Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn – chính thất của Hoàng đế Mạc Đăng Dung

Tượng Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thờ trong đền thờ tộc Mạc ở Cổ Trai-Ngũ Đoan-Kiến Thụy.

          Hải Phòng là vùng đất nổi tiếng với rất nhiều người đẹp đăng quang tại các cuộc thi Hoa hậu. Nhân nói về sắc đẹp, cần nhắc tới một trong những địa danh nổi tiếng trong lịch sử là làng Trà Phương, xã Thụy Hương huyện Kiến Thụy với truyền thuyết về một hoàng hậu đẹp người, đẹp nết. Đó là Hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, chính thất của hoàng đế Mạc Đăng Dung – người lập ra vương triều Mạc.
          Truyền thoại về đôi trai tài, gái sắc này được truyền tụng qua câu phương ngữ “Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa” (đất Cổ Trai sinh vua, đất Trà Phương sinh người đẹp)
          Ở xã Thụy Hương, cách trung tâm huyện Kiến Thụy chỉ vài cây số có làng Trà Phương, một vùng đất cổ giàu giá trị văn hóa, lịch sử. Theo sử sách, tên gọi trước đây của làng là Trà Hương, thuộc huyện Nghi Dương (xứ Hải Dương). Năm 1813, triều đình nhà Nguyễn vì kiêng tên húy đã cho đổi tên làng thành Trà Phương. Làng có ngọn núi Trà Phương (còn gọi là núi Chè) phong cảnh hữu tình. Đứng trên núi Chè nhìn xuống, làng Trà Phương có hình một chiếc gương tròn, mảnh lược ngà và con dao nhỏ cùng một vạt bờ xôi ruộng mật hình dải yếm, còn gọi là dải yếm Bà Chúa. Dân gian đồn rằng, đó là nguyên khí của trời phú cho đất Trà Phương sản sinh thiên hương, quốc sắc. Do đó, con gái Trà Phương nổi tiếng xinh đẹp. Dẫn chứng rõ nhất là tên tuổi, nhan sắc và đức hạnh của Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vị hoàng hậu đầu triều Mạc, là con gái đất Trà Phương.
          Bà Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ là chính thất của vua Mạc Đăng Dung. Dòng họ Vũ của bà là một danh gia vọng tộc có nhiều người đỗ đạt hiển vinh ở Kiến Thụy, An Dương (gốc họ Vũ – Võ). Tên tuổi của Bà đã xuyên suốt cả 3 đời vua đầu khi nhà Mạc thịnh trị. Bà là người làng Trà Phương, huyện Nghi Dương, xứ Hải Dương, nay là thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng. Bà là người có lòng nhân ái, mộ đạo Phật. Nơi bà sinh ra chỉ cách đất Cổ Trai – quê của Thái Tổ Mạc Đăng Dung vài ba cây số.
          Sử sách không ghi chép năm sinh của bà nhưng do bà chỉ kém Mạc Thái Tổ mấy tuổi nên ước đoán Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn sinh khoảng cuối thể kỷ XV và mất ngày 15/6 âm lịch.
          Năm 1527 Mạc Đăng Dung lên ngôi hoàng đế, nhà Mạc đã mau chóng ổn định tình hình xã hội loạn lạc, thi hành hàng loạt chính sách khuyến nông, khuyến thương, khuyến công, phục hưng Phật giáo song hành phát triển cùng Nho giáo, Lão giáo… Kinh tế, văn hóa, giáo dục Thời mạc có nhiều khởi sắc (đó là điều các nhà nghiên cứu đã thừa nhận)…
          Vũ Thị Ngọc Toàn không chỉ giúp chồng lập công danh, được vua Lê phong chức Thái sư, làm quan đầu triều, tước Nhân Quốc Công, rồi gia phong đến tước An Hưng Vương, mà còn trợ giúp hai em ruột chồng là Mạc Đăng Đốc và Mạc Đăng Quyết được vua phong tước Từ Quận công, Tín Quận công. Con trưởng Mạc Đăng Doanh học hành thành đạt, được phong tước Dục Mỹ hầu, coi điện Kim Quang. Năm 1530 Mạc Đăng Doanh nối ngôi cha, ở ngôi 10 năm, xây dựng quốc gia thịnh trị, yên bình, được các sử gia ca ngợi là bậc vua hiền.
          20 năm về làm dâu họ Mạc, Hoàng Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn không chỉ giúp chồng và con đắc lực trong sự nghiệp hiển vinh mà còn có những đóng góp đáng kể vào các chính sách của nhà Mạc.
          Khi chồng làm quan tại triều, bà đã tranh thủ người đồng tộc, đồng hương là Vũ Hộ, quê làng Thù Du (nay thuộc xã Minh Tân huyện Kiến Thụy) – một tướng tài làm chức Đô đốc, Tổng trấn xứ Sơn Tây; Thượng thư bộ Lễ là Phạm Gia Mô, quê làng Lê Xá; Thái úy Nguyễn Như Kế quê làng Đại Trà (đều thuộc phủ Nghi Dương); Thầy Nguyễn Chương Mỹ, quê làng Thạch Lựu huyện An Lão – một thầy giáo tài đức, đông học trò…đồng tâm giúp chồng.
