập tự cường, phát huy sự hoà thuận trong nhân tâm trăm họ, tạo ra sự hoà hợp quốc gia, hoà hợp vua tôi, hoà hợp cha con, hoà hợp vợ chồng, hoà hợp gia đình xã hội  tạo cội rễ sức mạnh lâu bền cho quốc gia Đại Việt”. Chính từ động luwcju ấy đã thôi thúc Ngài thực hiện thành công rực rỡ sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Đó chính là tư tưởng chủ đạo vĩ đại nhất trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Ngài.

- Được kế thừa những tinh hoa tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng Sỹ với hai vấn đề cơ bản “Phật tức tâm” và “Lý không” được cô đọng khúc triết trong Cư Trần Lạc Đạo phú (2) bằng chữ Nôm của Ngài.

Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bổn (3)

Ta nên tìm Phật

(Hội thứ 5 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Hay:

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền

(Bài kệ Hội thứ 10 - Cư Trần Lạc đạo phủ)

Và trong bài kệ trả lời Pháp Loa:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thụ đảo,

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng cầu ký não.

Ngài thể hiện rõ ràng lập trường “Lý bất nhị” đập tan thuyết Lưỡng nguyên “Có có - không không” gạt bỏ thuyết đối lập giữa Niết Bàn và sinh tử, chúng sinh và Phật. Theo Ngài “có có – không không” mà cũng chẳng không, chẳng có. Vì các mặt của sự vật quyện chặt vào nhau như dây bìm bìm quấn vào cây.

Thử hữu cố bi hữu

Thử vô cố bỉ vô

Thử sinh cố bi sinh

Thử diệt cố bỉ diệt

Tạm dịch:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì các kia không

Cái này sinh thì cái kia sinh

Cái này diệt thì cái kia diệt

Với cái nhìn phóng khoáng, không bị ràng buộc câu thúc về đạo hay đời. Đạo và đời tuy hai mà một, hoà quyện vào nhau như nước với sữa. Đó là tư tưởng “Tuỳ tục”, “Hoà quang đồng trần”, cùng là kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời hành đạo của Ngài và để lại cho muôn đời sau. Trúc Lâm cũng như Trần Thái Tông rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức thực hiện sự giải thoát, đạt đạo. Ngài đã tận dụng thời gian trong mọi hành động, cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán thiền đạo, không để cho nó trôi qua một cách vô ích, qua bài kệ:

Thân như hơi thở qua buồng phổi

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa

Chim quyên kêu rõ bao ngày tháng

Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (4)

Về sự nghiệp hoằng pháp của Ngài. Sử liệu có ghi: Năm 1034 Ngài chủ trương mở rộng công cuộc giáo hoá, bằng việc “Vân du” khắp nơi, đến tận những vùng quê xa xôi hẻo lánh, để vận động nhân dân xoá bỏ dâm từ (những nơi thờ tự các thần loã thể và sinh thực khí), dạy cho dân biết sống và thực hành giáo lý “Thập thiện” (không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, không tham dục, không sân khuể, không tà kiến). Thủ pháp giáo hoá của Ngài tuy thật đơn giản, nhưng lại trúng với tâm Phật và lòng dân. Bởi cỗi gốc khổ đau hay an lạc của con người đều bắt nguồn từ ba nghiệp thân khẩu ý.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh,

Thanh tịnh, không thanh tịnh

Không ai thanh tịnh ai

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Tự ngã thứ 12)

“Giáo lý nhập thế căn bản của Đạo Phật, đặt trên nền tảng ba nghiệp: Thân – Khẩu - Ý của con người. Từ ba nghiệp tạo lên một mẫu người đạo đức lý tưởng và hài hoà, những con người ấy sẽ tạo thành một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ được những tệ nạn tràn lan. Việc làm của ông phản ánh nguyện vọng của dòng thiền Trúc Lâm muốn xây dựng 1 xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, nhà vua và hoàng tộc đều là Phật tử tại gia và xuất gia, và các dòng phái Phật giáo bấy giờ hội tụ thống nhất trong dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sự kiện này là đỉnh cao của Phật giáo thời Trần. Do vậy vua Trần Nhân Tông còn được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng” (5)

Nhận định về sự nghiệp hoằng pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhà sử học nổi tigến Lê Mạnh Thát đã nhận xét: “Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện để dạy dân chúng, rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt Nam, mà trước đó hơn ngàn năm đã được thi vào trong Kinh Lục Độ tập. Bản kinh này có thể nói là một bài kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tập hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện để làm “Pháp luật quốc gia” (Pháp quốc) làm “Chính sách quốc gia” (Quốc chính) và đây cũng là lần đầu tiên ta thấy Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này” (6)

- Bài pháp vi diệu này cũng là bức thông điệp tâm linh đã lan toả khắp đất Việt, đặc biệt là xứ Đoài xứ Đông, trong đó có Hải Phòng. Tiêu biểu như chùa Phúc Lâm (Dư Hàng), chùa Nguyệt Quang (Đông Khê), chùa Hàm Long, chùa Thiên Vũ, chùa Linh Sơn (Mỹ Cụ), chùa Vẽ (Hoa Linh Tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bản... Trong đó đáng chú ý là công chúa Thiên Thuỵ chị gái của vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang đắp đê ngăn nước mặn mở mang nhiều làng xã ở Kiến Thuỵ và An Lão Hải Phòng ngày nay. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (tức công chúa Quỳnh Trân đạo hiệu là Đại uy Thiên Thánh) đã cho dựng ngôi chùa ở trang ấp Nghi Dương (xã Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ) gọi là chùa Mõ (còn gọi là chùa Nghi Dương). Điều Ngự Giác Hoàng đã nhiều lần về vùng đất này hoằng dương Phật pháp và tới chùa Mõ. Tục truyền, trước khi viên tịch vài ngày, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã về chùa Mõ thăm chị ốm nặng và sau đó công chúa Thiên Thuỵ thác hoá trước Ngài một ngày. Một người chị khác nữa của Ngài là công chúa Chiêu Chinh, cũng bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, đúc chuông, tô tượng, mở chợ bến đò và khai hoang ở vùng đất vẹn sông Lạch Tray (quận Kiến An ngày nay). Theo Ngọc phả đền Kha Lâm: Bà đã để lại cho dân làng 171 mẫu ruộng. Công chúa Chiêu Hoa con vua Trần Thánh Tông cùng chồng là Thái học sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến An) đã dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn, làng Tiểu Trà được nhân dân rất sùng kính. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương toàn hạt dư địa chí, Mục từ miếu huyện Tiên Minh chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua để đi tu ở Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh huyện Tiên Lãng) gặp phụ lão cung kính đón rước. Nhân Tông rất bằng lòng, cho là dân nơi đây biết lễ ban cho tên là “Diên Lão”, lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lá thì rước về thờ sẽ được ch chở. Khi Nhâ Tông nằm trên phiến đá thác hoá, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông, nhớ lời dặn bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông Từ (tức đền thờ Trần Nhân Tông) rất linh ứng, hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”. Đó là những dấu ấn lịch sử vàng son vô cùng thiêng liêng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng.

- Tóm lại: Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là 1 vị vua anh hùng, là vua Phật của Việt Nam, một con người nhân hậu, một thiền sư yên bác năng động. Nói cho đủ hơn, con người Đức vua Trần Nhân Tông là 1 tổng hợp uyển chuyển của các tác phẩm bậc “Trí sỹ”, tư tưởng của Ngài thể hiện tính nhất quán giữa đạo và đời, xuất thế và nhập thế không ngăn ngại. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác...”. Tư tưởng ấy thuộc về Phật giáo Đại thừa, mà các Đại sỹ Bồ tát đã thể hiện trong các kinh: Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Địa Tạng v.v... với chủ trương “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh”.

- Tư tưởng của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông không chỉ dừng ở thành tựu thế tục “Dĩ nhân tâm vi kỳ tâm” để đạt cho được mục đích tối hậu “Non sông muôn thuở vững âu vàng”, mà nó còn vươn tới tầm cao hơn, xa hơn, siêu việt hơn. Đó là thủ pháp sử dụng giáo lý Đạo Phật để tịnh hoá con người và xã hội. Cụ thể là đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của tất cả mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ngoài đời, miền là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏ những hủ tục mê tín, thực hành giáo lý Thập thiện, nhằm xây dựng một mẫu người tốt, gia đình tốt, xã hội tốt, đất nước tốt, tràn đầy an vui hạnh phúc. Tư tưởng ấy đã lan toả toàn cõi Việt, trong đó có Hải Phòng chúng ta ngày nay được thừa hưởng những tinh hoa giá trị ấy.

- Với những thắng duyên ấy, người dân Hải Phòng nói chung và Tăng Ny Phật tử Hải Phòng nói riêng phải chung sức đồng lòng giữ gìn và phát huy làm sao cho thật xứng đáng: “Hải Phòng nơi dấu ấn lịch sử vàng son của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông” ngày càng rực sáng.

TTG

(1) Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo sử luận - Nhà xuất bản Lá Bối - Paris. Tr.335

(2) Cư Trần Lạc Đạo phú - Lê Mạnh Thát, Sđd. Tr.400-418.

(3) Khuấy bồn: Quên gốc

(4) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sđd, tr. 374

(5) Phạm Thế Dương, Sđd, tr. 49-58

(6) Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.208

Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn- danh nhân văn hóa, nhà thơ yêu nước của Hải Phòng

Lê Khắc Cẩn (có sách viết là Lê Khắc Cần) sinh năm Quý Tỵ (1833) tại làng Hạnh Thị, tổng Đại Phương Lang, huyện An Lão, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) trong một gia tộc lớn. Năm mất của ông được tác giả sách Quốc triều khoa bảng lục là Cao Xuân Dục – một đại thần triều Nguyễn ghi là năm 1874. Theo đó cụ Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (in năm 1962) và sách Các nhà khoa bảng Việt Nam do PGS. TS Ngô Đức Thọ chủ biên in năm 2006 đều ghi năm mất của Lê Khắc Cần là năm Giáp Tuất (1874).

alt
Đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn

Các tài liệu địa phương quê hương Lê Khắc Cần thì cho năm ông mất là 1869 (36 tuổi) nhưng theo tôi ông không thể mất sớm như thế vì dựa vào các sáng tác văn học của Lê Khắc Cẩn còn lưu ở Viện Hán Nôm thì thấy ít nhất ông phải thọ tới 60 tuổi. Bằng chứng như sau:

Năm 1882, sau khi Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu tự sát để bảo toàn khí tiết trước quân xâm lược Pháp, Lê Khắc Cẩn có bài thơ “Chế đài Hoàng tướng công mộ tiền khốc” (Khóc trước mộ Tổng đốc Hoàng tướng công) - (bài dịch số 23 trong Hải Hạnh thi tập của ông). Nghĩa là Lê Khắc Cần còn sống sau cả năm 1874 mà Quốc triều khoa bảng lục ghi

Ngoài ra, ông Ngô Đăng Lợi, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Hải Phòng căn cứ vào chính các bài Khai bútHậu bạt trong Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần còn lưu lại được tại Viện Hán Nôm, tin rằng năm mất của Lê Khắc Cẩn là 1889. Trong cuốn “Thơ văn Lê Khắc Cẩn” của Nxb Hải Phòng ấn hành năm 2003, ông Ngô Đăng Lợi và Lê Trọng Yêm (hậu duệ đời thứ 4 của dòng họ Lê ở Hạnh Thị), đồng tác giả cuốn sách đã khẳng định như sau: “Nay đối chiếu các tác phẩm do chính Lê Khắc Cẩn viết, ghi rõ hoạt động từng năm và năm nào cũng có bài thơ khai bút để lại. Chúng tôi tin rằng Lê Khắc Cẩn sinh năm 1833 và mất năm 1889 (?)” (Lời mở đầu sách).

