Ca trù – loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc của người Việt.

Nghệ nhân Tô Phú Đẹ truyền dạy lối hát Bỏ bộ cho Giáo phường Ca trù Hải Phòng.

       Ca trù gọi nôm na là hát cô đầu/ hát nhà trò, đây là loại hình diễn xướng âm nhạc thính phòng từng rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15 và từng là loại ca trong cung đình được yêu thích.
       Có thể nói ca trù chính là sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc. Lời Ca Trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, giàu cảm xúc, trầm ngâm mà sâu lắng. Ca Trù có đủ các thể loại, từ trữ tình lãng mạn đến sử thi anh hùng, triết lý giáo huấn…
       Xuất hiện sơ khai vào đầu thế kỷ XI, bắt đầu thịnh hành trong nước từ thế kỷ XV nhưng đến nửa cuối thế kỷ XX, Ca trù mới được thế giới biết đến. Ca trù thu hút sự chú ý và dần dần được nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ nước ngoài nghên cứu, tìm hiểu và giới thiệu tại nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Ca trù có quá trình phát triển gắn liền với những thăng trầm biến cố của lịch sử, cho tới nay đã đạt đến trình độ thẩm mỹ cao, có sức ảnh hưởng quan trọng trong nền nghệ thuật Việt Nam. Sự hòa trộn giữa tính dân gian với tính hàn lâm trong nội dung và giai điệu của Ca trù đã tạo nên nét độc đáo riêng của loại hình ca nhạc này. Chính vì vậy, Ca trù khá kén người nghe và việc quảng bá, truyền dạy nghệ nhân kế tục cũng gặp nhiều khó khăn.
       Nghị quyết TW 5 (Khóa 8) của BCH TW Đảng (năm 1985) về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” cùng những chính sách bảo tồn, phát triển các loại hình văn hóa-văn nghệ dân gian của Nhà nước đã góp phần tạo nên sức sống, sự phục hồi cho nhiều môn nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
       Tại sao lại gọi là ca trù?
       Cho đến những năm 1980 thể loại này hay được gọi cái tên là hát ả đào (nghĩa đen là “hát xẩm cửa đình”), tuy nhiên sang thập niên 1990 thì hay gọi tên là hát ca trù. Từ  “Ca trù”  được cho là lấy từ chữ Nôm: 歌籌 nghĩa là lối hát bỏ thẻ tre, người nghe hát thấy đoạn nào hay thì thả thẻ tre cho đào hát để tính thành tích bằng tổng số thẻ đếm vào cuối canh hát, rồi theo đó mà trả tiền. Các ca nương được gọi là ả đào tuy nhiên chữ “ả” thưởng được hiểu là mại dâm, nên ca nương được gọi chệch thành cô đào, và dạng biến thể là cô đầu.
       Không gian trình diễn ca trù:
       Về đặc điểm nghệ thuật, Ca trù có 5 không gian trình diễn chính: hát cửa đình (hát thờ); hát cửa quyền (hát cung đình hay hát chúc hỗ); hát tại gia (hát nhà tơ); hát thi và hát ca quán (hát chơi). Mỗi không gian có một lối hát và cách thức trình diễn riêng. Ca trù xưa được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản và có quy định chặt chẽ về sự truyền nghề, cách học đàn, học hát, việc vào nghề, việc đi thi hát…
       Nhóm trình diễn ca trù xưa thường gọn nhẹ, diễn xướng trên sập, chiếu các ca quán, tư gia, đình, đền với người thưởng thức có tiền, các tao nhân, mặc khách. Ngày nay người thưởng thức ca trù với các thành phần xã hội đông đảo hơn và ca trù còn được trình diễn trên sân khấu, được quảng bá trên đài phát thanh, truyền hình.