          Sau khi Thái tổ Mạc Đăng Dung qua đời, để giữ tiết hạnh, Thái Hoàng Thái Hậu vào quy ẩn trong chùa Trà Phương quê hương. Cũng từ đó, Bà dốc tâm, dốc của vào việc mở quán, xây cầu, lập chợ và hưng công trùnsg tu tôn tạo chùa chiền. Bia ký còn ghi lại, Đức Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ đã cung tiến 6.000 lá vàng, 30 mẫu ruộng, hàng vạn quan tiền cho việc tu sửa, xây dựng chùa, miếu cùng rất nhiều cột, kèo, gạch, ngói để trùng tu các ngôi cổ tự, suốt dọc một vùng xứ Đông từ Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương cho đến Bắc Ninh ngày nay.
          Bà là một nhân vật đặc biệt trong suốt 65 năm trị vì chính thức của nhà Mạc ở Thăng Long. Trong 65 năm ấy, 5 vua nhà Mạc đều chết trẻ, các thế hệ hoàng hậu, cung phi trong nội cung đều do bà trông nom, dạy dỗ, sắp đặt mọi việc đâu vào đấy, nên trong hậu cung không xảy ra những chuyện rối ren, bi kịch như nhiều triều đại khác. Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cai quản nội cung với tính nghiêm minh, chính trực, sáng suốt, lại nhân từ khiến cung nữ đều kính trọng, tin tưởng, mến phục. các hoàng tử, công chúa, hoàng thân quốc thích, tất cả đều ra sức phụng sự vương triều, hết lòng vì Hoàng đế. Thời con, cháu, chắt Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn làm vua việc cai quản nội cung bà đều giao để các hoàng hậu đảm đương theo phép nước.
          Những đóng góp của bà thông qua các việc làm cụ thể như khuyến khích việc tập hợp dân chúng khai hoang mở rộng diện tích cấy trồng; bỏ tiền mua và ban ruộng đất cho nông dân, tá điền; đứng ra quyên góp để xây mới, sửa chữa chùa chiền, cầu, quán, chợ…. Số tiền, số ruộng bà bỏ ra nhiều, nhưng quan trọng là đã vận động, lôi cuốn được các hoàng thân, quốc thích, đại thần, bá quan văn võ trong triều, những người giàu có trong xã hội tham gia, nêu cao thuyết “Vì dân” để tập hợp dân chúng ủng hộ vương triều.
          Sự đảm lược, lòng nhân đức, bao dung của bà chắc lớn lắm, nên sinh thời người ta đã gọi bà là Vua Bà,
          Bà còn là người có công xây dựng nên chùa (tên chữ là Thiên Phúc tự) và đền Hòa Liễu. Đền Hoà Liễu nay là nơi tôn thờ Bà – người đã lập ra ấp Lan Niểu (tiền thân của làng Hòa Liễu), làm việc thiện giúp dân, giúp đời và bỏ nhiều công, của chấn hưng chùa chiền. Theo dân chúng, chính bà là người đã lập ra lời thề chí công vô tư được đọc trong lễ hội Minh thệ mà âm Hán – Việt và lời dịch như sau: “Dĩ công vi công, nguyện chư thần ủng hộ, nhược hữu tham tâm, dĩ công vi tư tự nguyện chư thần đả tử” (Lấy của công vì việc công thì được thần linh ủng hộ, nhược bằng nếu có lòng tham lấy của công về làm của tư, nguyện cầu các vị thần linh đánh chết). Đây chính là tư tưởng chống tham nhũng mà hậu thế nay đang phải học tập.
          Ở Kiến Thụy quê hương, trong tín ngưỡng dân gian, Bà hẳn là một vị Thành hoàng bản thổ được nhân dân Hòa Liễu tôn thờ và sùng bái gọi là Thánh Mẫu.
          Ngày nay, nhiều hiện vật cổ liên quan đến Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn còn lưu giữ trong chùa Trà Phương (Thiên Phúc tự). Chùa Trà Phương được xây dựng từ thời nhà Lý, ban đầu mang tên là chùa Bà Đanh. Đến thời Mạc, thế kỷ 16, chùa trải qua một đợt trùng tu lớn. Truyền ngôn kể rằng, thuở hàn vi Mạc Đăng Dung trong một lần bị quân tướng của Đoàn Thượng truy sát, nhờ ẩn nấp trong chùa Bà Đanh mà thoát nạn. Khi dựng lên đế nghiệp, nhớ ơn cứu mạng che chở của chùa, vua Mạc Đăng Dung ban chiếu cho trùng tu, mở rộng chùa và đổi tên thành Thiên Phúc tự. Qua tư liệu ghi chép trên tấm bia đá “Tu tạo Bà Đanh tự” khắc vào năm Thuần Phúc sơ niên (1562)  đời vua Mạc Mậu Hợp cho biết, người đứng chủ hưng công lại chùa Bà Đanh là Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, người làng Trà Phương đã cùng 25 thân vương, công chúa, quận công nhà Mạc đóng góp công của xây dựng lại chùa tại vị trí hiện nay. Qua nhiều thế kỷ chiến tranh, loạn lạc, chùa được trùng tu lớn vào thời nhà Nguyễn và mang đậm phong cách triều đại này. Tuy nhiên, trong chùa hiện còn gìn giữ được nhiều di vật quý mang phong cách nghệ thuật thờì Mạc thế kỉ 16 như tượng vua Mạc Đăng Dung, tượng Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, đôi sấu đá, các bia ký…