Tôi đã xem lại Hải Hạnh thi tập mà tác giả viện dẫn và thấy như sau:

Tết năm Kỷ sửu 1889 Lê Khắc Cần có bài thơ “Kỷ sửu mạnh xuân tam nhật thí bút” (Khai bút đầu xuân ngày mồng ba năm Kỷ Sửu) - bài dịch số 99 trong Hải Hạnh thi tập:

Nguyên Đán đệ tam triêu

Lập xuân tiền nhất nhật…

(Tạm dịch: Hôm nay là sáng mồng 3 tháng giêng Tết nguyên Đán, cũng là sáng trước tiết lập xuân một ngày)

Và đến ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Sửu 1889 Lê Khắc Cần dù mệt nhưng vẫn gượng duyệt sách Du sơn ký cho ông Thái Viên và đề bài hậu bạt với 4 câu thơ dịch như sau:

“Nghìn đồi muôn hốc giấy ghi hình,

Một bức họa đồ thật phân minh.

Thái Viên vẽ được màu non nước.

Có cả nguồn đào cửa động xinh!”

Cuối thu năm 1889 ông ốm nặng ở Hà Nội. Theo Hải Hạnh thi tập thì những bài thơ Lê Khắc Cần viết cho Diên Sơn và Thái Viên ông là những bài kết thúc tác phẩm của ông trong thời gian ông sống tại Hà Thành.

Tuy nhiên trong Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần còn có một bài thơ đề là Lục thập tự thuật (tự thuật 60 tuổi) – bài dịch số 36, chép trong chùm thơ làm năm 1882. Nếu người sao chép không lầm lẫn thì hoặc là Lê Khắc Cẩn sinh năm Quý Mùi 1823 (chứ không phải năm 1833 như các tài liệu khẳng định) thì đến năm 1882 ông mới 60 tuổi (1823 – 1882), hoặc là ông sinh năm 1833, mất năm Quý Tỵ (1893) vì đến năm này ông mới 60 tuổi (1833 – 1893) ? Hai câu đầu của bài “tự thuật 60 tuổi” được dịch xuôi như sau:

“Tuổi tác cứ đi từ từ, thế mà đã bắt đầu tròn một “lục giáp” rồi đó,

Đời mình xông pha gió bụi đã trải bao nhiêu năm”…

Theo tôi, người dịch thơ Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần ít có khả năng ghi sai năm sáng tác các tác phẩm của ông. Nếu năm 1822 ông 60 tuổi thì năm sinh của Lê Khắc Cẩn phải là 1823. Và nếu lời khẳng định của ông Ngô Đăng Lợi và Lê Trọng Yêm nói trên về năm mất của Lê Khắc Cẩn là có cơ sở thì Song nguyên Hoàng Giáp họ Lê phải thọ tới 66 tuổi (1823-1889). Đây là một vấn đề cùng với các giả thuyết khác cũng cần làm rõ trong tiểu sử Lê Khắc Cẩn. Mong rằng các nhà nghiên cứu góp thêm tiếng nói cùng bàn luận.

Trong lịch sử Việt Nam thời nhà Nguyễn, Lê Khắc Cần là tiến sĩ Hán học duy nhất người Hải Phòng. Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp Lê Khắc Cẩn là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, thương dân, thanh liêm, chính trực. Ông còn nổi tiếng với tài văn chương mà sự nghiệp còn để lại với nhiều sáng tác: Văn chiếu biểu, văn sách, thơ, thư từ, câu đối.

Hiện viện Hán - Nôm còn lưu giữ nhiều tác phẩm của tiến sỹ Lê Khắc Cẩn như: Hải Hạnh văn phái, Hải Hạnh thi tập, Hải Hạnh thi tập văn và Miễn Trai văn tập…Ngoài ra ở thư viện Viện Hán-Nôm (Hà Nội) còn có cuốn “Song nguyên Lê phiên hầu thi văn” có lẽ cũng là các sáng tác của ông mà người đời sau sưu tầm biên soạn lại bởi tên sách phù hợp với học vụ, chức tước và họ của ông. Nội dung sách tập hợp các bài thơ, văn, đối trướng, thư từ, các bài biểu, tấu cần được giám định, biên khảo kỹ.

Với tài năng và đạo đức của Lê Khắc Cẩn, cùng những đóng góp cho nền văn học nước ta nửa sau thế kỷ 19, ngày 22-11-2003 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, một hội thảo khoa học về Lê Khắc Cẩn đã được tổ chức. Ông được suy tôn là danh nhân - nhà thơ yêu nước.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Lê Khắc Cần nổi tiếng thông minh, chăm học. Thân phụ ông là Lê Tường Vân, thân mẫu là Đoàn Thị Tường. Tương truyền cha ông phải làm nghề đóng cối xay để lấy tiền nuôi con ăn học.

Ở quê ông, dòng họ Lê còn nhưng là chi thứ nên không hiểu mấy về ông. Duy ở làng Nãi Sơn huyện Kiến Thụy - quê vợ ông, một số bậc cao niên còn nhớ một số truyền ngôn về Lê Khắc Cẩn.

Trong bài văn bia đặt tại đền thờ Lê Khắc Cẩn tại thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng có câu thuật lại tính cách của Lê Khắc Cẩn như sau “Tín nghĩa với bạn bè thì tha thiết chân thành; hiếu kính thờ tiên nhân thì rụt rè cẩn trọng”. Xem những bài thơ mừng, tiễn, từ biệt, họa thơ bạn của ông thì thấy nhận định về ông là đúng, Lê Khắc Cẩn đối với bạn bè thì tình nghĩa, chân thành, đối với người thế hệ trước thì khiêm tốn, trân trọng.

Lại nữa: “Đối với tôn sư, ông thường thư từ qua lại vấn an thầy, lại có khi bàn về thế vận, lòng yêu kính trước sau không đổi. Khi ông ra làm quan, lúc ở Kinh, khi ở phủ, giữ lòng liêm trực, dốc sức mẫn cán. Lúc làm quan ở phủ Xuân Trường ông thi hành nền chính trị huệ dân (ban ơn huệ cho dân), khuyến khích nông nghiệp, tương trợ những người đói nghèo, bệnh tật, khiến dân trong vùng thảy được nhuần ân đức. Cho nên vua yêu, dân mến, đồng liêu kính trọng. Rong ruổi trên đường làm quan, thi hành chính sự, ông dốc hết tâm sức lao khổ, làm rạng tỏ đạo sáng của kẻ bề tôi, là tấm gương lớn của nhà Nho vậy. Lại thêm giao du rộng với giới quan chức và trí thức, luôn giữ tín với bạn bè”.

Lê Khắc Cần là người học rộng, đọc nhiều sách Bách gia chư tử, lại theo học Tiến sĩ, Đốc học Lê Hữu Tạo, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Văn chương Lê Khắc Cần “Tứ thơ thì tinh thuần, lời văn thì cao nhã”. Thầy học từng khen ông “Trong giống chim có chim phượng, trong loài cá có cá côn” để ví chí khí học trò mình.

Ông thi hương khoa Ất Mão 1855 đậu giải nguyên trường thi Nam Định. Thi hội khoa nhâm tuất 1862 tại Huế ông đỗ Hoàng giáp. Trong cả hai kỳ thi này Lê Khắc Cần đều đỗ đầu nên còn được gọi là Song nguyên Hoàng Giáp.

Mới ba mươi tuổi đỗ Hội nguyên, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đã là người thành đạt. Trong kỳ thi Đình ông đỗ thứ nhì. Bài văn phúc hạnh (sau khi thi Đình) của ông được vua Tự Đức khen giản dị mà cứng, đầy đủ, linh hoạt, không kém gì bài của người đỗ đầu là Đình nguyên Nguyễn Hữu Lập. Ông được vua Tự Đức yêu mến đổi tên là Lê Khắc Nghị, lại giữ làm việc ở những cơ quan gần vua như Viện Tập hiền, Tòa Kinh diên, sau đó mới chuyển đi làm tri phủ Xuân Trường, án sát rồi bố chính tỉnh Nam Định.

Năm Tự Đức thứ 19 (1866) ông được điều về Kinh đô Huế thăng Thị độc học sĩ, Tham biện nội các sự vụ. Các bài thơ văn Tự Đức làm ra phần nhiều đều sai đem đến cho Lê Khắc Nghị đọc thể hiện sự tin tưởng của Vua đối với ông.

Ông nổi tiếng thanh liêm, cương trực. Khi làm án sát Nam Định, thấy thế lực khách trú chèn lấn các nhà buôn Việt Nam, ông đã kiên quyết chống lại. Bọn này căm tức đã âm mưu đầu độc ông nhưng không thành. Tuy làm quan coi về hình án đầu tỉnh mà nhà ông thanh bạch. Có người muốn lợi dụng mẹ ông để biếu xén đút lót nhưng ông kiên quyết chối từ và luôn khuyên mẹ đề phòng bọn xấu.

Lê Khắc Cẩn chứng kiến gần trọn nửa sau thế kỷ XIX, thời kỳ đất nước gặp nhiều gian truân bởi thực dân Pháp xâm lấn. Cảnh triều đình ươn hèn trước sự lấn lướt của thực dân Pháp, sĩ phu yêu nước nổi lên chống giặc tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ, thái độ Lê Khắc Cẩn và thử thách nhân cách kẻ sĩ của ông. Trong các sáng tác của ông thường có những bài thơ thể hiện nỗi đau trước cảnh loạn li, lòng thương dân khốn khó trong chiến tranh cướp nước của thực dân xâm lược, sự khinh bỉ lũ “Tây Dương”,“Cẩu quốc”

Ông luôn đứng về phe chủ chiến chống xâm lược. Khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, ông viết sớ xin tòng chinh, lời lẽ khẩn thiết thể hiện lòng yêu nước. Vua chấp nhận, ông vào mặt trận vùng Nam Ngãi tham gia chống giặc.

Tuy bận việc quan nhưng Lê Khắc Cẩn vẫn ham sáng tác văn thơ. Viện Hán Nôm hiện còn giữ được một số công trình văn học của ông là: Hải Hạnh văn phái (ký hiệu A.358), Hải Hạnh thi tập (ký hiệu A.466), Hải Hạnh văn tập (ký hiệu VHv.261), Hải Hạnh thi văn tập (ký hiệu VHv. 259) Miễn Trai văn tập. (Hải Hạnh và Miễn Trai là bút hiệu của Lê Khắc Cần)

Con trai của Lê Khắc Cẩn là Lê Mạnh Phổ kế thừa sự học và chí hướng của cha, thi đậu Hương tiến, được bổ làm Huấn đạo Đông Quan, làm dạng danh cho gia tộc.

Lê Khắc Cẩn qua đời không rõ là khi còn làm quan hay đã về hưu, nhưng khoảng những năm tám mươi của thế kỷ XIX ông sống ở vùng hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Có truyền ngôn cho rằng ông chết vì bị ngầm đánh thuốc độc.

Mộ Lê Khắc Cẩn hiện táng ở Đồng Bún, Đỗ Xá, xã Nam Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Thể hiện sự tri ân của Thành phố và quê hương đối với ông, tháng 3-2008, UBND TP Hải Phòng đã có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng đền thờ tiến sỹ- nhà thơ Lê Khắc Cẩn ngay tại quê hương ông- thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng. Với sự đầu tư của chính quyền thành phố Hải Phòng và sự đóng góp to lớn từ nguồn xã hội hóa, ngày 3 tháng 10 năm 2010 nhà thờ tiến sĩ, nhà thơ yêu nước Nguyễn Khắc Cẩn đã khánh thành. Công trình hoàn thành to, đẹp với tổng kinh phí xây dựng 27,5 tỷ đồng, vượt gấp hơn hai lần dự toán ban đầu và được hoàn thành sớm hơn dự tính 1 năm.

Công trình gồm các hạng mục: đền thờ chính 174 m2, tả hữu giải vũ 173 m2, hai nhà bia 10 m2, tam quan 13,4 m2, hồ sen… trên tổng diện tích 11.514 m2. Đền thờ là công trình mô phỏng kiến trúc thời nhà Nguyễn, đền chính đặt trên bệ cao 1,35 m, khung nhà cột lim theo kết cấu giá chiêng - chồng rường - con bẩy - chồng đấu sen chạm hoa văn. Nền lát gạch bát, hệ mái hai tầng, cửa đi kiểu “thượng song hạ bản”, cửa sổ kiểu chữ “vạn”… đều bằng gỗ lim. Công trình này thể hiện tấm lòng của nhân dân và chính quyền thành phố Hải Phòng đối với người con đã làm vẻ vang cho quê hương và giờ đây đang trở thành một địa điểm du lịch văn hóa của Hải Phòng.

Phạm Văn Thi

Cây me chùa Tường Quang- Cây di sản Việt Nam và hình bóng của vị tướng Đô đốc triều vua Quang Trung

Chùa Tả Quan, có tên chữ là “Tường Quang”, theo nghĩa Hán tự, ngôi chùa được ánh sáng tốt đẹp của nhà Phật rạng rỡ chiếu tới. Chùa thuộc thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Xa xưa Tả Quan có tên là Tá Lan thuộc huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long do phải kiêng húy nên đổi thành Tả Quan. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử đây là vùng đất nằm trong giải đất cổ dưới chân núi Đào Sơn. Qua những tư liệu lịch sử để lại, chùa được xây dựng từ thời Đinh, thế kỷ 10. Chùa Tường Quang danh lam cổ tự có niên đại trên ngàn năm tuổi thuộc diện rất hiếm có của thành phố Hải Phòng.

alt

Chùa Tả Quan trải qua hàng ngàn năm qua bao hưng, phế, đổi, thay nhưng ngôi chùa vẫn còn bảo tồn được rất nhiều di vật, cổ vật có giá trị về lịch sử văn hóa như: chuông đồng, tượng pháp, bia đá, câu đối, đại tự…Đặc biệt trong những đấu ấn chứng minh nơi cổ tích danh lam có một thực thể rất giá trị hiện đang sinh tồn cùng tuế nguyệt, đó là cây me trong khuôn viên của chùa. Theo lịch sử địa phương và lịch sử ngôi chùa, cây me đến nay đã có trên 200 năm tuổi. Cây me gắn liền với một nhân vật lịch sử còn nhiều bí ẩn. Ông là Chân Trí Phổ Hóa Thiền sư, tục danh Lê Văn Ngũ quê Thanh Trì, Hà Nội, làm quan thời Lê-Trịnh. Chán ghét cảnh triều chính đương thời thối nát, ông đi theo và chiến đấu  dưới cờ khởi nghĩa của Nguyễn Huệ. Ông được phong chức Đô đốc tướng quân. Khi nhà Tây Sơn mất, ông dấu tên, đổi họ về chùa Tường Quang ẩn dật, tu Phật. Ông đã trở thành vị sư  tổ truyền đăng của chùa tường Quang. Ông viên tịch năm 78 tuổi, đệ tử đem thi hài của ông hỏa thiêu, xây tháp đặt tro cốt. Hiện nay ngôi tháp để tro cốt của ông vẫn được gìn giữ, bảo tồn trong khuôn viên của chùa. Trong thời gian mai danh, ẩn tích, mặc cà sa hoằng dương đạo pháp ở chùa Tường Quang, Ngài Đô đốc luôn nhớ về những kỷ niệm dưới triều Tây Sơn. Ông nhớ tới cố trạch gia đình chủ tướngTây Sơn ở làng Kiến Mỹ, Tây Sơn, nơi đó có cây me cổ thụ tươi tốt quanh năm do các cụ cố Nguyễn gia  Tây Sơn trồng. Cây me ấy đã đi vào câu ca lịch sử của người dân trong vùng Tây Sơn:

“Cây me cũ, bến Tàu Trầu xưa

Không nên tình nghĩa thì cũng đón đưa trọn niềm”.

Hiện nay cây me đã có trên 300 năm tuổi, được vinh danh “ Cây di sản Việt Nam” trong khuôn viên di tích quốc gia đặc biệt “ Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt”, làng Kiến Mỹ, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Để gửi vào nỗi nhớ một thời hào hùng, oanh liệt chiến đấu dưới cờ chủ tướng Tây Sơn và cũng là thể hiện lòng trung thành, tri ân vị chủ tướng, sau trở thành minh quân Hoàng đế Quang Trung, ông Ngũ đã trồng hai cây me tại ngôi chùa Tường Quang. Hình bóng hồn, phách thiêng liêng của vị tướng Đô đốc đã hóa thân vào cây me cổ thụ .Cây me thân to lớn chắc khỏe, dáng đứng thẳng sừng sững, bề thế, vững vàng như thách thức với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và thời gian. Cành me vươn rộng, tán lá dầy tỏa bóng rợp mát, rộng lớn che cho Phật tử, khách hành hương về nơi cổ tích danh lam trong những buổi trưa hè. Cây me cao vút vươn lên trời xanh, quanh năm xanh tốt, đến mùa ra hoa kết trái, những chùm quả nặng trĩu cành, hiến dâng cho đời vị chua mát, đậm đà và khơi dậy lẽ sống tình nghĩa, thủy chung, kết hậu

Cây me rất gần gũi với cuộc sống của những người dân thôn quê. Lá, quả me có giá trị rất thiết thực cho nhu cầu sinh hoạt ẩm, thực nơi thôn dã. Cây me trồng trong chùa cũng là thể hiện chư Phật và chúng sinh luôn gần gũi, gắn bó với nhau và luôn đồng hành trên con đường đạo pháp. Quả, lá của cây cho mọi người thụ, hưởng như tùy duyên của nhân sinh đến với Phật thiền. Cây me và những câu chuyện lịch sử về người trồng còn chưa kể hết, thực sự để lại những ấn tượng tốt đẹp cho những ai dù chỉ một lần đến danh lam cổ tự Tường Quang.

Thành phố Hải Phòng có trên 70 cây được công nhận “Cây di sản Việt Nam”, trong đó gồm 12 loài cây. Cây me chùa Tả Quan được công nhận “ Cây di sản Việt Nam” năm 2016 là một cây duy nhất của một lòai thực vật duy nhất. Cây me chùa Tả Quan có vinh dự bổ xung, góp thêm một nguồn gien quý hiếm trong hệ thống những cây di sản Việt Nam của thành phố Hải Phòng.

Cây me, cây cổ thụ quý giá, thiêng liêng và cũng là niềm vinh dự, tự hào của người dân trong và ngoài địa phương Dương Quan. Nhân dân đang tiếp tục quản lý, bảo vệ và phát huy tốt các giá trị “Cây di sản Việt Nam ”. Cùng với việc tôn vinh cây me, nhân dân địa phương đang từng bước trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố chùa Tả Quan, để chùa Tả Quan cùng di tích lịch sử văn hóa khác của địa phương trở thành những địa chỉ hấp dẫn, thu hút nhân dân trong và ngoài địa phương về vùng “Đất địa linh nhân kiệt”. Nơi có những di tích cấp thành phố, cấp quốc gia, có ngôi chùa trên ngàn năm tuổi và có “Cây di sản Việt Nam” độc đáo, hiếm quý của thành phố Hải Phòng.

Văn Chỉnh

Lê Triều tiến sĩ Phạm Đình Trọng- nhân vật lịch sử nổi tiếng Hải Phòng

Trong lịch sử nước ta có nhiều nhân vật nổi tiếng mà công trạng bị lãng quên hay đánh giá không đúng mức do nhận thức và quan điểm giai cấp từng thời kỳ. Phạm Đình Trọng là người nằm trong số đó. Sự đổi mới đã làm cho cách nhìn nhận khách quan hơn nên nhiều nhân vật lịch sử dần được đánh giá công bằng hơn.

alt

Ngày 24-1-2010, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng đã phối hợp tổ chức “Hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của tiến sĩ Phạm Đình Trọng”. Các tham luận trong hội thảo của nhiều giáo sư, tiến sĩ đầu ngành lịch sử Việt Nam đã phân tích, đánh giá công minh về những đóng góp của Phạm Đình Trọng, khôi phục và tôn vinh tên tuổi vị danh tướng.

Phạm Đình Trọng sinh năm Giáp Ngọ ngày 22-2-1714, quê ở làng Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương trước đây, nay thuộc thôn Khinh Dao (Khinh Giao, Kinh Dao), xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Phạm Đình Trọng sinh ra trong một gia tộc nổi tiếng nho học và thành danh nên đã kế thừa, phát huy truyền thống gia đình. Ông vốn dòng dõi danh sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần, Phạm Gia Mô đời Hậu Lê, cao tổ là Phạm Chất Lượng làm đến chức Tả thị lang bộ Hộ, tước Hồng Nguyên hầu, tằng tổ là Phạm Huy Ánh làm đến chức Đô ngự sử hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Yến Dực hầu; cha là Phạm Doãn Địch, Giám sinh Quốc tử giám làm đến chức Tri phủ phủ Thiệu Phong. Gia phả dòng họ Phạm ở Khinh Dao cho biết, Phạm Đình Trọng có 4 phu nhân: Chính thất họ Lưu hiệu là Trinh Tĩnh; thứ thất họ Đặng hiệu là Từ Dũ; thứ thất họ Lưu, hiệu là Từ Hoa; thứ thất họ Nguyễn, hiệu là Diệu Tín.

Tướng mạo khôi ngô, tư chất thông minh, lại được học sớm, từ bảy tuổi gia đình đã cho theo các thày nổi tiếng trong vùng, học võ, học văn nên  20 tuổi, ông thi đỗ Hương Cống. Khoa thi năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu (1739) ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ. Một năm sau, năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740) ông được triều đình bổ nhiệm làm Hiệu thảo viện Hàn lâm. Phạm Đình Trọng là người văn võ song toàn đã nhiều lần tham gia hay chỉ huy các cuộc dẹp loạn khởi nghĩa nông dân.

Với những người chống lại triều đình Lê - Trịnh ông là kẻ đối địch, đàn áp khởi nghĩa nông dân nhưng với vua Lê, chúa Trịnh ông là công thần bậc nhất. Tuy vậy sử sách vẫn phải thừa nhận ông là một người văn võ toàn tài, một bậc quân tử, sống cương trực và thẳng thắn đúng với bản tính người xứ Đông. Sử gia phong kiến Phan Huy Chú bình phẩm về con người ông bằng những lời khen ngợi: “Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngôi. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn...Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có”.

Trong nửa đầu thế kỷ 18, trước cảnh triều Lê suy vong, mục nát để họ Trịnh lấn át, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình đã nổ ra ở Đàng ngoài. Cuộc khởi nghĩa có quy mô và  tạo được thanh thế nhất là cuộc khởi nghĩa của anh em Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương. Quan quân triều đình đi đánh dẹp nhiều lần, nhưng đều thất bại. Biết Phạm Đình Trọng là người mưu lược, văn võ song toàn, triều đình phong ông giữ chức Hiệp thống kiêm Phòng ngự sử và phái đi đánh dẹp quân khởi nghĩa. Với tài năng quân sự, không bao lâu, Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Cừ. Ông được phong làm Hữu thị lang Bộ Công.

Nguyễn Tuyển mất, Nguyễn Hữu Cầu, con rể Nguyễn Tuyển, mang quân về mạn Đông Bắc, lấy vùng Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn... làm căn cứ, xưng là Đông Đạo thống quốc bảo dân Đại tương quân. Nguyễn Hữu Cầu là người nhanh nhẹn, quyền biến, có sức khỏe hơn người (dân gian ví ông như Hạng Võ của nước Nam). Có tài thao lược, Nguyễn Hữu Cầu đánh đâu thắng đó, uy thế lẫy lừng. Năm 1743 ông đánh bại quân Triều đình, giết chết Thủy đạo đốc binh Trịnh Bảng ở sông Cổ Trai ( Kiến Thụy bây giờ). Tiếp đó Nguyễn Hữu Cầu đánh lên Kinh Bắc. Trấn thủ và Đốc binh Kinh Bắc bấn loạn, bỏ cả ấn tin thoát thân. Nghĩa quân tiếp tục đánh tới Bắc Giang. Quân triều đình do Trương Khuông và Đinh Văn Giai phái tới thua to, chạy toán loạn... Trước thế lực của Nguyễn Hữu Cầu, chúa Trịnh lo sợ, liền phong Phạm Đình Trọng làm thống lĩnh Bình khẩu Đại tướng quân, chỉ huy quân Triều đình đi dẹp Nguyễn Hữu Cầu. Phạm Đình Trọng thật xứng là đối thủ của Nguyễn Hữu Cầu. Qua 6 năm chinh chiến cam go, cuối cùng cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu bị Phạm Đình Trọng dẹp tan. Sau chiến thắng này, Phạm Đình Trọng, lúc ấy mới 36 tuổi được thăng Thượng thư bộ Binh (tương tự chức Bộ trưởng bộ Quốc phòng ngày nay), hàm Thái bảo, tước Hải quận công, Dương võ Tuyên lực công thần, hưởng hoa lợi 12 xã và 150 mẫu lộc điền.

Những năm bọn phí quấy nhiễu vùng Đông Bắc, giáp giới giữa ta và Trung Quốc, trấn thủ xứ Quảng Yên của ta và quan quân Quảng Đông bên Tầu cũng bó tay, dẹp không nổi. Trước tình cảnh ấy, triều đình lại phái Phạm Đình Trọng đảm nhận tuần tiễu khu vực này. Không lâu sau, dưới sự chỉ huy của ông, đám phỉ bị xóa sổ, những tên cầm đầu bị bắt. Không chỉ dân Đông Bắc nước Nam được bình yên mà dân Quảng Đông của Tầu cũng không còn bị quấy nhiễu. Vua Minh mừng rỡ, liền sai người mang lụa, vàng bạc và mũ áo Thượng thư sang nước Nam ban cho Phạm Đình Trọng. Bởi vậy đời sau gọi ông là Lưỡng quốc Thượng thư.

Năm Tân Mùi (1751) Phạm Đình Trọng được phái đi trấn thủ Nghệ An, kiêm Đốc binh châu Bố Chính. Ông vừa trấn áp bọn đạo tặc trộm cướp, và tàn dư của Nguyễn Hữu Cầu, vừa thi hành chính sách đức trị, coi dân là gốc, thương quý dân như con nên vùng Nghệ An, Bố Chính dân an cư, lạc nghiệp, đời sống ấm no, an ninh, trật tự được giữ vững. Phạm Đình Trọng được nhân dân trong vùng kính trọng, quý mến.

Nhưng điều đó lại đẩy ông vào thảm họa. Do ghen ghét tài năng , đức độ của Phạm Đình Trọng và không thích những lời nói thẳng nói thật của ông, những kẻ bất tài, tiểu nhân, ghen ghét ông (đứng đầu là Đỗ Thế Giai) đã đem lời ghèm pha với chúa. Bọn này tâu với Trịnh Doanh rằng Phạm Đình Trọng gây thanh thế, uy đức lấn cả triều đình, âm mưu thoán nghịch. Chúa Trịnh mù quáng, lúc nào cũng nơm nớp lo mất quyền lực, mất quyền lợi liền ban rượu độc buộc ông phải tự tử. Trước đó nhiều bộ tướng từng khuyên ông chạy vào Nam với chúa Nguyễn, nhưng Phạm Đình Trọng không nghe, ông cả cười mà rằng, người quân tử không thờ hai Chúa. Sau đó ông vào thư phòng, quay mặt về phía Bắc, vái vọng vua Lê rồi uống rượu độc tự tử. Phạm Đình Trọng mất vào đêm trừ tịch năm Giáp Ngọ (1754) lúc mới 40 tuổi.

Âu đó cũng là bi kịch chung của những người tài thời xưa khi “thỏ hết thì chó săn bị giết”!

Ông mất, triều đình hối lỗi, vua Lê liền ban gấm vóc, tiền bạc và cho thuyền đưa linh cữu ông về quê, đồng thời cử nhiều quan, trong đó có quan thượng Nguyễn Nghiêm về Khinh Dao chọn đất an táng. Vua Lê ân hận viết mấy chữ viếng: “Dẹp loạn yên dân, giữ vững biên cảnh, yêu nước trung vua, danh tiết vẹn toàn”. Chúa Trịnh thì gửi ban câu đối: “Cái thế anh hùng kim cổ hiếm / Tài đức bền lâu cùng đất trời”. Người dân Quảng Bình, Nghệ An và làng Khinh Dao quê ông đều có đền, miếu thờ Phạm Đình Trọng tồn tại cho tới ngày nay.

Ở thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng quê hương Phạm Đình Trọng có đình Khinh Dao thờ Phạm Đình Trọng và 6 vị thần thời Hùng Vương làm thành hoàng là một trong hơn 100 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia của Thành phố. Đình là công trình tín ngưỡng mang đậm phong cách kiến trúc thế kỷ 18 với nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, được xếp hạng di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp quốc gia năm 2005. Tương truyền, khi chúa Trịnh dỡ cung thất cũ xây cung mới cho thiếp yêu chính Phạm Đình Trọng đã xin được mang các mảng kiến trúc, vật liệu bị tháo dỡ về quê hương Khinh Dao dựng lên ngôi đình làng.

Cùng với thời gian di tích này ngày càng xuốn cấp. Năm 2007, với tấm lòng tri ân tiền nhân, ngành Văn hóa-Thể thao-Du lịch Hải Phòng và nhân dân Khinh Dao được Nhà nước hỗ trợ hơn 11 tỷ đồng đã tiến hành trùng tu, tôn tạo khu di tích thờ phụng thành hoàng Phạm Đình Trọng và 6 vị thần thời Hùng Vương.

Giờ đây, đình Khinh Dao với phong cảnh đẹp, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc giá trị trở thành một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn khách tham quan.

Phạm Văn Thi

Nguyễn Sơn Hà - Một doanh nhân yêu nước

alt

NGUYỄN SƠN HÀ - MỘT DOANH NHÂN YÊU NƯỚC

Nguyễn Sơn Hà, quê gốc Sơn Tây, sinh ra ở Hà Nội (nên tên ông lưu luyến với hai địa danh ấy) và kinh doanh thành đạt trên đất Cảng Hải Phòng với Hãng sơn nổi tiếng Resistanco. Thưở nhỏ, Nguyễn Sơn Hà được học chữ nho và quốc ngữ, đến năm 15 tuổi thì mồ côi cha, ông phải gánh vác gia đình với 7 miệng ăn (Nguyễn Sơn Hà là anh cả trong gia đình). Mấy anh em ông đùm bọc nhau, vừa làm vừa học. Trước khi lập Hãng sơn riêng năm 1917, Nguyễn Sơn Hà từng làm thuê cho Hãng sơn Sauvage Cottu. Vốn có chí tự lập, ông nảy sinh ý định học nghề làm sơn dầu. Nhà chủ có một tủ sách quý về hoá học, về công nghệ sản xuất sơn, về nghề in...Những lúc chủ đi vắng, ông lục lọi tìm đọc những sách về nghề sơn. Để có trình độ tiếng Pháp khá hơn, ông mời thầy người Pháp về nhà dạy vào buổi tối. Vừa học kỹ thuật trong sách, ông vừa tranh thủ gần gũi anh em công nhân để hỏi han kinh nghiệm. Tuy chỉ làm thư ký cho hãng, nhưng mọi việc lớn nhỏ, từ kỹ thuật đến cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm...ông đều để tâm học hỏi. Cứ như vậy, với sự đắp đổi của thời gian, mỗi năm ông thêm một tuổi, thì vốn liếng và tri thức trong ông lớn dần lên cho tới khi ông quyết định tách khỏi ông chủ người Pháp mở xưởng sơn riêng của mình. Có lẽ, ông chủ người Pháp, không ngờ rằng cậu thanh niên bản xứ chăm chỉ công việc, siêng năng đọc sách này trở thành đối thủ cạnh tranh với mình trong tương lai.

Khi đã nắm được những bí quyết trong nghề làm sơn, kinh doanh sơn dầu, Nguyễn Sơn Hà xin thôi việc, bán chiếc xe đạp làm vốn, mở cửa hàng nhỏ nhận việc kẻ biển, quét vôi, sơn nhà cửa và bắt tay vào chế thử sơn dầu ở Hải Phòng. Lúc đầu, công cụ làm sơn chỉ có chiếc cối đá mua ở chợ về để nghiền bột, mấy anh em ông vừa là chủ, vừa là thợ chung lưng đấu cật quyết tâm lập nghiệp từ cái cửa hàng nhỏ nhoi ấy. Sau nhiều lần sản xuất thử bị thất bại, ông vẫn kiên trì vừa làm vừa rút kinh nghiệm và dồn tâm sức nghiên cứu cách dùng nguyên liệu trong nước như cây trẩu, cây thầu dầu, nhựa thông...Chẳng bao lâu những dòng sơn, xay từ cối đá được "đóng hộp" đem bán ra thị trường, với nhãn hiệu "Resistanco" (có nghĩa là bền chặt), giá thành hạ, chất lượng tốt, mau khô, bóng đẹp hơn sơn của Tây.

Buổi đầu ra nhập thị trường, ông cho anh em thợ cứ đi sơn thử cho khách hàng xem họ ưng ý mới lấy tiền. Hãng còn biếu hàng mẫu cho các cai thầu, dán quảng cáo khắp nơi. Dần dà người ta bảo nhau đến mua hàng ngày càng đông vì chất lượng tốt và giá cả lại hạ hơn sơn ngoại. Nguyễn Sơn Hà trực tiếp đến gặp chủ nhà hàng Gô-đa, cửa hàng lớn nhất lúc bấy giờ, đề nghị cho gửi 15kg sơn để bán thử. Tiền hàng chưa phải trả, lãi suất lại cao, chủ hãng buôn lớn liền nhận bán sơn cho Hãng Resistanco. Công việc làm ăn ngày một phát đạt. Nguyễn Sơn Hà đã mua được máy xay bằng sắt thay cho cối đá, nên chất lượng sơn ngày càng khá hơn. Ông mua được cửa hàng trên phố La-Côm, tức phố Hoàng Văn Thụ ngày nay. Lúc đầu, ông chỉ có khả năng dựng nhà tre vách đất cho thợ ở, khi khá giả, ông mua hẳn 41 căn hộ (mỗi căn hơn 120m2) ở ngõ Sơn Lâm bây giờ, để thưởng dần cho thợ thuyền.

Trong quá trình làm ăn, Nguyễn Sơn Hà luôn giữ gìn chữ tín với khách hàng, lắng nghe ý kiến của mọi người để xem xét, xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm. Một lần, Công sứ Quảng Yên phàn nàn phần sơn cửa 7 ngày vẫn chưa khô. Hay tin, ông trực tiếp sang nghiên cứu, nhờ có kỹ thuật và hiểu biết rộng, ông đã tìm ra nguyên nhân là do cửa làm bằng gỗ dầu, một loại gỗ có hàm lượng dầu cao, vì thế sơn lâu khô. Thế là uy tín của hãng vẫn giữ vững, tiếng lành lại bay xa. Lần khác, khách hàng Sài Gòn kêu "sơn Resistanco B lâu khô quá", Nguyễn Sơn Hà vội điện khẩn vào: "hoãn việc cung cấp loại sơn Resistanco B ra thị trường", rồi lập tức bay vào điều tra sự việc. Ông đã phát hiện nguyên nhân là do người thợ nấu phải mẻ sơn non, chưa đến độ đạt yêu cầu, nhưng sợ ảnh hưởng đến thời hạn giao hàng nên cứ cho đem pha chế thành sản phẩm để gửi đi, vì thấy đơn đặt hàng dồn dập gửi về. Lập tức mấy toa xe lửa sơn đang trên đường vào Sài Gòn được lệnh quay trở lại nhà máy ở Hải Phòng. Ai mua phải đợt sơn đó đều được hoàn lại tiền, kèm theo lời xin lỗi chân thành....

Thấy Nguyễn Sơn Hà làm ăn phát đạt, bọn thực dân và tư bản Pháp, tư bản Hoa kiều hùa với nhau mở chiến dịch đánh ngục ông. Lúc đầu chúng vu cáo ông là buôn lậu. Một lần có mẻ dầu không may bị bốc cháy, lấy cớ đó chúng ra lệnh cấm ông sản xuất, bắt ông dọn ra ngoại ô. Khi nhà máy mới được xây dựng xong, công việc làm ăn vừa vào nề nếp, viên Đốc lý Hải Phòng lại ra lệnh "đóng cửa ngay nhà máy, vì ô nhiễm môi trường" (địa điểm xây dựng nhà máy chính do viên Đốc lý này giới thiệu)...Nhờ có niềm tin sắt đá rằng ông đang kinh danh trên Tổ quốc mình, giàu tài nguyên, giàu vật liệu cho nghề sản xuất sơn, xung quanh đều là đồng bào mình, những người siêng năng, chịu thương chịu khó và khéo tay đã khiến Nguyễn Sơn Hà dấn thân. Ông lần lượt vượt qua mọi sự kiềm toả, o bế của chính quyền thực dân và các đối thủ cạnh tranh "chơi xấu" để tồn tại và phát triển.

Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trước hai đối thủ không cần sức: tư sản Pháp và tư sản Hoa kiều trên đất Cảng, cũng như doanh nhân Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà đã sử dụng thành công tinh thần dân tộc như một vũ khí tinh thần sắc bén để chiến thắng và vươn lên làm giàu cho gia đình, cho đất nước. Sau chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, Nguyễn Sơn Hà quyết định bỏ thêm vốn, mở rộng xưởng, tăng sản lượng sơn mà thị trường đang cần, đưa Resistanco trở thành Hãng sơn danh tiếng, cạnh tranh thắng lợi với các hãng sơn lâu đời của Pháp. Khi đã có tiếng về chất lượng sản phẩm, hãng sơn của Nguyễn Sơn Hà đã giành được phần lớn thị trường trên toàn cõi Đông Dương, bắt đầu thâm nhập sâu sang thị trường Thái Lan, Căm-phu-chia, Pháp...Mặt khác, Nguyễn Sơn Hà chủ động tìm nguồn nguyên liệu trong nước thay thế nguyên liệu nhập ngoại như: mua đồn điền 300 mẫu ở Đò Lèn (Thanh Hoá) để trồng chẩu lấy dầu; ký hợp đồng mua dầu thông dài hạn ở Quảng Yên; xin khai thác mỏ đá màu ở Đông Triều (Quảng Yên) và Thanh Hoá; khai thác mỏ sét xanh ở Sơn Tây, đất sét trắng, vàng, đỏ ở Hải Dương...Theo ông, sự chủ động về nguồn nguyên liệu trong nước không chỉ khơi dậy tiềm năng của Tổ quốc, đưa lại công ăn việc làm cho người dân, mà còn góp phần vượt lên trên sự kìm hãm và chèn ép của tư bản ngoại bang.

Làm kinh doanh, ông giàu có lên, nhưng không có những biểu hiện kiểu "làm giàu bằng mọi giá" thường gặp ở những doanh nhân vong bản. Ông làm giàu chính bằng lòng yêu nước, tài làm chủ kỹ nghệ, tính quảng giao và đạo đức kinh doanh của mình. Bên cạnh cái chí muốn vươn lên làm giàu cho gia đình, dòng tộc, Nguyễn Sơn Hà còn nhờ cái chí muốn lập đạo làm giàu có ích cho đất nước. Điều đó giải thích vì sao hăng say làm giàu, những Nguyễn Sơn Hà cũng không quên tham gia các hoạt động xã hội để gắn mình với quảng đại quần chúng đồng bào còn nghèo khổ của mình như: đứng đầu Hội Truyền bá quốc ngữ Hải Phòng; lập trường Dục Anh dạy dỗ trẻ mồ côi; chu cấp lương thực cứu đói người nghèo...

Sinh thời, nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng Phan Bội Châu đã viết tặng cụ Nguyễn Sơn Hà một đối câu đối: "Hoá học bác Âu trường, tô điểm sơn hà tâm hữu tất - Công khoa tôn Việt chủng, chuyển di thời thế thủ vi cơ". Nghĩa là: "Lấy hoá học của người Âu, tô điểm cho sơn hà bởi tấm lòng son sẵn có - Dùng công nghệ của đất Việt thay đổi thời thế làm nên bởi tự tay mình". Sau này, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhận xét chí lý rằng: "Con đường làm giàu từ một cậu bé mồ côi cha đi làm thuê để thành đạt, trở thành ông chủ một hãng sơn lớn đủ sức cạnh tranh với sơn ngoại, kể cả hàng của chính quốc, là con đường phấn đấu gian khổ trong thời mất nước. Chắc chắn rằng bên cạnh cái chí muốn vươn lên làm giàu cho gia đình, dòng tộc, cụ Nguyễn Sơn Hà thành đạt còn nhờ cái chí muốn lập đạo làm giàu có ích cho đất nước. Điều đó giải thích vì sao hăng say làm giàu, nhưng cụ Nguyễn Sơn Hà cũng không quên tham gia các hoạt động xã hội để gắn mình với quảng đại quần chúng, đồng bào còn nghèo khổ của mình...Và như một lẽ tự nhiên, sự giàu có về đời sống vật chất không hề ngăn cách cụ Nguyễn Sơn Hà đến với cách mạng, nhất là một cuộc cách mạng đã cởi ách nô lệ cho toàn dân tộc, một cuộc cách mạng do Bác Hồ lãnh đạo. Trước yêu cầu của đất nước, cụ Nguyễn Sơn Hà không chỉ đem của cải gia sản của mình hiến cho cách mạng, mà Cụ còn dâng hiến cả người con trai yêu quý của mình cho Tổ quốc; cụ tận tâm làm giàu cho sức mạnh của cuộc kháng chiến toàn quốc. Chỉ tiếc rằng cụ Nguyễn Sơn Hà không được sống đến ngày đất nước đổi mới để cái chí và cái tâm làm giàu có dịp thi thố hợp với lẽ "dân giàu nước mạnh...".

Phát biểu trong cuộc gặp mặt gia đình Nguyễn Sơn Hà nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cụ (16-8-1994), đồng chí Phạm Văn Đồng, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng nói: "Tôi vui lòng kể về một đôi kỷ niệm về một người bạn mà tôi luôn ghi nhớ trong lòng: Đó là nhà yêu nước, nhà doanh nghiệp Nguyễn Sơn Hà luôn có đầy nghị lực, năng động, sáng tạo. Tôi nghĩ Nguyễn Sơn Hà là một tấm gương sáng đối với các nhà doanh nghiệp cũng như đối với mọi người và nhất là đối với các nhà doanh nghiệp trẻ ngày nay về lòng yêu nước và ý chí kinh doanh...". Cũng nhân cuộc gặp mặt bà quả phụ Nguyễn Sơn Hà là Nguyễn Thị Ngọc Mùi cùng các con, cháu, chắt nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cụ Hà tại Hà Nội (13-9-1994), Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: "Tôi biết anh Nguyễn Sơn Hà từ trước Cách mạng Tháng Tám với hãng sơn Resistanco. Sau Cách mạng Tháng Tám, có ý kiến của Bác và anh Trường Chinh, tôi có mời một số các anh ở Hải Phòng lên gặp, anh Vũ Trọng Khánh và Nguyễn Sơn Hà. Biết anh Hà có kiến thức về kinh tế nên mời làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ, anh Vũ Trọng Khánh là Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Anh Vũ Trọng Khánh nhận lời. Anh Hà nói anh rất cảm ơn nhưng xin cho mấy ngày suy nghĩ. Mấy hôm sau anh trở lại và nói: "Tôi rất cảm ơn sự tín nhiệm của Bác Hồ và các anh, nhưng công việc lớn quá sợ khả năng có hạn chế nên xin được chỉ làm một số việc về kinh tế nước nhà". Tôi rất quý trọng sự trung thực của anh. Anh Sơn Hà là một người yêu nước. Có thể nói anh đã không từ bỏ bất cứ việc gì làm cho ích nước, lợi dân, phục vụ công cuộc kháng chiến. Như chế taoh vũ khí, chế vải dầu che mưa cho bộ đội tốt lắm, dầu lau súng...góp ý kiến cho những vấn đề kinh tế Chính phủ. Tôi nhớ, trong kháng chiến Quốc hội có tặng Đại đoàn Quân Tiên phong thanh kiếm "Mã đáo thành công". Quốc hội đã uỷ nhiệm cho anh Nguyễn Sơn Hà trao tặng cho Đại đoàn 308 (tức Quân Tiên phong)..."...

Tháng 9-1994, giới sử học Hải Phòng phối hợp với Hội KHLS Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học tưởng niệm tròn một trăm năm ngày sinh nhà doanh nghiệp yêu nước Nguyễn Sơn Hà. Ban Tổ chức hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến xác nhận về công lao, về những cống hiến to lớn của doanh nhân Nguyễn Sơn Hà và gia đình đối với cách mạng của các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư; Hoàng Quốc Việt, Nguyên chủ tịch MTTQ Việt Nam; Lê Quang Đạo, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Trung ương MTTQVN, Nguyên Bí thư Thành uỷ Hải Phòng; Hoàng Tùng, Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Nguyên Bí thư Hải Phòng, Nguyên Phó bí thư khu uỷ Liên khu III (1946-1948); Nguyễn Công Hoà, Nguyên bí thư Thành uỷ Hải Phòng (1936-1937), Nguyên Phó Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam...Mọi người đều thống nhất cho rằng tuy không phải là hoạt động cách mạng chuyên nghiệp hay một người anh hùng xuất chúng, nhưng trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Sơn Hà không thiếu những tư chất của người làm cách mạng, những hành vi thấm đẫm tính chất anh hùng.

TP

Dân miền biển sát cánh cùng Thánh Gióng diệt giặc Ân

Nhà sử học Ngô Đăng Lợi

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép sử nước ta từ họ Hồng Bàng, từ Kinh Dương Vương… cùng với thời Đề Nghi truyền đến thời Hùng Vương ngang với Noãn Vương nhà Chu thì hết. Cộng 2622 (2279-255 Trước Công Nguyên)… Vua đầu tiên nước ta là Kinh Dương Vương con Đế Minh, cháu đời thứ ba của Viêm Đế Thần Nông. Đế Minh khi đi tuần phương Nam lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Kinh Dương Vương. Đế Minh cho Đế Nghi trị vì phương Bắc, cho Kinh Dương trị vì phương Nam, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con trai, là tổ của Bách Việt. Từ ghi chép này người Việt coi nhau là đồng bào, thương yêu nhau như người một bọc. Kinh Dương Vương cho 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về biển. Khi hữu sự thì cùng giúp nhau. Người con trưởng được nối ngôi vua, gọi là Hùng Vương. Từ truyền thuyết này, người Việt tự hào là giống Tiên – Rồng cao quý. Truyền thuyết dân ta là anh em cùng chung một bọc, cùng là anh em không chỉ của tộc Kinh mà các tộc khác trên đất Việt đều có. Hùng Vương nên nối ngôi vua, lập nước Văn Lang, đóng đô ở Châu Phong (nay là huyện Lâm Thao, Phú Thọ). Cương vực nước Văn Lang, Bắc giáp hồ Đông Đình, Đông tới Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Nam giáp nước Hồ Tôn. Nước chia làm 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương (Thang)Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửa Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức.

Bộ Văn Lang là nơi đóng đô. Từ đây, nối đời đều là Hùng Vương, gồm 18 đời. Các học giả nước ta nay đã thống nhất, mỗi đời Hùng đều có nhiều vị.

Do hồi quốc sơ, dân ta chưa có chữ viết nên sử chép đứt quãng, không rõ từ đời các vua Hùng thứ 2 đến đời thứ 5 có những sự kiện lịch sử gì, chỉ thấy ghi mỗi việc vua sai vẽ mình hình thủy quái để chúng ngỡ là đồng loại không làm hại dân.

Rồi Hùng vương thứ 6 – Hùng Huy Vương sử chép Thánh Gióng lên 3 tuổi đánh tan giặc Ân hung bạo với ngựa sắt, nón sắt, gươm sắt, roi sắt. Khi giáo gươm gẫy, Ngài nhổ những bụi tre ngà đánh tiếp, khiếp toàn bộ bọn giặc dữ bị diệt. Giặc tan, Thánh Gióng trút bỏ áo giáp sắt, mũ sắt lại núi Vệ Linh tức núi Sóc (nay thuộc huyện Sóc Sơn – Hà Nội) bay về trời. Nhà vua được tin vô cùng thương tiếc ban phong là Phù Đổng Thiên Vương sai dân làng Phù Đổng tên Nôm là Gióng lập đền thờ. Ngài rất linh ứng, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an. Dân nhiều nơi cũng dựng đền thờ. Các đền miếu thờ Ngài đều được các triều đại phong kiến tự chủ ban tặng sắc phong.

Tác giả các bộ chính sử thời phong kiến tự chủ nước ta đều khẳng định thời Hùng đều có thực và tự hào về truyền thống kiên cường bất khuất, về nền văn hóa đặc sắc của dân tộc. Sách Việt sử lược có ghi việc Câu Tiễn (505-464 trước Công nguyên) có lần sai sứ giả xuống dụ vua Hùng thần phục, nhưng vua Hùng cự tuyệt.

Thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đông hơn, nhiều chuyên ngành nhất là ngành khảo cổ học và văn vật khảo cổ đã góp phần soi sáng nhiều vấn đề nhưng chưa giải quyết thỏa đáng chuyện cậu bé làng Gióng. Phải đến năm 1969, học giả Cao Huy Đỉnh (1927-1975) với công trình Người anh hùng làng Gióng bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp cả nguồn tư liệu thành văn và nguồn tư liệu phong phú sưu tầm thực địa với phương pháp liên ngành để chứng minh một cách thuyết phục rằng truyền thuyết nói chung và truyền thuyết ông Gióng nói riêng có một quá trình hình thành và phát triển từ thời kỳ bộ lạc đến thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến. Đó là quá trình tiếp thu biến cải những thần thoại, truyền thuyết, ca dao, lễ hội địa phương để hình thành một cốt truyện chung về người anh hùng dân tộc.

alt

Học tập, tiếp thu kết quả, phương pháp nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, chúng tôi sưu tầm giới thiệu những truyền thuyết di tích lễ hội về Thánh Gióng ở vùng Hải Phòng và phụ cận mà thời Hùng vương là bộ Dương Tuyền Lục Hải. Nơi đây, tổ tiên Hồng Lạc chúng ta là chủ nhân của văn hóa Phùng Nguyên – thời đại Đồng ở Việt Khê (tên Nôm là Vẹt) Tràng Kênh, núi Voi.

Sau đây là những di tích lịch sử văn hóa Hải Phòng và các vùng phụ cận thờ các bạn chiến đấu của Thánh Gióng.

1.Vũ Hồng – Vũ Thị Lê Hoa

Là anh em sinh đôi cuả một gia đình nông dân nghèo, nhưng có nề nếp. Ở làng Ráng (nay thuộc thôn Thanh Lãng, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng). Ngay từ nhỏ, cha mẹ đã lo dạy dỗ nên anh em đều giỏi võ nghệ, thạo cung tên. Vào thời Hùng Vương thứ 6 có giặc Ân vào xâm chiếm nước ta. Nhà vua sai sứ đi khắp nước chiêu mộ người hiền tài ra cứu dân giúp nước. Hai anh em xin phép, được bố mẹ bằng lòng, đầu quân vua phong Vũ Hồng là Chinh khấu Đại tướng quân, Vũ Thị Lê Hoa là Tiền bộ Tiên phong chỉ huy 36 đồn binh ở vùng Kinh Môn để cự địch và phòng giặc bể. Trong một lần kịch chiến, lực lượng địch áp đảo, cả hai anh em đều tử trận tại làng Yên Cường nay là thôn thuộc xã Hiệp Sơn huyện Kinh Môn. Nhân dân chôn cất hai vị ở cánh đồng làng và dựng miếu thờ. Theo thần phả, ở huyện Kinh Môn có 36 làng thờ. Các triều đại phong kiến nước ta đều phong tặng thần hiệu và mỹ tự. Miếu Bắc sau đổi là đình của làng Ráng thời hai anh em Vũ Hồng – Vũ Thị Lê Hoa đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1993.

2. Hùng Sơn

Người làng Nghĩa Lộ nay thuộc xã Nghĩa Lộ huyện đảo Cát Hải, nhà nghèo, cha mất sớm, hai mẹ con chăm chỉ làm ăn kiếm sống. Khi giặc Ân vào chiếm nước ta, hưởng ứng lời kêu gọi của Hùng Vương thứ 6, Hùng Sơn xin phép mẹ ra giúp nước, bà mẹ đơn thân lưu luyến tiễn con ra phò vua giúp nước, giặc tan sớm về với mẹ. Vốn có sức khỏe hơn người, quen nghề sông nước nên Hùng Sơn lập nhiều chiến công góp phần dẹp tan giặc Ân tàn bạo. Nhưng Hùng Sơn đã hi sinh anh hùng, thi thể người anh hùng đã trôi về quê mẹ với một cành cây lớn lá nhánh xum xuê che chở. Dân làng vô cùng thương tiếc, rước thi thể liệt sỹ lên chôn cất chu đáo và dựng ngôi miếu thờ cây che chở thi hài Hùng Sơn vẫn tươi tốt dân làng ngắt 3 nhánh, hai nhánh trồng ở miếu, một nhánh trồng ở vườn nhà mẹ liệt sỹ. Khi bà qua đời, dân dựng miếu thờ trên nền nhà cũ gọi là miếu Tổ Mẫu. Ba cây này dân gọi là cây Thơm được dân hết sức chăm sóc đến nay vẫn còn xanh tốt. Nhất là cây ở gò Cốt Múa, nơi thi thể Hùng Sơn dạt vào. Miếu đền đình Nghĩa Lộ đã được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận Di tích lịch sử văn hóa ngày 28/1/2011. Lẽ hội đền miếu Nghĩa Lộ được tổ chức hàng năm có nhiều trò vui dân gian, nhất là hội chèo bơi. Một đường trục lớn của huyện mang tên Hùng Sơn.

3. Bốn anh em Linh Lang Dưỡng Liệt, Linh Lang Diệu Phúc, Linh Lang Tập Khánh, Linh Lang Diệu Úy.

Thời Hùng vương thứ 6, ở làng Bích Động, huyện Vĩnh Lại nay thuộc xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo có gia đình ông Đăng Hoàng vợ là Trương thị tu nhân tích đức đã lâu nhưng hiếm muộn. Một hôm bà Trương ra sông tắm gặp một con Giao Long quân vào người xúc động mang thai sinh ra bốn con trai, đặt tên là Linh Lang Dưỡng Liệt, Linh Lang Diệu Phúc, Linh Lang Tập Khánh, Linh Lang Diệu Úy đều khôi ngô tuấn tú, giỏi lặn, bơi tài. Khi giặc Ân vào cướp phá nước ta, bốn ông tự nguyện hưởng ứng lời kêu gọi của Hùng Vương ra dẹp giặc. Cả bốn đều lập công lớn, giặc tan, bốn anh em xin vua cho về làng cũ làm ăn. Ngày 10/6, giữa lúc mưa to gió lớn bốn anh em đều hóa…………. Dân làng kính mồ lập miếu thờ ở làng Kim Bích và thôn Kim Làng, Hậu Am nay thuộc xã Liên Am. Lễ hội mở hàng năm kỷ niệm ngày sinh 10/8, ngày hóa 10/6. Có lễ dâng cá ở sông Bạch Đà, nơi bà Trương gặp giao long.

4. Đông Tỉnh Thần

Về thời Hùng Huy Vương ở khu Đông làng Trung Am huyện Vĩnh Lại châu Hồng, nay là thôn Đông làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng có vợ chồng ông bà Nguyễn Danh Thoa – Hoàng Thị Lưu, tuổi cao hiếm muộn đến cầu tự ở đền Ma Vương. Thiên đế sai thần Đông Tỉnh đầu thai. Ngày 12 tháng Giêng, bà Lưu sinh một người con trai khôi ngô khỏe mạnh lớn nhanh như thổi. Ngày ấy, ở vùng Quang Đạo, Tụ Long, Bảo Lạc nay thuộc tỉnh Tuyên Quang có giặc phương Bắc vào cướp phá, Đông Tỉnh xin mẹ cha cho đầu quân giết giặc. Khi đến ra mắt nhà vua, Hùng Huy Vương truyền: Đây không phải người thường, chắc là thần linh giáng xuống cứu đời giúp dân, bèn trao cho chức Đại tướng quân đem binh đi dẹp giặc. Ngài luyện quân lính thăm dò tung tích giặc rồi dẫn đại binh tập kích sào huyệt giặc ở Nhị Châu. Giặc thua to, Ngài an ủi gia đình bị hại, chăm sóc người già, em nhỏ, giúp dân trồng trọt, chăn nuôi. Nhà nhà đều kính yêu, mến phục. Rồi Ngài về triều báo công, vua Hùng khen thưởng, Ngài xin về khu Đông làng Trung Am để phục dưỡng cha mẹ. Ở dòng sông Vĩnh Chinh huyện Vĩnh Lại có nhiều ma quỷ quấy nhiễu nhân dân, ngài nói, ma đói, quỷ khát không có chỗ nương tựa, dân làng hãy lập miếu thờ để thu phục chúng. Do đó, dân trong làng được yên ổn. Cùng lúc, ở Kinh Bắc, bỗng có mưa to gió lớn, trong mưa có một cụ già râu tóc bạc phơ cười nói: phía Bắc có thần giáng sinh giúp dân cứu nước. Bỗng có người đàn bà sinh con trai, ba năm liền ăn cơm không biết no, dân làng lấy làm lạ, gom góp gạo để nuôi. Khi giặc Ân đem 10 vạn tinh binh xâm chiếm nước ta. Vua Hùng sai sứ đi khắp nơi cầu người hiền tài giúp nước. Sứ giả đến làng Gióng thì cậu bé 3 tuổi bỗng lớn nhanh như thổi xin vua ban ngựa sắt, nón sắt, gươm sắt để đi dẹp giặc. Vua lại sai Đông Tỉnh đem quân bản bộ cùng Thánh Gióng đi dẹp giặc. Giặc tan, Thánh Gióng bay về trời, Đông Tỉnh còn cha mẹ xin về khu Đông làng Trung Am. Về tới nhà mới biết tin cha mẹ qua đời, Ngài làm lễ tạ tổ tiên, cha mẹ, tế cáo trời đất, đêm ngày 24 rạng 25 tháng Chạp, ngài hóa. Hôm sau, dân làng thấy chỉ có bộ xác rắn ở trên bờ giếng, làm sớ tấu lên vua. Vua sai lập miếu thờ phong thần hiệu Đông Tỉnh Đại Vương. Các triều đại đều có sắc phong, qua loạn lạc nay chỉ còn sắc vua Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924). Miếu còn có bia: Đông Tỉnh từ thần bi ký tạng năm 1742.

Ngày 13/10/2014 Ủy Ban nhân dân thành phố có quyết định công nhận miếu là Di tích lịch sử văn hóa.

5. Phù Đổng Thiên Vương

Làng Cổ Phục ( tên nôm là làng Si) tổng Bất Nạo huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương thờ 1 thiên thần là Phù Đổng Thiên Vương. Thần tích gồm 12 trang, 11 trang chữ Hán chép về sự tích Thánh Gióng như thần tích làng Phù Đổng. Làng còn giữ được 5 sắc phong.

6. Hiển Công

Làng Bách Tính, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, xứ Sơn Nam Hạ nay là thôn thuộc xã Bách Thuận, huyện Thư Trì tỉnh Thái Bình thờ Hiển Công ( ông Hiển). Theo thần tích đã khai. Năm 1938, Hiển Công là con quan Trấn thủ châu Hoan. Đời Hùng Huy Vương theo Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân, lập nhiều công trạng. Sau khi giặc Ân bị đánh tan Hiển Công về làng Bách Tính dạy dân trồng dâu nuôi tằm. Sau khi qua đời, dân lập đền thờ, các triều đại đều ban tặng sắc phong: vua Lê Cảnh Hưng 2 đạo, vua Lê Chiêu Thống 1 đạo, vua Quang Trung 1 đạo, vua Cảnh Thịnh 1 đạo.

7. Tứ Công (bốn ông)

Làng Võ Lăng, tổng Thịnh Quang, huyện Trực Ninh, xứ Sơn Nam Hạ, nay là thôn thuộc xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình thờ bốn vị thần đời Hùng Huy Vương. Thần tích cho biết: Cao Sùng, người làng Chằm (tên nôm làng Mộ Trạch) huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, vợ là bà Trần Thị Loan. Ông Cao Sùng là bặc tài trí, đức độ, được vua Hùng Huy Vương cử làm quan Sơn Nam Bộ Thủ. Một ngày hè, bà Trần Thị Loan ra sông tắm bị giao long quấn quanh người rồi có thai sinh ra bốn người con trai. Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo nên đều thành tài, văn võ kiêm bị, trưởng thành đúng lúc nước nhà có nạn giặc Thạch Linh thần tướng (giặc Ân) bốn ông xin theo quân diệt giặc. Vua phong chàng Cả là vua Vàng Lân hầu Đại tướng quân. Chàng Hai và vua Vàng Long hầu Đại tướng quân, chàng Ba là vua Vàng Bạch Long Đại tướng quân, chàng Tư là Tá công Lục cung Uy Diệu Đại tướng quân đem quân cùng Thánh Gióng dẹp giặc. Giặc Ân bị tiêu diệt. Ít lâu sau, lại có giặc Ô Lý Thiết Lôi làm loạn, Tứ Công lại giúp vua ra trận dẹp yên nên được vua khen thưởng. Sau khi qua đời, dân Võ Lăng lập đề thờ, các triêu đại đề có sắc phong.

8. Đường Lô – Đá Công

Làng Xuân La, tổng Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, xứ Sơn Nam Hạ, nay là thôn thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thờ hai vị thành Hoàng làng là:

- Đường Lô Cao Sơn Đại vương

- Đa Công Thiên Đá Đại vương

Hai vị do có tài đức nên được Hùng Huy Vương sai dẹp giặc Ân, giặc tan, hai người về quê Xuân La giúp dân an cư lạc nghiệp. Khi qua đời dân nhớ ơn lập đền thờ, các triều đại đều có sắc phong.

Những di tích lịch sử văn hóa với nghi thức tôn thờ, lễ hội dân gian cùng những văn vật khảo cổ đac tìm thấy ở Eo Bùa, Cái Bèo huyện Cát Hải, Việt Khê, núi Tọi… huyện Thủy Nguyên, núi Voi huyện An Lão góp phần minh định truyền thuyết 50 con trai theo cha Lạc Long Quân cai quản gìn giữ miền bể của Tổ quốc, nguồn sống của dân tộc. Hình ảnh cậu bé làng Gióng cùng các chiến hữu biểu trưng cho truyền thống yêu nước, chí khí quật cường, bất khuất, thông minh sáng tạo của tô tiên ta. Giặc đến nhà trẻ già cũng đánh. Khi làm xong bổn phận, nghĩa vụ của dân con thì không đòi hỏi quyên hành, lợi lộc gì. Đây cũng là bài học vô cùng quý giá cần lưu truyền, phát dương để ngợi ca người tốt việc tốt, phê phán người xấu việc xấu. Chính vì vậy mà văn học dân gian, văn học thành văn của nước ta như: Việt điện u linh, Lĩnh Nam trích quái, Thiên Nam ngữ lục, Đại Nam quốc ngữ diễn ca đều ghi lại lòng kính yêu mến mộ cậu bé làng Gióng, toan dân ta đã tôn vinh đức Thánh Gióng là đệ nhất Tứ bất tử của nước ta.

N.Đ.L

Bùi Viện- người khai mở thương cảng Hải Phòng

alt

Trần Phương

Hải Phòng có mạch nguồn tự nhiên từ một vài làng chài ven sông, nhờ có tầm nhìn xa của Bùi Viện mà cảng Hải Phòng ra đời và nhanh chóng trở thành thương cảng lớn nhất nhì nước ta. Vào những năm cuối thế kỷ XIX, vâng mệnh triều đình nhà Nguyễn, Bùi Viện thực hiện chuyến đi khảo sát vùng ven biển Hải Dương và đề xuất xây dựng một Trung tâm buôn bán nằm ở ngã ba sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm. Phan Trần Chúc - tác giả cuốn sách “Bùi Viện với chính phủ Mỹ lịch sử ngoại triều Tự Đức” cho rằng: Cử nhân Bùi Viện là người đầu tiên mở mang cảng Ninh Hải (tức cảng Hải Phòng ngày nay) làm cửa ngõ cho cả xứ Bắc Kỳ thông thương với bên ngoài.

TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ ĐÔ THỊ CẢNG BIỂN HẢI PHÒNG

Bùi Viện sinh ra ở làng Trình Phố, nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Sự nghiệp của nhà canh tân Bùi Viện gắn với biển khơi với những hoài bão và hành động phi thường. Vào năm Tự Đức thứ 17 (1864), Bùi Viện cùng em trai là Bùi Chủng thi đậu tú tài và lận đận mãi ở nơi trường ốc đến năm Tự Đức thứ 21 (1868) ông mới đỗ cử nhân, em ông là Bùi Chủng đã đỗ trước một năm. Liền hai khóa thi hội 1868-1869 hai anh em ông đều không đậu. Bùi Chủng đoạn tuyệt khoa danh về quê phụng dưỡng mẹ già. Mãi đến khi Bùi Viện qua đời, Bùi Chủng mới ra làm quan tri phủ Thái Ninh. Bùi Viện ở Huế tiếp tục luyện rèn kinh sử. Chí hướng, sở đắc của Bùi Viện đã lọt vào “mắt xanh” của quan đại thần Lê Tuấn đang giữ chức Thượng thư bộ Hình trong triều đình Huế. Khi Lê Tuấn được cử ra Bắc Kỳ sung chức Khâm sai phối hợp với Hoàng Tá Viêm đánh giặc thì Lê Tuấn cho Bùi Viện theo như một gia nhân chứ chưa có tước vị chính thống gì. Sau mấy tháng giặc đã tam yên, cuối năm 1871 Lê Tuấn được triệu về Huế, Bùi Viện theo về cùng. Liền ngay đó, Bùi Viện được quan Doanh Điền sứ Doãn Khuê mời ra Bắc giúp việc dưới trướng ông. Công việc của Bùi Viện là giúp Doãn Khuê thiết lập doanh điền, chiêu mộ dân lưu tán về khai hoang lấn biển, trong đó có việc nạo vét mở rộng bến Ninh Hải. Doãn Khuê đã giao phó việc cho Bùi Viện tổ chức một cuộc thị sát bến Ninh Hải. Bùi Viện bèn cho lập hai đồn binh, lập nha Hải Phòng, trạm thuế quan ở ngã ba sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm. Những công việc này của Bùi Viện đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của đô thị và cảng biển Hải Phòng sau này.

Lịch sử đánh giá Bùi Viện như một “tổng công trình sư” của cảng biển Hải Phòng hiện nay. Sau khi đã lên kế hoạch, thiết kế bản vẽ, chọn vị trí... đích thân Bùi Viện đã chỉ huy các công đoạn xây dựng lẫn thi công công trình lớn lao nhất mà triều đình nhà Nguyễn đã giao phó. Cũng theo nhà sử học Lê Văn Lan, Chiêu thương Cục của Nhà nước phong kiến nhà Nguyễn được thành lập, làm nhiệm vụ chuyên trách việc buôn bán với nước ngoài là theo đề nghị của Bùi Viện. Ông cho mở một chi điểm ở Ninh Hải, chi điểm này về sau trở thành phố Chiêu Thương nổi tiếng, được các nhà buôn Tây phương khen ngợi là có tầm nhìn. Những năm tiếp theo, Chiêu Thương quán ở Ninh Hải đã thu hút một số đông các nhà buôn người Việt và người Hoa đến sinh cơ lập nghiệp, mở cửa hàng buôn bán. Một trong những mặt hàng buôn bán chủ yếu lúc này là thóc gạo, lâm - thổ - thủy - hải sản. Từ đó, bộ mặt phố xá ở khu vực ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm dần thay đổi. Đó là những cơ sở khởi thuỷ cho việc hình thành nên đô thị cảng biển Hải Phòng sầm uất.

GẶP TỔNG THỐNG HOA KỲ BÀN CHUYỆN LIÊN MINH, HỢP TÁC

Tình hình Việt Nam vào đầu những năm 80 của thế kỷ XIX đang cực kỳ bế tắc. Thực dân Pháp ngày càng lấn tới ép triều đình Huế phải lần lượt ký các hàng ước. Triều đình ngày một phân hóa, không chỉ còn là sự phân hóa giữa phái chủ hòa với phái chủ chiến mà còn lai sự phân hóa giữa những người muốn canh tân đất nước, trong đó có một bộ phận muốn dựa vào một nước ngoài không phải là Trung Quốc để liên minh nhằm làm giảm bớt áp lực của người Pháp. Biết Bùi Viện là người có chí lớn, giàu nghị lực, có khả năng vượt trùng dương, Thượng thư bộ Hộ Lê Tuấn đã tiến cử ông với vua Tự Đức để Bùi Viện đi tìm đối tác ngoại giao. Tự Đức chấp thuận và lạ lùng thay sứ thần Bùi Viện lên đường vẫn chắng có tước vị chính thống gì.

Từ cửa Thuận An, Bùi Viện dong buồm vượt biển lên phía Bắc. Sau mấy tháng một mình vượt biển khơi, Bùi Viện đặt chân lên Hương Cảng (Trung Quốc) và lân la kết giao được với một lãnh sự Hoa Kỳ tại Hương Cảng. Ông ta có mẹ là người Trung Quốc lại có vốn Hán học kha khá nên thuận lợi cho việc giao thiệp với Bùi Viện. Qua người bạn mới này, Bùi Viện mới biết về nước Mỹ và ông bày tỏ nguyện vọng muốn sang Mỹ để mưu cầu việc đánh Pháp. Vị lãnh sự này đã viết thư giới thiệu Bùi Viện đến gặp người bạn đang làm việc trong Phủ tổng thống Hoa Kỳ. Bùi Viện hăm hở xuống tàu qua Nhật Bản rồi từ đó đi Cựu Kim Sơn và đáp tàu đến Oa – sinh – tơn. Sau gần một năm rưỡi nơi đất khách quê người, không rõ Bùi Viện đã sống và hoạt động như thế nào để rồi đã tiếp kiến Tổng thống Grăng (Grant). Nghe Bùi Viện trinh bày về chủ trương cầu viện, tổng thống Grăng muốn nhân cơ hội này thế chân Pháp để cắm chân trên trên vùng biển châu Á, vốn nằm trong ý đồ chiến lược của Hoa Kỳ từ lâu mà chưa thực hiện được. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ tam cho biết vào năm 1831 phái đoàn Roberto đã trình thư của Quốc trưởng nước Nhã Di Lý – tức tổng thống Hoa Kỳ xin thông thương nhưng bị từ chối. Tưởng chừng như cuộc ngoại giao phi thường này của Bùi Viện đã thành nhưng khi hỏi ra thì ông không mang theo quốc thư nên không có cơ sở để ký kết. Bùi Viện không nản chí lại tìm đường xuống tàu trở về xin quốc thư rồi trở lại Hoa Kỳ lần thứ hai vào năm 1875 với hy vọng mọi việc sẽ thành công như ý nguyện của mình. Nào ngờ, sau khi tìm hiểu kỹ, người Mỹ thấy người Pháp đã củng cố được vị thế khá vững chắc ở Đông Nam Á nên Mỹ đã điều chỉnh chính sách ngoại giao, từ chối việc liên minh với Việt Nam kháng Pháp. Lại một lần nữa, Bùi Viện chán nản, lênh đênh vượt đại dương về nước.

Thuyền vừa cấp bến Hải Vân thì Bùi Viện nghe tin mẹ mất, ông tâu trình xin về quê chịu tang. Vua Tự Đức đã châu phê vào tờ đơn của ông: “Ta với người tuy chưa có ân nghĩa gì sâu mà đã có việc nước như việc nhà không quản xa xôi lo lắng, quỷ thần tất cũng biết cho vậy”. Chuyến công du của Bùi Viện không thành nhưng ý chí lớn lao và năng lực phi thường của ông đã được Tự Đức ghi nhận. Mặc cho trong triều đình có kẻ gièm pha nhưng sau ba tháng chịu tang mẹ, Bùi Viện đã được Tự Đức triệu vào Kinh bổ nhiệm chức Tham biện công chính. Chức quan tuy không lớn nhưng cũng là cơ hội để Bùi Viện thực hiện hoài bão chinh phục và khai thác biển khơi phụ vụ quốc kế dân sinh. Ông tâu trình với triều đình nhiều kế sách tiễu trừ giặc biển, thành lập Nha tuần hải, Tuần dương quân bảo vệ miền duyên hải và tàu buôn trên biển. Đại bản doanh của Tuần dương quân đặt tại Nam Định, còn các đồn quan phòng kiểm tra tàu thuyền qua lại được đặt ở nhiều điểm từ Ninh Hải (Hải Phòng) đến Quảng Nam – Đà Nẵng. Khi tổ chức Tuần dương quân, Bùi Viện đã đề xuất với thượng cấp cho ông sử dụng những tên cướp biển. Với mức lương cao lại hưởng nhiều bổng lộc nên những tên cướp biển được xung vào Tuần dương quân rất mực trung thành. Trong suốt thời gian Bùi Viện chỉ huy đội quân này, vùng biển gần như không có nạn cướp bóc. Tiền kho tải vào kinh thành Huế cũng không mảy may sơ sảy. Với cương vị là Chánh quản đốc Nha Tuần hải, Bùi Viện đã tự soạn thảo quy chế hoạt động, đặt chế độ thưởng phạt nghiêm minh. Công việc chinh phục biển khơi đang tiến triển thuận lợi thì Bùi Viện ốm nặng rồi đột ngột qua đời tại Huế vào ngày mồng 2 tháng 11 năm Mậu Dần (1878) khi tuổi đời chưa kịp bước sang tuổi 40.

Bùi Viện là người sớm hình thành những hiểu biết về biển và có ý chí vươn ra chiếm lĩnh và làm chủ biển khơi: Mở cảng Hải Phòng, sang Hương Cảng, vượt đại dương sang Mỹ, canh tân kinh tế, củng cố quốc phòng.. là cả một sự nghiệp đồ sộ, lớn lao. Tới đây, cùng với việc xây dựng cầu Hoàng Văn Thụ kết nối đô thị cũ Hải Phòng với đô thị mới Bắc sông Cấm, Hải Phòng sẽ mở con đường hiện đại ven sông Cấm. Con đường này xứng đáng được Bùi Viện - người công đầu khai mở cảng thị Hải Phòng.

TP

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay154
mod_vvisit_counterHôm qua125
mod_vvisit_counterTất cả48515
Hiện có 30 khách Trực tuyến