       Thành phần tham dự ca trù:
       Thường có 3 thành phần chính:
       – Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) hát theo lối nói và gõ phách lấy nhịp.
       – Một nam nhạc công gọi là “kép” đệm đàn đáy cho người hát, loại đàn cổ có 3 sợi dây tơ và 10 phím đàn. Nhạc công đàn đáy có lúc hát thể cách hát sử và hát giai, vừa đàn vừa hát.
       – Một người điểm trống chầu thường gọi là “quan viên” – Người thưởng ngoạn  (thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ hài lòng, đắc ý bằng tiếng trống vừa là để khích lệ ca nương, kép đàn và cũng là giúp khán giả biết đoạn nào hay, thật hay (bằng cách gõ vào mặt trống hay tang trống phát ra âm thanh “tom”, “chát”.
       Khi biểu diễn thường các ca nương sẽ ngồi trên chiếu ở giữa, kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “tức tịch,” nghĩa là “ngay ở chiếu”. Kỹ thuật thanh nhạc của ca nương tương đối phức tạp trong cách nhả hơi, ém chữ và đòi hỏi phải được luyện tập tinh tế, công phu.
       Nhạc cụ ca trù:
       Những nhạc khí đặc trưng của ca trù là đàn đáy, phách và trống. Sau này còn có thêm chiêng, khánh (biểu diễn ở đền, phủ).
       Nghệ thuật trình diễn ca trù rất phong phú:
       Trong Ca trù có các thể cách chỉ các làn điệu hát, hình thức diễn xướng múa, nghi lễ, việc thi hát,…. Tư liệu Hán Nôm hiện đã ghi nhận được 99 thể cách có thể chia thành 3 nhóm:
       – Nhóm hát thuần túy gồm 66 làn điệu bao gồm 5 nhóm nhỏ: hát, đọc, nói, ngâm, thổng.
       – Nhóm kết hợp hát – múa – diễn gồm 19 thể cách
       – Nhóm nghi lễ và trình diễn nghề trong thi hát gồm 14 thể cách.
       Các điệu hát Ca trù:
       Ca trù có nhiều làn điệu, sử dụng thơ làm chất liệu âm nhạc mà ngâm, hát.
       Tác giả của các sáng tác thơ, phú này xưa kia thường sẽ là văn nhân, các thi sĩ hoặc quan viên có tính tình phóng khoáng và từng nổi danh với nhiều giai thoại như Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh….
       Có thể hát sử dụng các thể thơ thuần Việt như: lục bát (điệu bắc phản, chừ khi, cung bắc, nhịp ba cung bắc, đại thạch, hãm, hồng hạnh, non mai, thư phòng, mưỡu, ngâm vọng, thổng…), song thất lục bát, Đường luật trường thiên.
       Đặc biệt, thể hát nói (thơ 8 chữ) là thể thơ dành riêng cho Ca trù. Hát nói là một sáng tạo độc đáo của Ca trù Việt Nam. Thể hát nói với hình thức thơ chữ Nôm đã ra đời từ Ca trù, làm phong phú và tươi sáng cho dòng văn học Nôm, phản ánh đời sống tinh thần sinh động, đa chiều, tinh tế của người Việt qua hàng thế kỷ. Hát nói vừa là một điệu hát của Ca trù vừa là một thể loại văn học. Trong hát nói, các yếu tố khuôn khổ, câu kết thúc, cách tổ chức vần luật… được quy định rất chặt chẽ. Trong lối Hát ca trù có nhiều loại như: Dâng hương, Giáo trống, Gửi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.
       Cùng với thơ thì múa cũng là nhân tố quan trọng tạo nên nét đặc sắc, riêng biệt của nghệ thuật hát Ca trù. Các điệu múa được sử dụng trong ca trù như: múa Bài Bông (thường được biểu diễn trong hát cửa đình), múa Đại Thạch (thường được biểu diễn trong hát thờ và hát thi), múa Bỏ Bộ và múa Tứ Linh (chỉ có trong hát thờ)…
       Ngày nay, tác giả sáng tác thơ, lời ca trù đa dạng hơn, có thể là các thi sĩ, tao nhân, quan viên thưởng thức ca trù, kép đàn, ca nương và người hâm mộ. Nội dung và hình thức bài hát cũng được biến đổi cho phù hợp với không gian diễn xướng và thời đại. Ngoài việc duy trì và trau chuốt những điệu ca cổ, Ca trù còn được làm mới nội dung trong các bài ca ngợi quê hương, đất nước với ca từ hiện đại hơn. Những nét đặc sắc của Ca trù cũng được nhiều nhạc sĩ như Phó Đức Phương, Nguyễn Cường, Phú Quang đưa vào các sáng tác của mình, tạo ra âm hưởng đương đại rất độc đáo.
       Sau Cách mạng Tháng 8, ca trù bị xem là “trụy lạc” và sau 1954 bị cấm đoán (không chính thức) vì bị xem là liên quan đến tệ nạn xã hội. Chính quyền cũng gán cho bộ môn ca trù là “phong kiến, trưởng giả”
       Những năm 1980, môn ca trù mới được cho phép trình diễn cho công chúng nhưng trong khuôn khổ đề tài chính trị chứ không giữ được thể văn truyền thống.
       Trải qua nhiều tác động, Năm 2009, Chính phủ Việt Nam lập hồ sơ đề cử UNESCO công nhận ca trù là bộ môn nghệ thuật Di sản phi vật thể thế giới. Ca trù từ đó mới được đề cao để nghiên cứu, bảo tồn.
       Với những giá trị đặc sắc, tiêu biểu và đứng trước nguy cơ thất truyền, ngày 01 tháng 10 năm 2009, Ca trù được UNESCO xác định là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp.
       Nói về ca trù Hải Phòng. Thời Pháp thuộc, ca trù Hải Phòng khá phát triển với nhiều ca quán ở Cánh gà trong (quán Bà Mau), cánh gà ngoài (Dư Hàng Kênh), Hạ Lý, Thượng Lý, Kiến An và Đông Môn (Thủy Nguyên). Sau ngày giải phóng Hải Phòng (13/5/1955), các tụ điểm bị coi là ăn chơi này bị cấm, người hành nghề giải nghệ và môn nghệ thuật ca trù dần mai một. Từ những năm 90 của thế kỷ 20, những nghệ nhân ca trù, người hâm mộ môn này dần tập hợp lại, từng bước khôi phục nghệ thuật ca trù. Nghệ thuật Cô đầu ngày một khởi sắc. Đến nay, thành phố Hải Phòng trở thành một trong những địa phương phát triển mạnh môn nghệ thuật dân gian này và gặt hái nhiều thành tích trong các kỳ thi, liên hoan nghệ thuật ca trù khu vực và cả nước. Hiện Hải Phòng có 3 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực ca trù là: Giáo phường Ca trù Hải Phòng; Câu lạc bộ (CLB) Ca trù Đông Môn (xã Hòa Bình – Thủy Nguyên); CLB nghệ thuật Dân gian truyền thống (trực thuộc Trung tâm Văn hóa Thành phố). Trong đó, Giáo phường Ca trù Hải Phòng do nghệ sĩ ưu tú Đỗ Quyên làm Chủ nhiệm thường xuyên có những buổi biểu diễn miễn phí vào các buổi sáng thứ Bảy của tuần cuối cùng trong tháng tại nhà giải vũ đình Kênh (quận Lê Chân) để phục vụ du khách và người hâm mộ môn nghệ thuật này. Giáo phường và các CLB Ca trù Hải Phòng cũng rất quan tâm đến công tác quảng bá, truyền dạy ca trù, đặc biệt là dạy ca trù cho các cháu học sinh trong trường phổ thông của thành phố.

CLB Ca trù Đông Môn truyền nghề cho học sinh thôn Đông Môn (Hòa Bình-Thủy Nguyên)

P.V Thi, Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng.

Bài viết khác

Tác giả: Hải Phòng Học

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.