Phù điêu Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn tại chùa Trà Phương huyện kiến Thụy – Bảo vật Quốc gia.
         

          Chùa Trà Phương được nhà nước công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2007, trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước từ nhiều năm nay. Đến đây, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng những di vật quý mang màu sắc nghệ thuật rất riêng, giàu sức sáng tạo của những nghệ nhân dân gian thế kỷ 16 mà còn biết thêm những giai thoại về ngôi làng từng có những nhan sắc nổi tiếng trong lịch sử. Sau này, những người con gái sinh ra, lớn lên từ ngôi làng này vẫn mang ít nhiều nét duyên dáng, sang trọng, kiêu sa của những bóng hồng thủa trước như câu ca dao: “Sen hồng ngào ngạt thơm hương/Không bằng con gái Trà Phương ghé nhìn” được truyền ngôn qua bao đời nay ở huyện Kiến Thụy.
          Công đức của Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn để lại tấm gương sáng chơ nữ lưu đời sau về đạo tu tâm tích đức, xây dựng gia đình, góp phần tề gia trị quốc. Với những đóng góp to lớn cho vương triều, xã tắc, bà được người đời tôn vinh, phụng thờ, tạc tượng tại nhiều đền, chùa trên khắp các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và nhất là quê hương bà.

P.V Thi biên soạn, bổ sung theo baohaiphong.com.vn ; hovuvietnam.com và tham luận Hội thảo KH về Lễ hội Minh thề tại đền Hòa Liễu (Kiến Thụy).

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *